Đánh Giá Kết Quả Công Tác Bồi Thường, Hỗ Trợ, Tái Định Cư Của Một Số Dự Án Khi Nhà Nước Thu Hồi Đất Trên Địa Bàn Thị Xã Phúc Yên, Tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 35

i

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2013


ii
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐỖ THỊ THU PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CÔNG TÁC
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ
CỦA MỘT SỐ DỰ ÁN KHI NHÀ NƯỚC THU
HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ PHÚC YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.85.01.03

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo
khoa Tài nguyên & Môi trường, phòng quản lý đào tạo sau Đại học trường Đại học
Nông lâm Thái Nguyên cùng toàn thể bạn bè lớp Quản lý đất đai K19 đã giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của lãnh đạo, cán bộ: Sở
Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Vĩnh Phúc;
UBND thị xã Phúc Yên; Các phòng: phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống
kê, Ban giải phóng mặt bằng của thị xã Phúc Yên; UBND phường Xuân Hoà, xã Ngọc
Thanh; Chủ đầu tư thực hiện dự án; Các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi cho dự
án đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài trên
địa bàn.
Tôi xin cảm ơn tới gia đình, những người thân, cán bộ, đồng nghiệp và bạn bè
đã tạo điều kiện về mọi mặt giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn

Đỗ Thị Thu Phương


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ii
MỤC LỤC ..................................................................................................................iii
DANH MỤC BẢNG ..................................................................................................vi
DANH MỤC CÁC HÌNH .........................................................................................vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2. Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu .................................................................................3
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......................................... 4

3.2.1. Hiện trạng sử dụng đất ......................................................................................38
3.2.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai [21] ........................................................39
3.3. Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất của 2 dự án nghiên cứu .............................................................................42
3.3.1. Khái quát chung về 2 dự án nghiên cứu............................................................42
3.3.2. Đánh giá quy trình giải phóng mặt bằng tại 2 dự án.........................................45
3.3.3. Xác định đối tượng và điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.............48
3.3.4. Đánh giá việc thực hiện các chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án ...............................................................................55
3.3.5. Giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến thực hiện 2
dự án ............................................................................................................................63
3.4. Kết quả điều tra, phỏng vấn chi tiết các hộ dân về tình hình thu hồi đất, bồi
thường và hỗ trợ tại 2 dự án ........................................................................................65
3.4.1. Tình hình sử dụng quỹ đất nông nghiệp trước và sau khi thu hồi đất của 2
dự án và số tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân.....................................................65
3.4.2. Phương thức sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân...........................66
3.4.3. Tình hình thu nhập của các hộ dân sau khi thu hồi đất .....................................67
3.4.4. Tài sản sở hữu của các hộ trước và sau khi thu hồi đất của các hộ dân được
phỏng vấn, điều tra ......................................................................................................69
3.4.5. Đánh giá về tình hình tiếp cận cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội của các hộ dân sau
khi bị thu hồi đất..........................................................................................................70
3.4.6. Đánh giá về cảnh quan và môi trường tại 2 dự án thực hiện ............................71


v
3.5. Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư của 2 dự án nghiên cứu nói riêng và trên địa bàn thị xã Phúc Yên
nói chung .....................................................................................................................72
3.5.1. Những thuận lợi, khó khăn tại 2 dự án nghiên cứu...........................................72
3.5.2. Đề xuất một số giải pháp trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi

Hình 3.1: Bản đồ hành chính thị xã Phúc Yên..............................................................30
Hình 3.2: Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng..........................45


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng nhất của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các công trình kinh tế văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng, là nơi duy trì
sự sống của con người, mọi sinh vật và sự tồn tại của mỗi dân tộc. Đất đai có những
đặc điểm riêng khác biệt với những tư liệu sản xuất khác, nó giới hạn về số lượng,
vị trí cố định trong không gian và một đặc trưng cơ bản khác nữa là nó gắn liền với
tình cảm, lối sống và phong tục tập quán của con người. Từ những đặc điểm đó mà
ngày nay đất đai trở nên có giá trị và dần dần trở thành một loại hàng hoá đặc biệt;
là nguồn vốn, nguồn nội lực để thu hút đầu tư phát triển.
Những năm gần đây quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá diễn ra hết sức
mạnh mẽ đặc biệt là ở các khu đô thị có vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi,
theo đó đất đai và các cơ sở hạ tầng phục vụ cho “cơn lốc” công nghiệp hoá, đô thị
hoá ngày càng trở nên quan trọng và không thể thiếu được. Để đưa đất đai thực sự
trở thành nguồn vốn, nguồn thu hút các đầu tư phát triển thì việc thu hồi đất, chuyển
mục đích sử dụng đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị tập trung, khu
du lịch sinh thái nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát triển kinh tế là cần thiết.
Thị xã Phúc Yên là trung tâm kinh tế công nghiệp-du lịch-dịch vụ quan trọng
của tỉnh Vĩnh Phúc và là một đầu mối giao thông của vùng phía Bắc và quốc gia:
gần sân bay quốc tế Nội Bài, có đường cao tốc Nội Bài-Lào Cai chạy qua, là thị
trường rộng lớn để giao lưu hàng hoá. Trong xu thế phát triển hiện nay, vị trí của thị
xã Phúc Yên có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập. Với
vị trí thuận lợi như trên đã tạo cho thị xã Phúc Yên những điều kiện lý tưởng để thu

cá nhân có đất bị thu hồi trong quá trình triển khai các dự án thực tế đang đặt ra
nhiều vấn đề phải nghiên cứu ở các địa phương khác nhau, chuyên sâu về các khía
cạnh khác nhau của vấn đề, trên cơ sở đó đánh giá đúng, đủ, khách quan thực trạng
công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, nắm rõ bản chất của các vấn đề bất cập. Từ
đó có thể đưa ra các giải pháp đúng và toàn diện, đáp ứng được yêu cầu đặt ra.
Chính vì tầm quan trọng của vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và cũng là một vấn đề có tính “thời sự”. Vì vậy, việc thực hiện đề
tài: “Đánh giá kết quả công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của một số dự án
khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” là cần


3

thiết trong thời điểm hiện nay.
2. Mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu
*/. Mục tiêu tổng quát
Đánh giá được những thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra được những giải
pháp, góp phần thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất của các dự án khác trên địa bàn thi xã Phúc Yên đúng pháp luật, nhanh
chóng và hiệu quả nhất.
*/. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá kết quả việc tổ chức thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường Xuân
Hoà, dự án hồ chứa nước Lập Đinh.
- Đánh giá được các tác động của việc thu hồi đất đến người dân có đất bị thu
hồi để thực hiện các dự án.
- Thấy được ý kiến của người dân về chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư và những kiến nghị của họ khi Nhà nước thu hồi đất.
- Chỉ ra được những khó khăn, tồn tại trong công tác bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư tại 2 dự án: Dự án khu đô thị mới phường Xuân Hoà, dự án hồ chứa nước

từng dự án cụ thể.
- Tính phức tạp: Đất đai là tài sản có giá trị cao, có vai trò quan trọng trong
đời sống kinh tế, xã hội đối với mọi người dân. Đối với khu vực nông thôn, dân cư
chủ yếu sống nhờ vào hoạt động sản xuất nông nghiệp mà đất đai lại là tư liệu sản
xuất quan trọng trong khi trình độ sản xuất của nông dân thấp, khả năng chuyển đổi
nghề nghiệp khó khăn do đó tâm lý dân cư vùng này là giữ đất để sản xuất, thậm chí
họ cho thuê đất còn được lợi nhuận cao hơn là sản xuất nhưng họ vẫn không cho
thuê. Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên vùng đó cũng đa dạng dẫn đến công tác
tuyên truyền, vận động dân cư tham gia di chuyển, định giá bồi thường rất khó khăn
và việc hỗ trợ chuyển nghề nghiệp là điều cần thiết để đảm bảo đời sống dân cư sau
này [8].


5

1.1.2. Cơ sở thực tiễn
Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của
nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi
các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù
hợp với tình hình thực tế.
Ở nước ta, sau khi ban hành Luật Đất đai 1987, 1993, Chính phủ đã hai lần
trình Quốc hội Luật sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai năm 1998, năm
2001 và ban hành Luật đất đai 2003 nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
đất nước. Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu
cầu thực tế trong quá trình triển khai. Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời
gian qua công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã đạt được những kết quả đáng
khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng sạch để giao đất cho các dự án
đầu tư. Tuy nhiên bên cạnh đó, do tính chưa ổn định, chưa thống nhất của pháp luật
đất đai qua các thời kỳ cho nên công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước

bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nào đều dựa trên một quy
hoạch và kế hoạch sử dụng đất nhằm đạt được các yêu cầu như là phương án có
hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất. Quy hoạch sử dụng đất không chỉ là công cụ “tạo
cung” cho thị trường mà còn là phương tiện quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu
chính trị - xã hội hóa về công bằng, dân chủ, văn minh trong bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất và cũng là công việc mà hoạt động quản lý Nhà
nước có ảnh hưởng nhiều nhất, hiệu quả nhất, đúng chức năng nhất.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có tác động tới chính sách bồi thường đất
đai trên hai khía cạnh:
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ quan trọng nhất
để thực hiện việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, mà theo quy
định của Luật Đất đai, việc giao đất, cho thuê đất chỉ được thực hiện khi có quyết
định thu hồi đất đó của người đang sử dụng;
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới
giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất; từ đó tác động tới giá đất tính bồi thường.
Tuy nhiên chất lượng phương án quy hoạch và công tác thực hiện quy hoạch
còn thấp, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý, tính khả thi thấp đặc biệt là thiếu tính bền


7

vững. Phương án quy hoạch cho tương lai, dự báo chưa sát tình hình thực tế tại từng
địa phương, quy hoạch còn mang nặng tính chủ quan, áp đặt, nhiều trường hợp quy
hoạch theo phong trào, theo nhiệm kỳ của người lãnh đạo. Đây chính là nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng quy hoạch "treo", dự án "treo".
+ Yếu tố giao đất, cho thuê đất
Nhiệm vụ giao đất, cho thuê đất có tác động rất lớn đến công tác bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nguyên tắc giao đất, cho thuê
đất phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đây là điều kiện bắt buộc
nhưng nhiều địa phương chưa thực hiện tốt nguyên tắc này; hạn mức đất được giao

dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với những mảnh đất (lô đất) cụ
thể, làm căn cứ cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất và giải quyết
các tranh chấp liên quan tới quyền sử dụng đất. Trong công tác giải phóng mặt
bằng, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư theo từng loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Hiện
nay, công tác đăng ký đất đai ở nước ta vẫn còn yếu kém, đặc biệt là đăng ký biến
động về sử dụng đất; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn chưa hoàn tất
theo Chỉ thị 1474/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chính vì vậy mà công tác giải
phóng mặt bằng đã gặp rất nhiều khó khăn. Làm tốt công tác đăng ký đất đai, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất sẽ thuận lợi, tiến độ giải phóng mặt bằng nhanh hơn.
+ Yếu tố thanh tra chấp hành các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng
đất đai
Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là một
việc làm phức tạp, gắn nhiều đến quyền lợi về tài chính nên rất dễ có những hành vi
vi phạm pháp luật nhằm thu lợi bất chính, chính quyền địa phương cấp trên. Hội
đồng thẩm định phải có kế hoạch thanh tra, kiểm tra và coi đây là nhiệm vụ thường
xuyên trong quá trình triển khai thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất, kịp thời phát hiện các sai phạm, vi phạm pháp luật để xử
lý tạo niềm tin trong nhân dân.
+ Yếu tố giá đất và định giá đất
Một trong những vấn đề đang gây ách tắc cho công tác giải phóng mặt bằng
hiện nay đó là giá bồi thường cho người có đất bị thu hồi.


9

Giá đất là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy định
hoặc được hình thành trong giao dịch về quyền sử dụng đất. Theo quy định của
pháp luật đất đai hiện hành năm 2003 thì giá đất được hình thành trong các trường

17.480 đơn tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai thì có tới 12.348 trường hợp là
khiếu nại về bồi thường, giải phóng mặt bằng (chiếm 70,64%). Trong các trường
hợp khiếu nại về bồi thường giải phóng mặt bằng thì có tới 70% là khiếu nại về giá
đất nông nghiệp, giá đất ở bồi thường quá thấp so với giá đất chuyển nhượng thực tế
trên thị trường hoặc giá đất ở được giao tại nơi tái định cư lại quá cao so với giá đất
ở đã được bồi thường tại nơi bị thu hồi [1].
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường giải phóng mặt bằng không
được làm tốt sẽ làm cho công tác giải phóng mặt bằng ách tắc, dẫn tới không có mặt
bằng đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc làm lỡ cơ hội đầu tư.
+ Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản tác động vào công tác bồi thường, giải phóng mặt
bằng trên một số nội dung chủ yếu sau:
- Thị trường bất động sản là nơi giải quyết quan hệ về cung - cầu bất động
sản trong một thời gian và không gian nhất định. Việc hình thành và phát triển thị
trường bất động sản góp phần giảm thiểu việc thu hồi đất để thực hiện các dự án
đầu tư (do người đầu tư có thể đáp ứng nhu cầu về đất đai thông qua các giao dịch
trên thị trường); đồng thời, người bị thu hồi đất có thể tự mua hoặc thuê đất đai, nhà
cửa mà không nhất thiết phải thông qua Nhà nước thực hiện chính sách bồi thường
và tái định cư.
- Giá cả của bất động sản được hình thành trên thị trường và nó sẽ tác động
tới giá đất tính bồi thường.
1.1.3. Cơ sở pháp lý
Luật Đất đai 1993 được ban hành, thay thế cho Luật Đất đai năm 1988 và thể
chế hoá các quy định của Hiếp pháp năm 1992 về đất đai thông qua việc giao đất,
cho thuê đất, chế độ quản lý, sử dụng các loại đất, quản lý việc sử dụng đất đúng
mục đích, xác định thời hạn giao đất, cho thuê đất, thẩm quyền thu hồi và giao, cho
thuê đất; hạn mức sử dụng các loại đất và quy định các quyền, nghĩa vụ của tổ
chức, cá nhân. Tại điều 12 quy định: "Nhà nước xác định giá các loại đất để tính
thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất,


định tại Nghị định này thì trước khi ký Điều ước quốc tế, cơ quan chủ quản dự án
đầu tư phát triển báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.


13

Trong trường hợp Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập có
quy định khác với quy định tại Nghị định này thì áp dụng theo quy định tại Điều
ước quốc tế đó.
Các trường hợp không thuộc phạm vi áp dụng Nghị định này: Cộng đồng
dân cư xây dựng, chỉnh trang các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng
bằng nguồn vốn do nhân dân đóng góp hoặc Nhà nước hỗ trợ.
Như vậy nếu như các Nghị định trước đây chủ yếu quan tâm đến việc bồi
thường đất bị thu hồi và tài sản đất đó thì Nghị định 197/2004/NĐ-CP đã có thêm
một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về lập khu tái định cư
cho các hộ phải di chuyển.
Về tổ chức thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP quy định trách nhiệm
của Chủ tịch UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phê duyệt phương
án bồi thường, chỉ đạo thành lập Hội đồng giải phóng mặt bằng cấp huyện trong
việc lập phương án bồi thường thiệt hại, xác định bồi thường, trợ cấp cho từng tổ
chức, hộ gia đình, cá nhân và tổ chức bồi thường theo phương án được duyệt.
Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP. Thông tư này hướng dẫn cụ thể và có
thêm một số nội dung về bồi thường đất, bồi thường tài sản; chính sách hỗ trợ, tái
định cư và tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất đối với các trường hợp quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP [2]
- Hướng dẫn cách xác định cho phí đầu tư vào đất còn lại được quy định tại
khoản 3 Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP.
- Phân loại cụ thể đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân bị Nhà nước
thu hồi đất. Việc phân loại cụ thể này để xác định mức bồi thường, hỗ trợ hợp lý, sát

cư, đất vườn, đất ao xen kẽ với đất ở trong khu dân cư; hướng dẫn kinh phí chuẩn bị
hồ sơ địa chính cho khu đất bị thu hồi bao gồm kinh phí do Nhà đầu tư trả sẽ được
quyết toán vào nguồn vốn đầu tư của dự án, kinh phí do Nhà nước trả sẽ được quyết
toán vào nguồn kinh phí hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc cơ quan Tài
nguyên và Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất [5].
Nghị định 84/2007/NĐ-CP tập trung vào việc làm rõ, bổ sung Nghị định
197/2004/NĐ-CP. Tuy nghiên, để tiếp tục tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc
trong công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, ngày 13/8/2009 Chính phủ đã ban


15

hành Nghị định số 69/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất,
thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày
01/10/2009 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự, thủ tục
thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất.
Nguyên tắc xuyên suốt của Nghị định số 69/2009/ NĐ-CP là đảm bảo quyền
và lợi ích của người sử dụng đất, thực hiện hài hoà 3 lợi ích: Người sử dụng đất, nhà
đầu tư và quyền của Nhà nước theo quy định của pháp luật [11].
1.2. Một số khái niệm liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
*/. Thu hồi đất
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức; Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn
quản lý theo quy định của Luật [15].
*/. Bồi thường
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra. Đền bù là trả lại tương xứng
với giá trị hoặc công lao động.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [15].
Như vậy, "Bồi thường" có nghĩa là trả lại tương xứng với giá trị hoặc công

Hiện nay ở nước ta, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì
người sử dụng đất được bố trí tái định cư bằng một trong các hình thức sau:
- Bồi thường bằng nhà ở.
- Bồi thường bằng giao đất ở mới.
- Bồi thường bằng tiền để người dân tự lo chỗ ở.
Tái định cư là một bộ phận không thể tách rời và giữ vị trí rất quan trọng
trong chính sách giải phóng mặt bằng. Các dự án tái định cư cũng được coi là các
dự án phát triển và phải được thực hiện như các dự án phát triển khác.
1.3. Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới và
ở Việt Nam
1.3.1. Các nghiên cứu và kết quả về thu hồi đất của một số nước trên thế giới
1.3.1.1. Nhật Bản
Về thu hồi đất: Luật Trưng thu đất đai của Nhật Bản ban hành năm 1951
quy định việc trưng dụng đất có bồi thường để xây dựng công trình hạ tầng trọng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status