Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật
MỤC LỤC
Mục
Nội dung
Trang
A
Phần I: Mở đầu
02
I
Lý do chọn đề tài
02
1
Cơ sở lí luận
02
2
Cơ sở thực tiễn
05
1
Thế nào là đoạn văn, bài văn miêu tả con vật?
2
Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn,
bài văn hay.
08
2.1
Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong
SGK Tiếng Việt 4.
08
2.2
Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học tôi
09
công tác khi làm văn miêu tả con vật.
3
Các bước thực hiện luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn
12
miêu tả con vật.
07
Nhóm bài tập cung cấp kiến thức mới
14
1.2
Nhóm bài lập dàn ý
15
1.3
Nhóm bài tập viết đoạn văn
16
1.4
Nhóm bài tập viết bài văn
18
II
Tổ chức thực nghiệm
19
C
3
Đối với Ban giám hiệu nhà trường
22
D
Phần IV: Kết luận chung
23
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
SGV
Sách giáo viên
NXB
Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đó là: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và
năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Để thực hiện được mục tiêu trên thì chất lượng dạy học trong mỗi nhà trường Tiểu
học là vấn đề quan tâm của toàn xã hội. Chất lượng dạy học ấy phải được thể hiện
bằng chất lượng toàn diện của các môn học: Toán, Tiếng Việt, Tự nhiên-xã hội, Nghệ
thuật, trong đó môn Tiếng Việt là một môn học đặc biệt gồm nhiều phân môn, ở mỗi
phân môn cụ thể lại có nội dung, phương pháp, cách thức dạy học khác nhau nhưng lại
gắn bó mật thiết với nhau: Phân môn này chuẩn bị hỗ trợ cho phân môn kia và ngược
lại để cùng nhằm đạt được mục tiêu của môn Tiếng Việt ở Tiểu học đó là:
“Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng tiếng Việt: Nghe, nói, đọc,
viết, để học tập và giao tiếp trong các môi trường họat động của lứa tuổi.
Thông qua việc dạy và học tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư duy hay
cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng Việt và những hiểu biết sơ
giản về xã hội, tự nhiên, con người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
Bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng,
giàu đẹp của Tiếng Việt góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa”.
Học tốt tiếng Việt sẽ giúp học sinh khám phá tìm hiểu về thế giới xung quanh một
cách sâu sắc hơn, đặc biệt là phân môn Tập làm văn.
Xuất phát từ vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn: Phân môn Tập làm văn có vị
trí đặc biệt trong quá trình dạy học tiếng mẹ đẻ bởi vì đây là phân môn sử dụng và
hoàn thiện một cách tổng hợp các kiến thức và kỹ năng tiếng Việt mà các phân môn
Tiếng Việt khác nhau Học vần, Tập viết, Chính tả, Tập đọc, Luyện từ và câu đã hình
thành. Phân môn Tập làm văn rèn cho học sinh kỹ năng sản sinh ngôn bản, nhờ đó
tiếng Việt không chỉ được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở
thành một công cụ tổng hợp để giao tiếp. Phân môn Tập làm văn dạy học sinh sử dụng
thuộc nhiều vào sách tham khảo… có tư tưởng ngại học, ỷ lại nên cách cảm nhận, cách
nghĩ của các em không phong phú mà thường đi theo lối mòn, khuôn mẫu, tẻ nhạt.
Xuất phát từ thực tế học sinh lớp Bốn, tuy các em đã được làm quen và thực hành các
bài Tập làm văn từ lớp Hai và lớp Ba nhưng các em vẫn viết văn theo kiểu “từ ngữ
khô cứng” nghèo hình ảnh hoặc câu văn chỉ dừng ở mức độ có đủ chủ ngữ vị ngữ (câu
đơn bình thường) còn việc sử dụng các biện pháp tu từ để bài văn thêm sinh động, hấp
dẫn thì rất hạn chế.
Một bài văn hay, có giá trị không phải chỉ ở chỗ trình bày mạch lạc, dễ hiểu, mà cái
quan trọng hơn, đó là sức truyền cảm và sự truyền cảm này có được là do tính chân
thực, tính nhân bản cao hơn nữa là cái chất văn, hơi văn. Để viết được một bài văn
hay, học sinh cần phải rèn luyện sao cho có đựơc năng lực quan sát để nhận biết được
cái đặc trưng của sự vật hiện tượng, năng lực cảm thụ, năng lực thu thập thông tin,
năng lực tưởng tượng, liên tưởng, năng lực phân tích tổng hợp, năng lực lĩnh cảm và
các khả năng biểu đạt, bố cục tạo lập phong cách…. Song việc rèn luyện cho học sinh
những năng lực nói trên không phải là dễ, còn gặp rất nhiều khó khăn, kết quả thu
được còn nhiều hạn chế. Đặc biệt là thể loại văn miêu tả - Kiểu bài tả con vật (Tập làm
văn lớp 4).
Như vậy, viết đoạn văn, bài văn miêu tả là một trong những nội dung yêu cầu kiến
thức – kỹ năng cơ bản ở Tiểu học. Và thực tế hiện nay (với những nguyên nhân đã nêu
trên), nhiều học sinh viết đoạn văn, bài văn miêu tả ( kiểu bài tả con vật) chưa hay,
thậm chí chưa đạt yêu cầu. Từ cơ sở lý luận và thực tế trên, để khắc phục những hạn
chế trong việc dạy và học Tập làm văn trong nhà trường, tôi đã chọn nghiên cứu sáng
kiến: “Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật”
II – MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1- Khảo sát tìm hiểu nội dung dạy viết đoạn văn, bài văn ở bậc Tiểu học - khối lớp 4
2 - Tìm hiểu thực trạng viết đoạn văn, bài văn của học sinh địa phương, chỉ ra
nguyên nhân và đưa ra những biện pháp khắc phục.
3 - Soạn các bài tập luyện cho học sinh viết đoạn văn, bài văn đúng yêu cầu và viết
đoạn văn, bài văn hay. Thể loại văn miêu tả, kiểu bài tả con vật (Tập làm văn lớp 4)
với những đặc điểm nổi bật cả về hình dáng bên ngoài lẫn những hoạt động và thói
quen sinh hoạt nhằm giúp người đọc, người nghe hình dung, tưởng tượng ra con vật ấy
thông qua các giác quan của mình.
Nếu như viết đoạn văn, bài văn tả con vật mà chínhh mình không trực tiếp quan sát
con vật để có được cảm thụ thì nội dung bài viết không những sai mà còn khiến người
đọc không xúc cảm. Chính vì vậy mà mỗi câu, mỗi chữ trong tả con vật đều gửi gắm
tư tưởng. “Tức cảnh sinh tình”, mượn cảnh mà ngụ tình. Khi tả cảnh đều có cái tình
trong đó.
Để câu chữ chứa đựng tình cảm thì người viết phải quan sát kĩ con vật bằng
tình cảm, yêu quý thực sự như vậy mới nhận biết được đặc điểm của nó rồi dung lời lẽ
sinh động để tả, sao cho có sự giao hoà tình cảm giữa người viết với con vật miêu tả
như tâm tình giữa con người với con người.
2. Tìm hiểu thực tiễn của việc luyện cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn hay.
2.1. Đánh giá nội dung luyện viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật trong sách giáo
khoa Tiếng Việt 4
a) Về nội dung bài tập: Nhìn chung các bài tập trong mỗi bài học của phân môn Tập
làm văn là phù hợp, vừa sức đối với học sinh.
Trước hết học sinh được trang bị những kiến thức về văn miêu tả. Đó là một số hiểu
biết ban đầu về đặc điểm chính của văn miêu tả. Các kiến thức được cung cấp cho học
sinh một cách có hệ thống và chỉ dừng lại ở mức độ đơn giản. Các kiến thức được xây
dựng từ hệ thống câu hỏi bài tập học sinh thực hiện các hoạt động nhằm chiếm lĩnh
kiến thức và phát triển kĩ năng. Sau đó các kiến thức sẽ được củng cố và vận dụng
ngay vào các bài tập thực hành. Có thể nói việc chương trình đưa kiến thức lí luận về
văn miêu tả vào dạy cho học sinh là đúng đắn, cần thiết. Bởi vì đây là chỗ dựa, là điểm
tựa giúp học sinh làm đúng, làm tốt bài văn miêu tả.
Sách Tiếng Việt 4 rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh trên cơ sở, quy trình
sản sinh ngôn bản. Mặt khác nó tập trung rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho
học sinh tuỳ theo đối tượng miêu tả giúp học sinh chủ động, tự tin khi tạo lập bài văn
Tuy nhiên trong các bài học, kĩ năng lập dàn bài, viết đoạn văn đã được quan
tâm đúng mức song kĩ năng viết bài văn hoàn chỉnh và sửa lỗi thì lượng bài tập còn
hạn chế (kể cả số tiết dành cho các dạng kĩ năng này cũng còn ít).
2.2. Thực trạng những khó khăn của học sinh lớp 4 trường Tiểu học tôi công tác khi
làm văn miêu tả con vật:
a. Ưu điểm:
Học sinh có sự quan sát tinh tế khi làm văn miêu tả.
Ví dụ: Đây là một đoạn văn miêu tả chú gà trống:
“Chú gà mới đẹp làm sao! Chú kiêu hãnh khoác bộ áo sặc sỡ đủ màu như
một chàng hoàng tử. Thân hình chú thon thon gần bằng chiếc ấm tích. Trông chú thật
khoẻ và rắn rỏi như một chàng hiệp sĩ. Chiếc mào đỏ tươi rung rinh theo bước chân
của chú. Toàn thân chú phủ một lớp lông vũ óng mượt màu vàng xuộm. Phía dưới
cánh có lông màu lông đen. Cái đuôi của chó cong vổng lên như chiếc cầu vồng. Đôi
chân khoẻ khoắn và thoắt cái đã thấy chú trên đỉnh đống rơm rướn dài cái cổ:
Ò..ó..o..o. Lát sau đã thấy chú bên bụi chuối. Chớp mắt chú đã bới được mấy con giun
đất to như chiếc đũa. Nhưng lạ chưa kìa, em không thấy chú ăn mà cứ kêu “tục tục!”.
Một lũ gà mái chạy xô đến. À thì ra chú muốn mời mấy chị gà mái cùng ăn.”.
Ưu điểm cần học tập: Chú gà được miêu tả là một chú gà trống đẹp. Đẹp bởi vóc dáng,
màu lông, đẹp bởi sự cường tráng, khoẻ mạnh. Tất cả được hiện lên bởi những từ ngữ
giàu hình ảnh màu sắc và âm thanh: “sặc sỡ”, “thon thon”, “rắn rỏi”, “đỏ tươi”, “óng
mượt”, “vàng xuộm”, “xanh đen’, “cong vổng lên”, “khoẻ khoắn”, “rướn”. Và cùng
với các từ ngữ này là các biện pháp so sánh,
nhân hoá, cách dùng câu cảm làm câu chủ đề.
Chú gà không những đẹp về hình dáng bên ngoài mà tính nết cũng thật đáng
yêu: Bới giun mời gà mái cùng ăn.
Bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, lối diễn đạt tự nhiên, sinh động bạn đã lôi cuốn
người đọc theo dõi bài viết một cách hào hứng chú gà trống hiện lên trước mắt chúng
ta như bằng xương bằng thịt và còn có cá tính thật đặc biệt
+ Lỗi về cấu tạo ngữ pháp:
- Câu không đủ thành phần: Những chú gà đáng yêu.
- Câu thừa thành phần hoặc không phân định được thành phần.
Ví dụ: Em thấy rất có ích nuôi con mèo này.
Và còn một số lỗi nữa đó là: Viết sai lỗi chính tả dẫn đến sai nghĩa của từ, cách sắp
xếp ý chưa có trật tự lô gích.
b. Nguyên nhân của thực trạng:
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy : Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là:
+ Do vốn từ của học sinh chưa phong phú, chưa hiểu rõ nghĩa của từ.
+ Chưa nắm chắc cách làm của từng kiểu bài ở từng thể loại.
+ Việc quan sát thực tế chưa đầy đủ, còn qua loa đại khái.
+ Chưa có thói quen nháp bài (dàn ý chi tiết) trước khi luyện viết.
+ Một số em do đọc, viết yếu dẫn đến tiếp thu bài chậm, làm văn nghèo hình ảnh,
ngại học. Thậm chí nói đến làm văn là sợ.
+ Một nguyên nhân nữa là do sự kèm cặp học sinh yếu, trung bình của giáo viên chưa
tích cực. Chưa đầu tư tìm tòi xây dựng cho các em những bài tập phù hợp với trình độ
khả năng của các em.
3. Các bước giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay.
Bước 1: Giúp học sinh hiểu cơ sở của việc viết đoạn văn, bài văn hay
1.1.Khi tả con vật cần chú ý tới bốn yêu cầu sau :
1. Chọn vị trí quan sát.
2. Quan sát phải nắm được đặc điểm riêng biệt của con vật.
3. Phải viết ra hình dạng, màu sắc, động thái của con vật cụ thể.
4. Câu chữ phải chứa đựng tình cảm chân thực; Dùng các biện pháp nghệ thuật để tả
(So sánh, nhân hoá…)
1.2. Yêu cầu về đoạn văn, bài văn miêu tả con vật:
1. Đoạn văn hoàn chỉnh có đủ ba phần : mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn và gồm có::
- Đoạn văn tả hình dáng con vật
“Dừng một lát, bỗng nghe tiếng hổ gầm. Xa trông trên ngọn núi phía trước là hai
ngọn đèn đỏ rực. Nhìn kĩ thì ra một con hổ vằn. Hai ngọn đèn đỏ kia là mắt hổ đấy…
con hổ gầm vang rồi phốc một cái, biến mất.”
Ở đây, mắt hổ được miêu tả như: “ngọn đèn”, tiếng hổ kêu thì “gầm vang” nhảy thì
“phốc cái”. Thật oai phong dũng mãnh đến sợ, ngoài hổ ra thì còn con nào nữa.
Ngoài ra, cũng một loại con vật, ngoại hình giống nhau, nhưng trong những cái khác
nhau do hoàn cảnh, tình hình khác nhau cũng có những biểu hiện động tác khác nhau.
Nếu ta tả ra được những cái khác nhau đó là ta đã tả được cái đặc điểm riêng biệt của
mỗi một con vật trong số động vật cùng loại. Và như vậy, miêu tả sẽ tinh tế, sống
động.
1.4.Cơ sở để viết đoạn văn, bài văn miêu tả con vật hay :
1. Dùng từ đúng và hay :
Để viết được đoạn văn, bài văn miêu tả hay, các em cần có vốn từ và biết cách sử dụng
từ đúng lúc, đúng chỗ, biết dựa vào từ để tạo ra cái mới, cái riêng, cái độc đáo trong
những dòng, những bài mình viết. Chính vì vậy mà các em phải dùng từ đúng và dùng
từ hay. Chẳng hạn: Cách dùng từ miêu tả âm thanh của các con vật : “Rừng núi còn
chìm đắm trong màn đêm. Trong bầu không khí đấy hơi ẩm và lành lạnh, mọi người
đang ngon giấc trong những chiến chăn đơn. Bỗng một con gà trống vỗ cánh phành
phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bản. Tiếp đó, rải rác khắp thung lũng, tiếng gà
gáy râm ran. Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te. Trên mấy cành cây
cao cạnh nhà, ve đua nhau kêu ra rả. Ngoài suối, tiếng chim cuốc vọng vào đều đều.
Bản làng đã thức giấc”.
2. Viết câu đúng và viết câu hay:
- Viết câu đúng: Viết câu đúng là viết câu biểu đạt, diễn đạt đúng nội dung, đúng ý mà
người viết muốn nói ra. Viết câu đảm bảo đúng về cấu trúc ngữ pháp
VD: Chú gà trống nhà em/ đã ra dáng một chú gà trống đẹp.
CN
Bài 2: Những việc làm dưới đây, việc làm nào cần thiết trực tiếp cho việc tìm ý viết
bài văn tả con chó? hãy đánh dấu X vào những việc làm đó.
A. Lấy cơm cho chó ăn.
B. Tắm, kì cọ cho chó.
C. Ngồi quan sát chó ăn.
D. Xích chó vào cột nhà.
E. Quan sát thái độ của con chó trước khách quen, khách lạ.
Bài 3: Gạch chân những từ ngữ không phù hợp với bộ phận miêu tả con mèo dưới
đây:
Bộ phận miêu tả
Các từ ngữ miêu tả
a, Mắt
hai hòn bi ve, xanh lét, xanh lục,
b, Lông
tam thể, xù xì, tro bếp
c, Thâm hình
vạm vỡ, thon dài
d, Bàn chân
đầy móng vuốt, to xù, đệm thịt
e, Tai
A. Mỗi buổi sáng sớm, khi mọi người chưa thức dậy,..
B. Nếu đánh hơi thấy lũ chuột,..
C. Khi khách lạ đến nhà,…
b. Bài tập chữa lỗi sai do không hiểu nghĩa.
Bài 1: Tìm từ dùng sai trong các câu văn sau và giải thích vì sao? Em hãy chữa lại
cho đúng.
A. Mích- ki lớn nhanh như gió. Giờ đây nó đã là một chú chó trưởng thành với hình
dáng cân đối và đẹp đẽ.
B. Hôm nay trời ấm, chú mèo chạy ra sân nằm cạnh gốc cau đón nắng. Chú mèo cũng
hay đùa nghịch với cún con. Chú mèo còn giỡn cả chị gà mái nữa.
C. Nếu có đệm thịt dày dưới chân, chú mèo đi lại rất êm.
D. Con chó nhà em mới được ba tháng tuổi. Thân nó to bằng chiếc thùng gánh nước.
c. Bài tập mở rộng thành phần câu.
Bài 1: Hãy mở rộng các câu văn sau để tạo thành các câu văn sinh động hơn.
A, Mắt Tô- ny rất sáng.
Thêm : Cặp mắt của Tô- ny sáng trong như hai viên bi thuỷ tinh.
Bộ lông của Mi- mi màu vàng
Thêm : Bộ lông của Mi- mi màu vàng mượt, mịn như nhung.
Bài 2: Các câu văn sau đây sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
“Nó xoè cánh, nghểnh cổ, chuẩn bị chu đáo nhưng rốt cuộc chỉ rặn được ba tiếng éc è
e cụt ngủn. Nó ngượng quá, đỏ chín mặt, hấp tấp nhảy xuống đất”.
A, So sánh.
x
B, Nhân hóa
Bài 3: Em hãy viết đoạn kết bài tả con mèo theo cách mở rộng
1.4. Nhóm bài tập viết bài văn.
Bài 1: Em hãy tả lại một chú gà trống mà em thích nhất.
chiếc gầu múc nước
bắp chân người lớn
(5)
khẳng khiu
Nhỏ nhắn
ăng ẳng
Gâu…gâu
(6)
Bài 2: Viết lại kết bài sau tả về một chú chó đáng yêu.
“Chú chó đã canh giữ nhà cho nhà em. Em sẽ chăm chú thật chu đáo để chú khoẻ
mạnh luôn trông nhà cho nhà em”.
Tham khảo:
Chú chó thật trung thành và đáng yêu. Em sẽ chăm sóc chú thật cẩn thận và coi chú là
người bạn thân thiết của gia đình em.
* Những bài văn tham khảo:
1. Tả con mèo của nhà em ( hoặc của nhà bạn em)
2. Tả một chú chó đáng yêu.
3. Viết đoạn văn tả hoạt động của chú gà trống.
4. Viết phần thân bài tả con gà trống.
5. Viết phần thân bài tả một chú chó đáng yêu.
II- TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM
Với nội dung đề tài trên, tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm ở các tiết Tập làm văn
SL
TL % SL
TL % SL
TL % SL TL %
Đề 1
7
28
8
32
9
36
1
4
Đề 2
6
0
Đề 1
2
8
4
16
16
64
3
12
Đề 2
4
16
3
12
ngữ, nghệ thuật nhân hoá, so sánh bài làm có cảm xúc chân thật. Tuy nhiên vẫn còn
một vài bài viết còn mang tính liệt kê, kể lể. Mặc dù sự chuyển biến chưa măng tính
bứt phá song như vậy cũng là điều đáng quý khi dạy Tập làm văn. Thời gian áp dụng
thực nghiệm chưa có nhiều . Nếu đựơc áp dụng rộng rãi chắc chắn kết quả sẽ còn khả
quan hơn nhiều. Các em học sinh rất phấn khởi và hào hứng làm bài văn, yêu thích
Tập làm văn. Như vậy các bước luyện tập nêu trên đã hoàn toàn hợp lý, có giá trị thực
tiễn, học sinh đã viết được đoạn văn, bài văn hay.
PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I - BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ VIỆC ÁP DỤNG ĐỀ TÀI
Việc nâng cao chất lượng dạy học là một trong những yêu cầu trọng tâm của chiến
lược phát triển giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, giáo viên phải không
ngừng học hỏi, sáng tạo trong giảng dạy, đem hết khả năng và niềm đam mê, lòng
nhiệt huyết cho công tác thì mới có được kết quả như mong muốn. Việc dạy Tập làm
văn nhất là văn miêu tả kiểu bài tả con vật lớp Bốn thì việc làm này càng cần thiết hơn.
Học sinh lớp Bốn tuy đã gần cuối cấp Tiểu học
nhưng việc làm văn cũng mới dừng lại ở mức độ “tập”. Với hệ thống bài tập đưa ra để
rèn kĩ năng cho học sinh đã tạo cho học sinh tiếp xúc, khám phá, tìm
hiểu và thử tài của chính mình, nâng cao khả năng làm văn của các em, giúp
các em tự tin hơn khi học phân môn này. Bước đầu hệ thống bài tập đã tương đối phù
hợp với trình độ của học sinh.
Thực tế giảng dạy lớp 4 trong nhiều năm, tôi thấy để nâng cao chất lượng dạy học
Tập làm văn, ngoài hệ thống bài tập (yếu tố cơ bản, cần thiết) người giáo viên cần phải
tìm hiểu kĩ đối tượng học sinh, hiểu đặc điểm tâm lý của các em. Hiểu và nắm chắc
đặc điểm, yêu cầu của văn miêu tả. Học tốt các phân môn còn lại vì phân môn Tập làm
văn là phân môn thực hành tổng hợp kĩ năng kiến thức của tất cả các phân môn thuộc
môn Tiếng Việt. Mặt khác người giáo viên cần phải chuẩn bị chu đáo trước khi lên
lớp. Trong giờ dạy, tuỳ thuộc vào nội dung từng phần, giáo viên nên đọc cho các em
nói chuyện chuyên đề với các chuyên gia về dạy và học Tập làm văn để giáo viên, học
sinh được tiếp xúc, học hỏi kinh nghiệm trong công tác giảng dạy.
Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện thông tin hiện đại cho các
nhà trường (đặc biệt khuyến khích sử dụng kết nối, dạy giáo án điện tử phân môn Tập
làm văn).
Đối với Ban giám hiệu nhà trường:
- Cần đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở các tổ, khuyến khích giáo viên giành thời gian
trao đổi kế hoạch bài học để học tập kinh nghiệm.
- Tăng cường đầu tư về sách, báo trong thư viện để giáo viên có đủ tư liệu tham khảo
phục vụ cho giảng dạy.
- Tổ chức cho giáo viên và học sinh tham quan du lịch hàng năm để nâng cao nhận
thức và vốn hiểu biết về quê hương đất nước. Giáo viên tự tin trong mỗi bài giảng của
mình thì chất lượng, hiệu quả giờ dạy chắc chắn sẽ đạt kết quả tốt hơn.
PHẦN IV: KẾT LUẬN CHUNG
Trên đây tôi vừa trình bày đề tài “Rèn cho học sinh lớp 4 viết đoạn văn, bài văn
miêu tả tả con vật” mà tôi đã đúc rút và áp dụng qua những năm dạy học sinh lớp 4.
Tuy nhiên, để áp dụng đề tài này sao cho có kết quả tốt hơn còn phụ thuộc vào nhiều
yếu tố khách quan, chủ quan của thầy và trò. Song điều tôi tâm niệm là: chính mỗi
giáo viên phải thực sự có nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của môn Tiếng Việt ;
phải có tâm huyết, say mê với nghề và phải có một niềm tin vào sự phát triển đi lên
không ngừng của nền giáo dục nước nhà.
Rất mong bạn đọc đóng góp ý kiến cho đề tài này!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đầu sách
Nhà xuất bản
Thiết kế tiếng Việt lớp
Nhà XB Hà Nội