skkn một số PP dạy học phép nhân, phép chia các số tự nhiên cho HS lớp 3 - Pdf 34

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I . LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1. Dạy học phép nhân, phép chia là một trong những mục tiêu của môn Toán
ở bậc tiểu học, là hình thành các kỹ năng thực hành tính toán. Do đó, ngay từ
lớp 2, học sinh đã được làm quen với bảng nhân với 2, 3, 4, 5 trong phạm vi
100. Sang lớp ba, học sinh học bảng nhân với 6, 7, 8, 9 và nhân chia ngoài bảng
trong phạm vi 100.000 (với số có một chữ số). Việc rèn luyện các kỹ năng thực
hành phép nhân giúp cho học sinh nắm chắc một số tính chất cơ bản của các
phép tính viết, thứ tự thực hiện các phép tính trong các biểu thức có nhiều phép
tính , mối quan hệ giữa các phép tính (đặc biệt giữa phép cộng và phép nhân,
phép nhân và phép chia). Đồng thời dạy học phép nhân , phép chia tên tập hợp
số tự nhiên nhằm củng cố các kiến thức có liên quan đến môn toán như đại
lượng và các yếu tố hình học, giải toán. Ngoài ra rèn kỹ năng thực hành phép
nhân, phép chia còn góp phần trọng yếu trong việc phát triển năng lực tư duy,
năng lực thực hành, đặc biệt là khả năng phân tích, suy luận lôgíc và phẩm chất
không thể thiếu được của người lao động mới.
Để dạy tốt nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên: trước hết giáo viên
cần nắm được bản chất Toán học của những kiến thức này. Tuy nhiên, thực tế
cho thấy có không ít giáo viên Tiểu học không nắm vững bản chất Toán học của
phép nhân, phép chia các số tự nhiên. Như chúng ta đã biết: Có kiến thức toán
học cơ bản của chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học về kiến thức đối với giáo
viên. Cụ thể, giáo viên Tiểu học phải: Hiểu đúng đắn các khái niệm, định nghĩa
Toán học; có khả năng chứng minh các quy tắc, công thức, tính chất Toán học
được dạy ở Tiểu học dựa trên toán học hiện đại; có khả năng giải bài tập toán ở
Tiểu học tốt ( thể hiện ở khả năng phân tích tìm tòi lời giải, khả năng trình bày
bài một cách logic, chặt chẽ và có khả năng khai thác bài toán sau khi giải)…
Do vậy cần giúp giáo viên Tiểu học nắm được bản chất toán học của phép
nhân, phép chia các số tự nhiên.
Với chương trình sách giáo khoa mới ở Tiểu học đang được đưa vào sử
1


2


CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Mỗi môn học ở tiểu học góp phần vào phát triển những cơ sở ban đầu rất
quan trọng của nhân cách con người Việt Nam cùng các môn học khác, môn
Toán có vị trí quan trọng vì:
- Các kiến thức, kỹ năng của môn Toán ở Tiểu học có nhiều ứng dụng trong
đời sống, chúng rất cần thiết cho mọi người lao động, rất cần thiết để học tập
các môn học khác ở Tiểu học và học tập tiếp môn Toán ở trung học.
- Môn Toán giúp học sinh nhận biết được các mối quan hệ về số lượng và hình
dạng không gian của thế giới thực. Nhờ đó mà học sinh có phương pháp nhận
thức một số mặt của thế giới xung quanh và biết cách hoạt động có hiệu quả
trong đời sống.
- Môn Toán góp phần rất quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp suy
nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề, nó góp phần phát
triển trí thông minh, cách suy nghĩ độc lập, linh hoạt, sáng tạo, nó đóng góp vào
việc hình thành các phẩm chất cần thiết và quan trọng của người lao động: cần
cù, cẩn thận, có ý chí vượt khó khăn, làm việc có kế hoạch, có nền nếp tác
phong khoa học.
Để giúp giáo viên Tiểu học hiểu rõ hơn cơ sở của việc lựa chọn và sắp sếp
các nội dung về phép nhân, phép chia các số tự nhiên, đồng thời giúp giáo viên
biết được định hướng của việc lựa chọn và tận dụng các phương pháp dạy học
đối với các nội dung phép nhân, phép chia các số tự nhiên tôi xin trình bày một
số vấn đề sau:
1. Sự cần thiết của dạy phép nhân, phép chia trong dạy học toán lớp 3:
- Dạy học các phép tính nhân, chia là một chủ đề quan trọng trong chương
trình Toán lớp 3 và bậc Tiểu học.
+ Đây là một trọng tâm lớn xuyên suốt trong trương trình Toán lớp 2, 3, 4, 5.
+ Đây là những kỹ năng rất cần thiết để học lên các cấp học trên (không chỉ


b) Song nếu để ý nhận xét 413 = 400 + 10 + 3 thì có thể tính nhanh bằng
cách nhẩm như sau:
413 x 3 = (400 + 10 + 3) x 3
= 400 x 3 + 10 x 3 + 3 x 3
= 1200 + 30 + 9
= 1239
4


Trong cách tính nhanh trên ta đã dùng tính chất phân phối của phép nhân
với phép cộng để tách phép nhân 413 x 3 thành nhiều phép nhân đơn giản có thể
làm bằng miệng.
2. Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học:
Học sinh tiểu học thường tri giác trên tổng thể. Về sau, các hoạt động tri
giác phát triển và được hướng dẫn bởi các hoạt động nhận thức khác nên chính
xác hơn.
Chú ý không chủ định chiếm ưu thế ở học sinh tiểu học. Sự chú ý của học
sinh tiểu học còn phân tán, dễ bị lôi cuốn vào các trực quan, gợi cảm, thường
hướng ra bên ngoài vào hành động, chưa có khả năng hướng vào bên trong, vào
tư duy.
Trí nhớ trực quan- hình tượng và trí nhớ máy móc phát triển hơn trí nhớ
logic, hiện tượng hình ảnh cụ thể dễ nhớ hơn các câu chữ trừu tượng, khô
khan.
Trí tưởng tượng còn chịu tác động nhiều của hứng thú, kinh nghiệm sống,
mẫu vật đã biết.
Học sinh tiểu học bước đầu có khả năng thực hiện việc phân tích tổng hợp,
trừu tượng hoá- khái quát hoá và những hình thức đơn giản của sự suy uận,
phán đoán. Ở học sinh tiểu học, phân tích và tổng hợp phát triển không đồng
đều, tổng hợp có khi không đúng hoặc không đầy đủ, dẫn đến khái quát sai

- Việc trẻ ghi nhớ máy móc tốt là điều kiện để giáo viên dạy học sinh học
thuộc các bảng nhân, chia. Đây là cơ sở để giáo viên tổ chức cho học sinh học
thuộc các bảng tính bằng cách đọc nhiều lần.
CHƯƠNG II: NỘI DUNG, MỤC TIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC PHÉP NHÂN, PHÉP CHIA CÁC SỐ TỰ NHIÊN TRONG SÁCH
GIÁO KHOA TOÁN LỚP 3.
1. Nội dung:
-

Các bảng nhân 6, 7, 8, 9

-

Bảng nhân tổng hợp: Từ bảng 1- bảng 10

-

Phép nhân ngoài bảng ( tính viết ).

+ Nhân số có 2 chữ số với số có 1 chữ số.
6


+ Nhân số có 3 chữ số với số có 1 chữ số.
+ Nhân số có 4 chữ số với số có 1 chữ số.
+ Nhân số có 5 chữ số với số có 1 chữ số.
-

Nhân nhẩm.


- Diễn đạt ngắn gọn, rõ ràng thông tin.
- Tập phát hiện, tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Chăm chỉ, cẩn thận, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán.
Các biện pháp nhân, chia ngoài bảng được xây dựng trên cơ sở những kiến
7


thức và kỹ năng về: tính chất phân phối của phép nhân và chia đối với phép
cộng; các bảng nhân, chia; quan hệ giữa nhân và chia. Do đó mỗi khi học mỗi
biện pháp tính nên ôn lại các tính chất liên quan để xây dựng nó.
Yêu cầu cơ bản để dạy các phép nhân, phép chia ngoài bảng chủ yếu là nắm
được thuật tính và thực hành tính thông thạo. Vì vậy phương pháp chung được
sử dụng là giáo viên hướng dẫn và thực hiện trực tiếp trên ví dụ cụ thể. Từ đó
khái quát thành các bước thực hiện.
3. Phương pháp:
Qua việc tìm hiểu nội dung , phương pháp dạy học các nội dung về phép
nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3, tôi thấy.
Một số phương pháp dạy học truyền thống
Thường được vận dụng trong dạy học toán ở tiểu học là: Thuyết trình; Giảng
giải minh hoạ; Gợi mở vấn đáp; Trực quan và Thực hành, luyện tập.
Phương pháp thuyết trình là phương pháp dùng lời nói để trình bày tài liệu
toán học cho học sinh.
Phương pháp giảng giải minh hoạ là phương pháp dùng lời nói để giải thích
nội dung toán kết hợp với việc dùng các tài liệu trực quan để hỗ trợ
cho việc giải thích này. Tuy nhiên các phương pháp này có những mặt hạn chế
như: học sinh phải tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chưa phát huy được
tính tích cực nhận thức và không có điều kiện kiểm tra khả năng lĩnh hội kiến
thức của học sinh.
Phương pháp gợi mở vấn đáp là phương pháp dạy học không trực tiếp đưa
ra những kiến thức đã hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước một

nhớ.Phương pháp này sẽ hiệu quả hơn khi có sự hỗ trợ của các phương tiện
nghe nhìn.
* Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề:
Phương pháp này tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra giải quyết
những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và
cộng đồng.
* Phương pháp trực quan:
Cũng như các phương pháp khác không thể sử dụng tuỳ tiện mà khi sử dụng
9


cần thoả mãn một số yêu cầu cơ bản sau:
Một là: Sử dụng phương phap trực quan trong dạy học toán ở tiểu học không
thể thiếu phương tiện (đồ dùng) dạy học. Các phương tiện (đồ dùng) dạy học
phù hợp với từng giai đoạn nhận thức của trẻ. ở giai đoạn 1, các phương tiện
chủ yếu là các đồ vật thật hoặc hình ảnh của đồ vật thật, gần gũi với cuộc sống
của trẻ. ở giai đoạn 2, các phương tiện trực quan thường ởdạng sơ đồ, mô hình
có tính chất tượng trưng, trừu tượng và khái quát hơn. Các đồ dùng trực quan
với mục đích chủ yếu là tạo chỗ dựa ban đầu cho hoạt động nhận thức của trẻ,
vì vậy phương tiện (đồ dùng) cần phải tập trung bộc lộ rõ những dấu hiệu bản
chất của các mối quan hệ Toán học, giúp học sinh dễ thấy, dễ cảm nhận được
các nội dung kiến thức toán học. Các đồ dùng (phương tiện) phù hợp với nội
dung yêu cầu của các bài học, dễ làm, dễ kiếm, phù hợp với điều kiện cụ thể ở
địa phương, phù hợp với điều kiện kinh tế của giáo viên và phụ huynh học sinh.
Tránh dùng các phương tiện quá máy móc. Đồ dùng (phương tiện) cần đảm bảo
tính thẩm mỹ nhưng không quá cầu kỳ về hình thức, và không quá loè loẹt về
màu sắc, gây phân tán sự chú ý của học sinh vào những dấu hiệu không bản
chất.
Hai là: Cần sử dụng đúng lúc, đúng mức độ phương tiện trực quan. Khi cần
tạo điểm tựa trực quan để hình thành kiến thức mới thì dùng các phương tiện,

- 35 học sinh lớp 3B trường Tiểu học Thống Nhất.
2. Phương pháp nghiên cứu:
2.1. Nghiên cứu lý luận :
Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, chuẩn kiến thức kĩ năng cơ bản
môn Toán lớp 3, phương pháp giảng dạy thông qua sách giáo viên, tài liệu bồi
dưỡng phương pháp giảng dạy các môn học, Tạp chí giáo dục tiểu học hàng
tháng, sách tham khảo về phương pháp dạy học…
2.2.Thu thập thông tin:
Bài tập sách giáo khoa, vở bài tập, trao đổi học tập kinh nghiệm của các bạn
đồng nghiệp, tổ chuyên môn, ...
2.3. Khảo sát thực nghiệm:
Thông qua kết quả khảo sát, bài kiểm tra, bài làm của học sinh trong các tiết
11


học.
2.4. Phương pháp điều tra:
Tìm hiểu thực trạng việc dạy phép nhân, phép chia lớp 3 (năm học trước).
2.5. Phương pháp quan sát: Thông qua dự giờ.
3. Tài liệu tham khảo:
3.1. Sách giáo viên Toán lớp 3.
Biên tập: Vũ Văn Dương – Nguyễn Thị Bình
3.2. Vở bài tập Toán lớp 3.
Biên tập : Đỗ Đình Hoan
3. 3. Sách giáo khoa Toán lớp 3.
Biên tập: Vũ Mai Hương – Nguyễn Thị Bình
3.4. Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học lớp 3.
Biên tập: Lê Tiến Thành – Phan Kế Thái
3.5. Bô đồ dùng dạy học Toán 3.
3.6. Hướng dẫn sử dụng bộ đồ dùng dạy học Toán 3 (Tài liệu kem

Tất cả những giáo viên được hỏi đều trao đổi với tôi đầy đủ về những lý do,
thắc mắc cũng như tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng thực hiện phép
nhân, phép chia.
Trên cơ sở những nhận thức của giảo viên như trên, tìm hiểu về phương
13


pháp dạy học để rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia cho học sinh,
tôi thấy một số ưu nhược điểm sau:
1. Ưu điểm:
1.1 Giáo viên.
Các giáo viên đều nhận thấy được tầm quan trọng của việc dạy học nội dung
phép nhân, phép chia các số tự nhiên; nắm được chương trình, định hướng
chung về phương pháp dạy học các nội dung này. Vì vậy:
a) Giáo viên đã sử dụng phương pháp trực quan (nhất là trong giai đoạn
đầu), giảng giải – minh hoạ, gợi mở – vấn đáp khi hình thành khái niệm phép
tính; khi thành lập các bảng tính; hướng dẫn học sinh làm bài tập để định
hướng cho học sinh làm bài.
b) Giáo viên thường xuyên sử dụng phương pháp Thực hành luyện tập trong
quá trình rèn luyện kỹ năng thực hiện phép nhân, phép chia các số tự nhiên cho
học sinh. Điều này rất thuận lợi cho cả giáo viên và học sinh: giáo viên không
phải giảng nhiều, còn học sinh có điều kiện tự rèn luyện kỹ năng cho mình.
c) Giáo viên bám sát và theo dõi từng bước thực hiện tính của học sinh, có
biện pháp sửa sai kịp thời.
d) Một số giáo viên có những điều chỉnh, phân tích rất kỹ, mở ra các hướng
mới đối với bài tập rèn luyện kỹ năng tính đưa ra trong sách giáo khoa (chẳng
hạn dạy qua các trò chơi). Trong quá trình giảng dạy giáo viên biết lựa chọn bài
tập hợp lý tuỳ theo đối tượng học sinh.
1.2. Học sinh:
a) Do các bài học và bài tập về phép nhân, phép chia các số tự nhiên ở lớp 3

kỹ năng, kỹ xảo, cách duy nhất là sau mỗi bài học , chúng ta phải cho học sinh
thức hành luyện tập thương xuyên và liên tục.
Trong dạy học tiểu học quan điểm “thống trị” là quan điểm tâm lý học,
nhưng trong dạy học toán cần thấy vai trò chủ đạo của quan điểm logic và toán
học, coi logic học hình thức là cơ sở quan trọng của nó. Thực tế, quan tâm đến
đặc điểm lứa tuổi chính là tăng cường sức mạnh của logic trong quá trình nhận
thức ở học sinh tiểu học.
Không thể dạy học toán mà không nắm vững đặc thù của toán học nói chung,
15


không nắm vững những kiến thức toán học cơ bản, cần thiết liên quan đến các
kiến thức cần dạy.
Tuy nhiên đổi mới phương pháp dạy học Toán đòi hỏi giáo viên cần kế thừa,
phát triển các phương pháp dạy học truyền thống đồng thời mạnh dạn vận dụng
các xu hướng dạy học hiện đại. Sau đây tôi được xin giới thiệu một số biện pháp
tôi đã và đang vân dụng vào dạy học ở lớp tôi đang chủ nhiệm.
1. Biện pháp để học bài mới tốt:
Trước khi học phép tính mới (phép nhân, phép chia) học sinh đều có giai
đoạn chuẩn bị. Đây là cơ sở cho việc hình thành kiến thức mới, cầu nối giữa
kiến thức đã học và kiến thức sẽ học. Vì vậy, khi dạy học các bài học trong giai
đoạn này, giáo viên cần chuẩn bị tốt kiến thức cho học sinh để làm cơ sở vững
chắc cho các em học những kiến thức mới tiếp theo. Cụ thể là:
- Học sinh được học bài “Tổng của nhiều số” trước khi học bài “Phép
nhân”. Ở đây học sinh được tính tổng các số hạng bằng nhau. Giáo viên phải
lưu ý để nhận ra các tổng này đều có các số hạng bằng nhau để giúp học sinh
học bài phép nhân, tính kết quả của các phép nhân trong các bảng nhân (nhất là
các bảng nhân đầu tiên) .
- Học sinh được học bài “Phép nhân” và các bài về Bảng nhân trước khi
học bài “Phép chia” và các bài về Bảng chia. Giáo viên lưu ý học sinh phải

Ở lớp 3 (học kỳ I): học sinh tiếp tục học các bảng nhân, bảng chia 6, 7, 8, 9.
Lúc này các em đã có kinh nghiệm sử dụng đồ dùng học tập (các miếng bìa với
số chấm tròn như nhau), đã quen và thành thạo với cách xây dựng phép nhân từ
những miếng bìa đó. Hơn nữa, lên lớp 3 trình độ nhận thức của học sinh phát
triển hơn trước (khi học lớp 2) nên khi hướng dẫn học sinh lập các bảng nhân
hoặc bảng chia, giáo viên vẫn yêu cầu học sinh sử dụng các đồ dùng học tập
nhưng ở một mức độ nhất định, phải tăng dần mức độ khái quát để kích
thích trí tưởng tượng, phát triển tư duy cho học sinh. Chẳng hạn:
Giáo viên không cùng học sinh lập các phép tính như ở lớp 2 mà chỉ nêu
lệnh để học sinh thao tác trên tấm bìa với các chấm tròn để lập 3, 4 phép tính
trong bảng, các phép tính còn lại học sinh phải tự lập dựa vào phép đếm thêm
hoặc dựa vào các bảng nhân đã học.
17


Ví dụ:
* Khi hướng dẫn học sinh tự lập Bảng nhân 6, giáo viên yêu cầu học sinh sử
dụng các tấm bìa, mỗi tấm bìa có 6 chấm tròn để lập các phép tính:
6x1=6
6 x 2 = 12
6 x 3 = 18
Sau đó cho học sinh nhận xét để từ 6 x 2 = 12 suy ra được 6 x 3 = 18. Cụ thể
là: Với 3 tấm bìa.
Học sinh nêu : “6 được lấy 3 lần, ta có 6 x 3”
Mặt khác cũng từ 3 tấm bìa này ta thấy 6 x 3 chính là 6 x 2 + 6 .
Vậy 6 x 3 = 6 x 2 + 6 = 18 .
Bằng cách như vậy, học sinh có thể không dùng tấm bìa mà vẫn tự tìm được
kết quả của phép tính:
6 x 4 = 6 x 3 + 6 = 24
6x5=6x4+6…


4

4

00

601

4282

07
3

Nhiều giáo viên không cho học sinh tự củng cố lại: cách đặt tính như thế
nào? thực hiện phép nhân, chia theo thứ tự ra sao?... Vì thế học sinh rất dễ mắc
sai lầm khi thực hiện tính, đặc biệt là đối với những phép chia có số 0 ở thương.
Chỉ qua một số ví dụ trong bài mới thì học sinh rất khó nắm bắt được khái
niệm phép toán, cách đặt phép toán, cách đặt tính, cách tính… nên học sinh
thường làm sai. Do đó, giáo viên cần thường xuyên củng cố lại kiến thức trong
suốt quá trình học sinh thực hành luyện tập.
- Nhiều giáo viên cho học sinh luyện tập với không khí buồn tẻ, do đó có
nhiều dạng bài tập lặp lại mà giáo viên không đổi mới các hình thức chữa bài
chủ yếu chữa bài một cách đơn điệu: học sinh đứng đọc bài làm hoặc lên bảng
làm bài và lớp chữa. Do đó không kích thích được hứng thú học tập của học
sinh. Vì vậy giáo viên phải thường xuyên thay đổi hình thức luyện tập.
- Trong thực hành luyện tập để rèn luyện kỹ năng tính cho học sinh, yêu cầu
học sinh làm nhiều bài tập để giáo viên biết đến những khó khăn của học sinh để
giảng giải cho các em hiểu.
3. Những sai lầm và biện pháp khắc phục khắc phục khi dạy học phép

sinh còn hay sai trong cách ghi kết quả.
Ví dụ:
xx

26
3
618

* Biện pháp khắc phục: Ở đây, ta cần giải thích cho học sinh rằng: Nếu làm
như vậy thì tích có tới 62 chục, nhưng thực ra chỉ có 7 chục mà thôi. Vì:
- Ở lượt nhân thứ nhất: 3 nhân 6 đơn vị được 18 đơn vị, tức là 1 chục và 8
đơn vị, viết 8 ở cột đơn vị, còn 1 chục nhớ lại (- ghi bên lề phép tính) để thêm
vào kết quả lượt nhân thứ hai – nhân hàng chục.
20


- Ở lượt nhân thứ hai: 3 nhân 2 chục được 6 chục, thêm một chục đã nhớ là
7 chục, viết 7 ở cột chục.
Giáo viên cũng có thể một lần nữa khẳng định tính đúng đắn của phép tính
bằng cách: Phân tích từ số 26 = 2 chục + 6 đơn vị và hướng dẫn học sinh nhân
bình thường theo hàng ngang rồi cộng các kết quả lại.
3.2. Dạy học phép chia .
* Dạy bảng chia 6
Nhiều học sinh còn lúng túng trong việc trong việc từ phép nhân suy ra kết
quả phép chia, thì giáo viên nên làm mẫu một trường hợp, chẳng hạn 12 : 6 = ?
có thể làm như sau:
Giáo viên chỉ vào 2 x 6 = 12 nêu “Trong phép nhân này 12 là tích , 2 và 6 là
thừa số. Ta đã biết là: Khi lấy tích chia cho thừa số này thì được thừa số kia, nên
2 x 6 = 12 ta suy ra 12 : 6 = 2. Do đó từ một phép nhân với 6 ta suy ra được kết
quả của một phép chia 6”. Sau đó để học sinh tự làm 9 trường hợp còn lại.

24

4

2

4

2

0

0
Nguyên nhân của lỗi sai này là quá trình giảng bài, giáo viên hướng dẫn học

sinh theo các bước khi thực hiện phép chia; chia – nhân – trừ. Những khi thực
hành, học sinh còn nhẫm lẫn không biết lúc nào chia, nhân, trừ.
21


* Biện pháp khắc phục:
Trong quá dạy, giáo viên cần hướng dẫn kỹ, ta phải thực hiện từ trái sang
phải (từ hàng cao nhất của số bị chia đến hàng thấp hơn). Nghĩa là ta lần lượt
từng hàng một, xong hang này rồi sang hàng tiếp theo.
Khi thực hiện chia, chữ số đầu tiên tính từ trái sang ta chia cho số chia )ta
thực hiện khi chia), ta được thương ghi ngay kết quả. Rồi lấy thương vừa tìm
được nhân với số chia (ta thực hiện nhân) ta ghi kết quả của phép nhân dưới số
bị chia vừa thực hiện. Tiếp tục, ta lấy số bị chia trừ cho kết quả vừa nhân (ta
thực hiện phép trừ). Như vậy ta thực hiện xong ở lần chia thứ nhất. Tiếp tục hạ
xuống thực hiện lần chia thứ hai, tương tự như lần chia thứ nhất…cho đến hàng

thật thuộc các bảng nhân, bảng chia trước khi dạy chia viết.
- Dạy cho học sinh làm tính chia phải được tiến hành từ dễ đến khó, theo từng
bước một.
b) Một sai lầm nữa thường thấy ở học sinh khi học chia viết là: Các em
thường quên chữ số “0” trong phép chia có chữ số “0” ở thương.
* Nguyên nhân và biện pháp khắc phục:
Do học sinh không nắm được quy tắc thực hiện chia viết “có bao nhiêu lần
chia thì có bấy nhiêu chữ số được viết ở thương”. Giáo viên cũng cần lưu ý học
sinh: Chỉ duy nhất trong lần chia đầu tiên là được lấy nhiều hơn một chữ số ở số
bị chia để chia, còn các lần chia tiếp theo lấy từng chữ số để chia và khi lấy một
chữ số để chia thì phải viết được một chữ số ở thương.
Hướng dẫn học sinh cách nhân khi thực hiện phép chia có dư trong mỗi lượt
chia như sau:
Ví dụ: 51 : 6 = ?
Cách 1:
Đếm ngược từ 43 cho đến khi gặp một tích (hoặc số bị chia) trong bảng nhân
5 (chia 5) :
51; 50; 49; 48.
51 : 6 = 8
Vậy 51 : 6 = 8 (dư 3)
Cách 2:
Tìm số lớn nhất (không vượt quá 51) trong các tích (số bị chia) của bảng
nhân (chia 6) ta được:
48; 48 : 6 = 8. Vậy 48 : 6 = 8 (dư 3)
Với cách với những biện pháp thực hiện như trên, bước đầu học sinh đã có
hiệu quả, các em đã nắm được cách làm bài mà không còn nhẫm lẫn.
Căn cứ vào kết quả thu và chấm bài của học sinh cho thấy. Đa số học sinh
23




8,6%

14

40%

5

14,3%

Giữa HK 1

24

69%

10

29%

1

2%

0

0%

Cuối HK 1


0

0%

Khảo

Khá

sát

C. KẾT LUẬN
24


1. Kết luận:
Qua nghiên cứu đề tài này tôi đã tìm hiểu nội dung và các phương pháp dạy
học phép nhân, phép chia cho học sinh lớp 3. Điều này rất có ích cho tôi trong
công tác dạy học. Bản thân tôi rút ra được một kinh nghiệm như sau:
Không có biện pháp nào là tối ưu hay vạn năng, chỉ có lòng nhiệt tình, tinh
thần trách nhiệm của người thầy với nghề nghiệp là mang lại kết quả cao trong
giảng dạy, là chiếc chìa khoá vàng tri thức để mở ra cho các em cánh cửa khoa
học vì một ngày mai tươi sáng. Đó chính là vinh dự và trách nhiệm của người
giáo viên. Mỗi biện pháp dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế. Tuy nhiên
vận dụng có hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào khả năng truyền đạt của
người giáo viên. Theo tôi kỹ năng thực hành của giáo viên là yếu tố quan trọng
nhằm rèn luyện năng lực thực hành cho học sinh, để học sinh đạt được kết quả
cao trong học tập. Ngoài kinh nghiệm giảng dạy, người giáo viên còn phải luôn
luôn theo dõi những tiến bộ trong học tập của học sinh, qua đó có thể cải tiến,
điều chỉnh hoạt động dạy cho học sinh có hiệu quả hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status