báo cáo kết quả sáng kiến kinh nghiệm một số dạng đề cơ bản bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 10 - Pdf 34

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC
TRƯỜNG THPT TRẦN PHÚ

BÁO CÁO KẾT QUẢ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CƠ BẢN
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 10

Môn/ nhóm môn : Ngữ văn
Tổ bộ môn : Văn – Giáo dục công dân
Mã : 54
Người thực hiện: Trần Thị Minh Yến
Điện thoại: 01686186232
Email: [email protected]

Vĩnh Phúc, năm 2013
1


MỤC LỤC
PHẦN MỘT. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG…………………Trang
I.Lí do chọn đề tài…………………………………………………….. 3
II.Mục đích nghiên cứu……………………………………………….. 4
III.Đối tượng nghiên cứu……………………………………………… 4
IV.Phương pháp nghiên cứu………………………………………… 4
1. Phương pháp thống kê phân loại ……………………………………4
2. Phương pháp hệ thống ……………………………………………... 4
3. Phương pháp phân tích …………………………………………….. 4

2


nghề chưa nhiều, khi được giao trọng trách bồi dưỡng đội tuyển đã gặp không ít
khó khăn trong công tác bồi dưỡng. Dạy cái gì (?) và dạy như thế nào (?) là
những câu hỏi được đặt ra.
-Về tính cấp thiết : Quan sát và theo dõi kết quả công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi của nhiều trường THPT trong tỉnh trong nhiều năm, bản thân tôi và
không ít giáo viên đã rất băn khoăn, thậm chí, không ít người chán nản và tuyệt
vọng khi ở một số trường THPT, không có một học sinh nào đạt giải thi học sinh
giỏi vòng Tỉnh hoặc số lượng học sinh đạt giải quá ít và không có giải cao. Đành
rằng, chất lượng đầu vào là một điều kiện đặc biệt quan trọng trong lựa chọn
nhân tố bồi dưỡng, bởi “không có bột sao gột nên hồ”, nhưng chẳng lẽ, nếu cứ
duy trì mãi tình thế thầy gắng sức, trò gắng công mà thất bại vẫn hoàn thất bại
thì ngọn lửa tâm huyết của người thầy liệu có còn cháy mãi? Liệu có học sinh

3


nào còn muốn vào học đội tuyển khi biết chắc sự thất bại của chính mình.
Nghiên cứu “Những dạng đề cơ bản bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn lớp
10” nói riêng và các môn học khác nói chung là một việc hữu ích.
- Về năng lực nghiên cứu của bản thân : Bản thân tôi là một giáo viên đã
giảng dạy được 14 năm và suốt 14 năm qua tôi đã thực hiện công tác bồi dưõng
đội tuyển các lớp theo sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường. Thực tế quá
trình công tác đã giúp tôi đúc rút được những kinh nghiệm cho bản thân và chia
sẻ với đồng nghiệp những kinh nghiệm ấy trong quá trình giảng dạy. Nghiên
cứu đề tài “Một số dạng đề cơ bản trong bồi dưỡng học sinh giỏi Ngữ văn 10”
hoàn toàn phù hợp với năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của tôi.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Với giáo viên : giúp giáo viên hệ thống hoá các đơn vị kiến thức, các
dạng đề cơ bản trong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi nhằm nâng cao chất
lượng giảng dạy.

và khác biệt nhằm xác định chính xác mục tiêu, yêu cầu đề.
V. GIỚI HẠN VỀ KHÔNG GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Trong phạm vi của một bản sáng kiến kinh nghiệm nhằm mục đích ôn
luyện học sinh đội tuyển, người viết không có điều kiện áp dụng kinh nghiệm
của mình trong phạm vi rộng mà chỉ có thể khảo sát, đánh giá kết quả quá trình
nghiên cứu trong phạm vi 20 học sinh đội tuyển môn Ngữ văn lớp 10 năm học
2012 – 2013, thuộc các lớp 10M, 10N, 10I, 10D Trường THPT Trần Phú –
Thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc. Trong đó, lớp 10M, 10N là lớp học
môn Ngữ văn theo chương trình Nâng cao ban KHXH, lớp 10I, 10D học theo
chương trình Cơ bản, học sinh chưa có nhiều điều kiện để học tập, nghiên cứu
chuyên sâu về nội dung môn học này.
VI. PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
- Người viết sáng kiến kinh nghiệm bắt đầu tiến hành nghiên cứu, vận
dụng sáng kiến từ tháng 9 năm 2012 và kết thúc vào tháng 4 năm 2013 khi hoàn
thành chương trình ôn luyện thi học sinh giỏi và có kết quả của kì thi do Sở GD
– ĐT Vĩnh Phúc tổ chức, làm cơ sở viết sáng kiến này một cách chân thực và
khoa học.

5


PHẦN HAI . NỘI DUNG
I. NHỮNG DẠNG ĐỀ CƠ BẢN TRONG THI HỌC SINH GIỎI
MÔN NGỮ VĂN
Cách đây hơn 500 năm, trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhân Tuất niêN
hiệu Đại Bảo thứ 3, Tiến sĩ Thân Nhân Trung (1418-1499) đã khẳng định vai trò
của người hiền tài : “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì
thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Vì
thế các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài,
kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên”. Phát hiện, bồi dưỡng

thế kỉ XIX.

6


Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 11 năm học 2002 – 2003
Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo :
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.”
Trong truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu viết :
“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi,
Làm người thế ấy mới phi anh hùng”
Em hiểu ý kiến trên như thế nào ? Hãy chứng minh rằng đó chính là tư
tưởng nhân nghĩa truyền thống, là triết lí cốt lõi cho thế giới quan và nhân sinh
quan của Nguyễn Đình Chiểu, quán triệt toàn bộ thơ văn ông.
Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 12 năm học 2000 – 2001
Bàn về thơ, nữ sĩ Xuân Quỳnh viết :
“Thơ đối với cuộc sống ví như một người con gái đối với gia đình, cái để
người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức
hạnh”. (Theo Các nhà văn nói về về văn, tập 2, trang 52, NXB Tác phẩm mới,
1986)
Anh/chị hiểu như thế nào về ý kiến nêu trên ? Hãy làm sáng tỏ điều đó
bằng việc phân tích một số bài thơ mà mình yêu thích nhất.
Việc ra đề thi có ảnh hưởng, chi phối thậm chí mang ý nghĩa quyết định
đối với quá trình dạy và học. Do đề thi trong những năm trước đây chỉ chú trọng
đến kiểu bài nghị luận văn học, cho nên, học sinh không quan tâm nhiều đến
những vấn đề của đời sống xung quanh mình, không biết bày tỏ quan niệm, thái
độ của bản thân trước những vấn đề tốt, xấu, những kiến thức văn học trong nhà
trường mang tính sách vở, hàn lâm và phần nào thoát li cuộc sống phong phú và
sôi động.

biệt trong mỗi kiểu đề để đúc kết trên phương diện lí thuyết cho từng dạng đề
một.
1. Nghị luận về một hiện tượng đời sống
1.1 Cách nhận diện đề
Dạng đề này thường nêu lên một vấn đề xã hội mang tính thời sự đang
được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm và yêu cầu người viết trình bày
quan điểm, suy nghĩ của mình trước những hiện tượng đó.
Ví dụ :
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh /chị về bệnh vô cảm trong xã hội
hiện nay.
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về phong trào sinh viên tình
nguyện.
Có người cho rằng chỉ đi du học mới có tương lai. Anh/chị hãy viết bài
văn bày tỏ quan niệm của mình.
Trong quá trình giảng dạy, phân tích các dạng đề nghị luận xã hội, bản
thân tôi nhận thấy các hiện tượng đời sống được nêu lên trong đề bài có tính
chất khác biệt nhau : có dạng đề yêu cầu bàn luận về hiện tượng mang tính chất
tiêu cực trong xã hội ( vô cảm, bạo lực, nghiện Internet, lối sống buông thả, ô
nhiễm môi trường,…); có dạng đề yêu cầu bàn luận về hiện tượng mang tính
chất tích cực trong xã hội (hiến máu nhân đạo, tình yêu thương con người, tình
bạn chân chính,…) có dạng đề yêu cầu bàn luận về hiện tượng vừa mang tính
chất tích cực vừa mang tính chất tiêu cực trong xã hội ( ngưỡng mộ thần tượng,
du học, quan niệm về đồng tiền, ý thức cái tôi của thế hệ trẻ, hiện tượng học
thêm,…). Giáo viên giảng dạy đội tuyển phải giúp học sinh nhận diện đúng tính
chất của từng dạng đề và hướng dẫn phương pháp giải một cách tỉ mỉ, định hình
và khắc sâu những kĩ năng quan trọng giúp học sinh chủ động, tự tin triển khai
bài viết với bất cứ một dạng đề nào.
1.2. Phương pháp giải

8

Buớc 8. Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết
thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết.
1.2.2. Phương pháp giải kiểu bài nghị luận về một hiện tượng tích cực
trong xã hội.
Ví dụ :
Viết bài văn trình bày suy nghĩ về tình yêu thương con nguời của tuổi trẻ
trong xã hội hiện nay.

9


Viết bài văn trình bày suy nghĩ về tinh thần dũng cảm.
Kiểu đề này có tính chất đối lập với kiểu đề trình bày suy nghĩa về các
hiện tượng tiêu cực. Vì thế, bên cạnh những bước cơ bản cần thực hiện như với
kiểu đề trên, trong phương pháp giải, giáo viên cần nhấn mạnh rõ những điểm
khác biệt. Cụ thể :
Bước 1. Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận
Bước 2. Cần giải thích một số hiện tượng làm cơ sở bàn luận ( tình yêu
thương con người, phong trào tiếp sức mùa thi, phong trào sinh siên tình
nguyện, phong trào mùa hè xanh, tinh thần dũng cảm của một số cá nhân, tập
thể điển hình,…)
Bước 3. Trình bày rõ hiện tượng đời sống được bàn luận đang diễn ra
trong đời sống như thế nào, sức ảnh hưởng và lan toả ra sao.
Bước 4. Phân tích ý nghĩa của hiện tượng đời sống đối với xã hội và cộng
đồng.
Bước 5. Bày tỏ thái độ ngợi ca với những hiện tượng tiêu biểu trong xã
hội.
Buớc 6. Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết
thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết.
Trong kiểu đề nghị luận về một hiện tượng đời sống mang tính tích cực,

trong đời sống.
Bước 4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng
Bước 5. Phân tích tính đúng đắn và hạn chế của hiện tượng.
Bước 6. Đề xuất kiến giải để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu
cực
Buớc 7. Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết
thực, có ý nghĩa sâu sắc trong cuộc sống đối với người viết.
2. Nghị luận về một tư tưởng đạo lí
2.1. Nhận diện đề
Dạng đề này thường đưa ra một câu danh ngôn, tục ngữ, ca dao, một lời
nhận xét, đánh giá, một câu nói nổi tiếng của những cá nhân tiêu biểu,…và yêu
cầu người viết bày tỏ quan niệm, suy nghĩa của mình.
Ví dụ :
Đề 1.
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm của Hồ Chí
Minh :
“Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì
làm việc gì cũng khó”.
Đề 2.
Tuân Tử, một nhà tư tưởng lớn của Trung Quốc đã nói :
“Khoan dung đem lại cái lợi cho cả ta lẫn người”.
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về quan niệm trên.
2.2. Phương pháp giải
Bước 1. Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận.
Bước 2. Giải thích tư tưởng đạo lí ( bước này mang tính chất bắt buộc vì
mọi tư tưởng đạo lí đều thể hiện chiều sâu nhận thức, tư tưởng và nhiều khi
được diễn đạt một cách hình ảnh, đa nghĩa)
Bước 3. Trình bày suy nghĩ của người viết ( khẳng định tính đúng đắn hay
phủ nhận tư tưởng đạo lí, lí giải quan điểm của mình và đưa ra những dẫn chứng
chọn lọc, tiêu biểu chứng minh được vấn đề một cách toàn diện và thuyết phục).

Văn học là một hình thái ý thức thuộc kiến trúc thượng tầng cho nên bao
giờ cũng bắt nguồn từ cơ sở hạ tầng. Vì thế, một trong những ý nghĩa thực sự
của văn học là góp phần cải tạo cuộc sống theo chiều hướng tích cực hơn, những
vấn đề mang ý nghĩa xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học vì thế cũng trở nên
sâu sắc hơn.
Kiểu bài này thường nêu lên một hiện tượng có ý nghĩa xã hội rộng lớn,
nhưng được thể hiện bằng hình tượng trong một tác phẩm văn học và yêu cầu
người viết trình bày suy nghĩ của mình
Ví dụ:
Trong tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, nhà văn Nguyễn
Dữ viết : “Than ôi ! Người ta thường nói : “Cúng quá thì gãy”. Anh/chị hãy viết
bài văn bày tỏ quan niệm của mình về câu nói trên.
3.2.Phương pháp giải

12


Do kiểu đề này yêu cầu người viết trình bày suy nghĩ về một hiện
tượng đời sống đặt ra trong tác phẩm văn học, nên bên cạnh những phương pháp
giải chung, bài viết có những yêu cầu riêng, cụ thể như sau:
Bước 1. Giới thiệu đúng vấn đề cần nghị luận.
Bước 2. Tóm tắt tác phẩm văn học dẫn đến vấn đề cần nghị luận
Bước 3. Giải thích hiện tượng đời sống
Bước 4. Phân tích nguyên nhân dẫn đến hiện tượng.
Buớc 5. Phân tích hậu quả (hiện tượng tiêu cực), ý nghĩa (hiện tượng tích
cực).
Bước 6. Mở rộng vấn đề bàn luận bằng cách nhìn nhận hiện tượng đời
sống ở nhiều góc độ khác nhau.
Bước 7. Phê phán những hiện tượng đời sống mang ý nghĩa tiêu cực.
Buớc 8. Đánh giá và rút ra những bài học nhận thức và hành động thiết


2.Các dạng đề nghị luận văn học cơ bản
2.1. Dạng đề cảm thụ văn học
2.1.1. Vai trò của cảm thụ văn học trong các đề văn nghị luận
Cảm thụ văn học là vấn đề cơ bản, cốt lõi nhất của một người học văn và
cũng là vấn đề cốt lõi để giải các dạng đề khác. Bởi sự cảm thụ văn học thể hiện
năng lực phân tích, phát hiện những yếu tố nghệ thuật trong tác phẩm văn
chương và cả khả năng rung cảm tâm hồn, sự trải nghiệm sâu sắc của người học,
đồng thời, các dạng đề thi dù phong phú đến đâu, dù là dạng đề kết hợp giữa lí
luận và cảm nhận hay đơn thuần là lí luận thì vẫn phải giải quyết tốt vấn đề lí
luận sau đó cảm thụ, lập luận hướng vào vấn đề trọng tâm của đề bài. Cho nên,
cảm thụ là kĩ năng cơ bản, là vấn đề cốt lõi trong học văn và làm văn.
2.1.2.Nhận diện đề văn cảm thụ
Trong một đề văn truyền thống thường có kết cấu ba phần : phần
dẫn đề, yêu cầu đề và phạm vi dẫn chứng. Những đề bài cảm thụ văn học trong
phần dẫn đề thường bắt đầu bằng cụm từ “Cảm nhận của anh/chị về …”, “Vẻ
đẹp của một bài thơ mà anh/chị yêu thích”, “Phân tích đoạn thơ (bài thơ, nhân
vật, tác phẩm)…”
2.1.3.Phương pháp giải
Để giải các dạng đề này, người viết cần có cái nhìn tổng quan về vấn đề
cần cảm thụ. Nếu là cảm thụ về một tác phẩm, cần có phần giới thuyết chung về
xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, nội dung và nghệ thuật khái quát cơ bản của tác
phẩm sau đó đi vào cảm thụ nội dung, nghệ thuật cụ thể trong tác phẩm ấy. Nếu
là cảm thụ một đoạn trích, trong phần giới thuyết cần nêu rõ vị trí, nội dung của
đoạn trích cần cảm thụ để người đọc có cái nhìn tổng quan về nội dung bài viết,
vấn đề trọng tâm cần cảm thụ và khơi nguồn cảm xúc ban đầu cho người đọc
văn được lôi cuốn, hoà nhập cùng cảm xúc của người viết. Nếu là sự cảm thụ về
vẻ đẹp của một hình tượng, một nhân vật, cần giải quyết tốt khái niệm lí luận để
làm rõ vấn đề cơ bản, sau đó cần vận dụng kiến thức về loại thể văn xuôi như
tính huống truyện, kết cấu truyện, nghệ thuật trần thuật làm tiền đề khai mở sau

Nói khác đi, hình tượng nghệ thuật là tất cả những gì của đời sống được nhà văn
phản ánh một cách sáng tạo vào tác phẩm văn chương nhằm thể hiện tư tưởng
và tình cảm, nhận thức của mình về con người và đời sống.
Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thuỷ là truyền thuyết tiêu
biểu cho hệ thống truyền thuyết về nước Âu Lạc và An Dương Vương. Mượn
cốt lõi của lịch sử là An Dương Vương xây Cổ Loa thành, quân Triệu Đà sang
xâm lược nước ta, đất nước ta bị đô hộ một nghìn năm Bắc thuộc, nhân dân đã
sáng tạo ra những hình tượng nghệ thuật đặc sắc, có chiều sâu tư tưởng nhằm
truyền lại cho các thế hệ những bài học lịch sử vô giá. Bài học về tình yêu, về
tinh thần cảnh giác chống giặc ngoại xâm, bài học về mối quan hệ giữa trách
nhiệm công dân với đất nước, Tổ quốc. An Dương Vương, Mị Châu, Trọng
Thuỷ, thần Rùa Vàng,…là những hình tượng nhân vật như thế. Đặc biệt là Mị
Châu, một hình tượng nghệ thuật có sức gợi ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn
người đọc, người nghe qua hàng ngàn thế hệ.
b. Phân tích nhân vật Mị Châu
- Mị Châu là nàng công chúa lá ngọc cành vàng, đẹp người đẹp nết, trong
sáng và thơ ngây.
+ Sau khi Triệu Đà đem quân sang xâm lược nước ta lần thứ nhất bị thất
bại, hắn vẫn không nguôi dã tâm thôn tính Âu Lạc. Biết không thể chống lại sức
mạnh nỏ thần của Âu Lạc, hắn dùng kế cầu hoà, rồi sau đó cầu hôn. Là một đất
nước trải qua nhiều chiến tranh giặc dã, bản thân An Dương Vương và nhân dân
Âu lạc phải trải qua bao gian khổ xây thành đắp luỹ bảo vệ quốc gia, song khi
đã chiến thắng, An Dương Vương lại chủ quan khinh suất, không cảnh giác đề
phòng kẻ thù. Mị Châu là một nàng công chúa, trước những quyết định quan
trọng của quốc gia, nàng cũng không có chính kiến về những vấn đề chính sự
mà hoàn toàn tin tưởng vào quyết định của người cha. Từ cầu hoà, cầu hôn,

15



thức lịch sử sâu sắc. Cần nâng cao bài học tinh thần cảnh giác trước kẻ thù ngoại
xâm trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; giải quyết tốt mối quan hệ
giữa việc nước và việc nhà, đồng thời, phải đặt vận mệnh quốc gia lên trên tất cả
những tình cảm thông thường khác. Niềm tin và tình yêu đặt không đúng chỗ sẽ
gây ra bi kịch khôn lường, mặt trái của lòng tin là nỗi đau và sự mất mát :
“Vẫn còn đây pho tượng đá cụt đầu
Bởi cụt đầu nên tượng càng rất sống
Cái cụt đầu gợi nhớ dòng máu nóng
Hai ngàn năm dưới đá vẫn tuôn trào
Anh cũng như em muốn nhắc Mị Châu
Đời còn giặc xin đừng quên cảnh giác
Nhưng nhắc sao được hai ngàn năm trước
Nên em ơi, ta đành tự nhắc mình”.
(Mị Châu – Anh Ngọc)
Bi kịch Mị Châu đã đi qua, nhưng pho tượng cụt đầu vẫn còn đó ở Cổ Loa
thành, bài học cảnh giác mãi mãi không bao giờ là xưa cũ.
- Nghệ thuật :
+Truyện có một kết cấu chặt chẽ đến hoàn mĩ, xây dựng được những nhân
vật chứa đầy mâu thuẫn, bi kịch như cuộc sống thường nhật. Mị Châu, nàng
công chúa lá ngọc cành vàng trong sáng, ngây thơ nhưng nhẹ dạ cả tin bị kẻ thù
lợi dụng làm cho bi bịch mất nước đau xót thêm.
+ Những chi tiết nghệ thuật kì ảo như sự hoá thân của Mị Châu là những
chi tiết cô đọng, hàm súc, giàu ý nghĩa, đúc kết quan niệm, thái độ và bài học
lịch sử sâu sắc của nhân dân.

17


Tóm lại, với dạng đề cảm thụ văn học, một mặt giáo viên phải cung cấp
cho học sinh những kiến thức cơ bản về lí luận văn học, rèn cho học sinh cách

nguyệt ma”.
Có thể nói, so sánh là một thao tác không thể thiếu trong bất kì một bài
văn, một câu văn nào, nó mở rộng trường liên tưởng của người đọc, nó khơi mở
cảm xúc từ tác phẩm này sang tác phẩm khác, phát triển khả năng tư duy và liên
kết văn học, đồng thời bộc lộ trí tuệ của người viết trong quá trình lập luận, lí
giải những vấn đề chung và riêng. Nhờ có so sánh, vấn đề trọng tâm cần làm
sáng tỏ trong bài văn được khắc sâu.
2.2.2. Nhận diện đề so sánh văn học

18


Như trên đã nói, cảm thụ văn học là dạng đề cơ bản nhất trong viết văn
nghị luận, cho nên, về bản chất, so sánh cũng là một dạng cảm thụ văn học.
Nhưng, nếu cảm thụ văn học tập trung vào một đối tượng thì so sánh văn học
tìm điểm tương đồng và khác biệt từ 2, hoặc 3 hiện tượng văn học trở lên. Nhận
diện dạng đề so sánh có thể qua các cụm từ chỉ dẫn sau : “cảm nhận của anh/chị
về hai đoạn thơ (văn, nhân vật, hình tượng hoặc chi tiết) sau :….”; “phân tích
hai đoạn thơ (văn, nhân vật, hình tượng hoặc chi tiết) để tìm ra sự khác biệt và
tương đồng”; so sánh hai đoạn thơ (văn, nhân vật, hình tượng hoặc chi tiết) để
thấy được những khám phá, phát hiện riêng của mỗi tác giả. Đôi khi, trong dạng
đề so sánh, phần dẫn đề không có từ thể hiện yêu cầu so sánh mà chỉ nêu các
vấn đề chung, người viết phải tự mình xác định bản chất dạng đề để so sánh, viết
bài theo đúng mục đích. Ví dụ :
Hình tượng người trí thức nhàn dật trong “Cảnh ngày hè” (Nguyễn Trãi)
và “Nhàn” (Nguyễn Bỉnh Khiêm).
Hình tượng người tráng sĩ trong “Thuật hoài” (Phạm Ngũ Lão ) và “Cảm
hoài” (Đặng Dung).
Do không nhận diện đúng dạng đề so sánh mà nhiều học sinh đã không
tìm ra nét chung và riêng, tương đồng và khác biệt, làm rời rạc từng nội dung,

Trong rèm dường đã có đèn biết chăng.
Đền có biết dường bằng chẳng biết,
Lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.
Buồn rầu nói chẳng lên lời,
Hoa đền kia với bóng người khá thương.
(Trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ - dịch giả Đoàn Thị Điểm)
Bài giải gợi ý theo cách 2.
1.Mở bài : học sinh giới thiệu hai tác giả, hai tác phẩm và trích hai đoạn
thơ cần so sánh.
2.Thân bài :
a.Về đoạn thơ trong Nỗi sầu oán của người cung nữ
- Nội dung : Đoạn thơ diễn tả tâm trạng chờ đợi, mong ngóng, nhớ nhung
khắc khoải của người cung nữ khi bị nhà vua ruồng bỏ.
+ Mở đầu đoạn trích là sự đối lập giữa khung cảnh xa hoa, tráng lệ ở cung
vua với cuộc sống tối tăm, u uất nơi cung cấm làm nổi bật bóng dáng nhỏ bé đến
tội nghiệp của người cung nữ. Bị nhà vua ruồng bỏ trong toà nhà lộng lẫy, mênh
mông, người cung nữ suốt năm canh đứng tủi, ngồi sầu, khắc khoải “trông
ngóng lần lần” và chờ mong vô vọng.
+ Trong tình cảnh ấy, nàng ý thức rất rõ kẻ nào đã gây ra tai hoạ khủng
khiếp cho đời mình. Nàng là người bị giết chết không phải bằng gươm sắc mà
bằng cách kéo dài cuộc sống buồn bã không lối thoát trong cảnh chăn gối lẻ loi,
lạnh lẽo :
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân
Chơi cho hoa rữa nhuỵ dần lại thôi
“Khoảnh” nghĩa là chơi khăm, chơi ác. “Chúa xuân” là những kẻ hôn
quân, vô đạo. Chúng thật độc ác với người cung nữ. Nỗi cô đơn giày vò khiến,
giằng xé tâm hồn người cung nữ khiến nàng phải cất lên lời oán trách gay gắt.
Nàng nhớ những ngày được vua sủng ái, còn giờ đây, nàng như bị nhấn chìm
trong quên lãng. Bông hoa thắm sắc đượm hương ngày nào giờ là “hoa rữa,
nhuỵ tàn”. Các hình ảnh “chúa xuân”, “hoa rữa, nhuỵ tàn” được sử dụng rất gợi

tâm trạng của con người sống trong cảnh nhung nhớ, đợi chờ, buồn thương,
tuyệt vọng.
+ Khả năng phân tích tâm lí sắc sảo của Nguyễn Gia Thiều khiến người
đọc cảm nhận rõ sự đồng cảm của nhà văn với tâm hồn nhân vật. Dường như
nhà văn đã hoá thân vào cuộc đời, số phận của người cung nữ để cất lên tiếng
nói tâm hồn của họ.
+ Việc sử dụng các từ ngữ văn chương sang trọng, đài các, kết hợp ngôn
ngữ bình dân, thủ pháp nghệ thuật đối lập, tương phản giữa cuộc sống xa hoa
nơi cung cấm và tình cảnh lẻ loi của người cung nữ, các điển cố, điển tích được
sử dụng sáng tạo có sức ám ảnh, gợi tả,… giúp người đọc thấy được cái tài, cái
tâm của một nhà văn lớn.
b. Về đoạn thơ trong Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ
- Nội dung : Đoạn thơ diễn tả tâm trạng nhung nhớ, đợi chờ của người
chinh phụ khi có chồng đi chinh chiến.
+ Tâm trạng cô đơn của nàng được thể hiện qua hành động :
Dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
Ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

21


Xa vắng chồng, người chinh phụ lặng lẽ “dạo hiên vắng thầm gieo từng
bước” trong nỗi cô đơn đang tràn ngập tâm hồn. Nhịp thơ chậm gợi cảm giác
thời gian ngưng đọng. Giữa không gian tịch mịch, tiếng bướcchân như gieo vào
lòng người âm thanh lẻ loi, cô độc. Nỗi nhớ nhung sầu muộn và khắc khoải
mong chờ khiến bước chân người chinh phụ trở nên nặng trĩu. Nàng bồn chồn
đứng ngồi không yên, hết buông rèm xuống lại cuốn rèm lên, sốt ruột mong một
tiếng chim thước báo tin mà chẳng thấy.
+ Trong tâm trạng cô đơn, nàng khao khát có người đồng cảm và sẻ chia
tâm tình. Không gian im ắng, tịch mịch chỉ có ngọn đèn đối diện với nàng. Lúc

hiện thực xã hội với các cuộc chiến tranh phong kiến li tán, vua chúa ăn chơi

22


hưởng lạc đẩy người phụ nữ vào cuộc đời đau khổ. Nghệ thuật thơ song thất lục
bát và miêu tả tâm lí đã diễn tả thành công tâm trạng của người phụ nữ.
- Khác biệt : Đoạn trích Nỗi sầu oán của người cung nữ diễn tả tâm trạng
người cung nữ sống trong phủ chúa cung vua, Tình cảnh lẻ loi của người chinh
phụ là tâm trạng của người phụ nữ khi có chồng đi chinh chiến. Nỗi đau của
người cung nữ bị ruồng bỏ có phần đau xót hơn, tuyệt vọng hơn. Người phụ nữ
đợi chờ chồng đi chinh chiến trở về có buồn bã, lẻ loi song nàng được làm chủ
cuộc sống của mình, vì thế, nàng vẫn hi vọng, tin tưởng vào tương lai dù có xa
mờ. Nguyễn Gia Thiều xuất thân từ gia đình đại quý tộc, sống trong cung vua từ
nhỏ, vì thế, ngôn ngữ có phần trang trọng, đài các hơn, hệ thống điển cố, điển
tích sử dụng nhiều hơn so với ngôn ngữ thuần Việt từ bản dịch của Đoàn Thị
Điểm.
- Lí giải nguyên nhân : Có sự tương đồng vì cả hai tác giả đều có sự rung
cảm trước số phận, cuộc đời người phụ nữ, thương xót và bênh vực quyền sống
của họ. Nhưng bản chất văn chương là sự sáng tạo, nó không cho nhà văn được
lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Sự sáng tạo là yêu cầu cốt yếu của sáng
tạo nghệ thuật.
2.3. Dạng đề tổng hợp
2.3.1. Nhận diện đề
Dạng đề này thường là những nhận định mang tính khái quát về một trào
lưu, mọt giai đoạn, một đặc điểm văn học, một nhóm tác phẩm,… nhiều khi
dạng đề này chỉ nêu lên một mệnh đề tổng quát và yêu cầu người viết sử dụng
các thao tác nghị luận để làm sáng tỏ vấn đề.
Ví dụ :
Đề thi chọn học sinh giỏi lớp 12 năm 1982

a.Giải thích khái niệm chủ nghĩa nhân đạo : Cùng với chủ nghĩa yêu nước,
chủ nghĩa nhân đạo là một trong hai nguồn cảm hứng xuyên suốt văn học Việt
Nam qua trường kì lịch sử. Chủ nghĩa nhân đạo là lòng yêu thương con người,
thể hiện niềm tin vào con người trong những hoàn cảnh khó khăn, khắc nghiệt
nhất. Ở mỗi thời kì văn học, chủ nghĩa nhân đạo lại có những biểu hiện riêng.
Song, nhìn một cách tổng quát, chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại có 4
biểu hiện chính : các nhà văn đồng cảm xót thương cho cuộc đời đau khổ của
con người, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh; phát hiện, ngợi ca những
phẩm chất tốt đẹp của họ, tố cáo thế lực phong kiến chà đạp lên quyền sống của
con người, đồng thời, đứng trên lập trường nhân sinh, các nhà văn bênh vực và
khẳng định quyền sống cho họ.
b.Phân tích chủ nghĩa nhân đạo trong văn học trung đại
- Niềm đồng cảm xót thương cho cuộc đời đau khổ của con người, đặc
biệt là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh của các nhà văn : tuỳ vào năng lực văn
học, học sinh có thể lấy các tác phẩm “Truyện Kiều”, Cung oán ngâm, Chinh
phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, …phân tích để làm sáng rõ vấn đề.
- Các nhà văn phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của họ.
+ Những người phụ nữ đẹp người, đẹp nết (Vũ Nương, Thuý Kiều, Thuý
Vân, Kiều Nguyệt Nga..)
+ Đó còn là người phụ nữ tài năng, đức hạnh (Vũ Nương, Thuý Kiều,…)
+ Người phụ nữ khao khát cuộc sống gia đình hạnh phúc, bình yên (Thuý
Kiều, Vũ Nương,…)
+Người phụ nữ có tấm lòng vị tha, nhân hậu, thuỷ chung, tình nghĩa,…
- Các nhà văn còn tố cáo thế lực phong kiến chà đạp lên quyền sống của
con người: thế lực sai nha, quan lại, vua chúa, bọn buôn thịt bán người, thế lực
đồng tiền, ……
- Đứng trên lập trường nhân sinh, các nhà văn bênh vực và khẳng định
quyền sống cho họ : Vũ Nương đau khổ, bị nghi oan phải tự vẫn nhưng rồi nỗi

24

Anh/chị hiểu quan niệm trên như thế nào ? Hãy làm sáng tỏ qua một số truyện
cổ tích đã học trong chương trình Ngữ văn 10.
6. Giấc mơ của nhân dân qua truyện cổ tích “Tấm Cám”, “Chử Đồng Tử”.
7. Triết lí ở hiền gặp lành của nhân dân qua truyện cổ tích.
8. Hình tượng người phụ nữ qua một số bài ca dao.
9. Vẻ đẹp tâm hồn nhân dân lao động qua ca dao Việt Nam.
10. Sức sống của nhân dân lao động qua văn học dân gian.
11. Lịch sử văn học của một dân tộc là lịch sử tâm hồn của dân tộc ấy.
Anh/chị hiểu quan niệm trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ qua thực tế văn học
dân gian.
12. Thân phận người phụ nữ qua chùm ca dao than thân.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status