Vấn đề 1: Mặt trận tổ quốc Việt Nam
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện
nay. Sự qui định này là do yêu cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng, là xuất phát tư thể
chế chính trị: nước ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây là vấn đề lịch
sử, vấn đề truyền thống. Vai trò của Mặt trận không phải tự Mặt trận đặt ra mà là do chính
nhân dân, chính lịch sử thừa nhận.
Từ khi có Đảng là có Mặt trận, ngay sau khi nhân dân giành được chính quyền, Mặt trận
đã trở thành một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và
phương thức hoạt động của từng bộ phận cấu thành trong hệ thống chính trị có khác nhau
nhưng đều là công cụ thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhằm một mục
đích chung là: Phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân
chủ và giàu mạnh, có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã xác định:
"Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức
chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai
cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân... ” điều đó càng
khẳng định Mặt trận Tổ quốcViệt nam là một bộ phận không thể thiếu được của hệ thống
chính trị nước ta.
* Nhiệm vụ của Mặt trận tổ quốc Việt Nam:
Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là:
- Tập hợp xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và
tinh thần trong nhân dân.
- Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ
trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật.
- Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà
nước.
- Tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước.
- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân.
- Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các
Giám sát và phản biện xã hội mang tính nhân dân, tính dân chủ xã hội chủ nghĩa, tính
xây dựng, tính khoa học và thực tiễn. Phản biện xã hội là một hoạt động rộng rãi mang tính
nhân dân và có tổ chức, là việc một tổ chức đưa ra những chứng lý, lý lẽ, căn cứ khoa học để
làm rõ bản chất của một vấn đề, một sự kiện nào đó, là cơ sở để đưa ra một một chủ trương,
chính sách, quyết định hợp lý, hợp pháp.
Phản biện xã hội của MTTQ Việt Nam là nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân
tham gia xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật và chính sách cụ thể của nhà
nước, góp phần hoàn thiện các chủ trương, chính sách, pháp luật sát hợp với thực tiễn của
đời sống xã hội, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng và thể hiện được ý chí, nguyện
vọng của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, thông qua hoạt động phản biện xã hội, sẽ góp
phần nâng cao vai trò của MTTQ Việt Nam trong việc xây dựng, tập hợp khối đại đoàn kết
dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng,
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Nguyên tắc giám sát và phản biện xã hội
1- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể chính trị - xã hội.
2- Có sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị
- xã hội với các cơ quan, tổ chức có liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ
quan, tổ chức, cá nhân được giám sát và phản biện xã hội.
3- Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang tính xây dựng.
4- Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của thành viên, đoàn viên, hội viên, lợi ích quốc gia, dân tộc.
2
2
II. Bài tập tình huống 1: Giải thích “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”
thế thì công việc mới thành công “Trong mọi việc đều phải dựa vào quần chúng… Lấy sức
quần chúng mà vượt khó khăn…”. “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu
cũng xong”, lực lượng toàn dân là lực lượng vĩ đại hơn hết; Không ai chiến thắng được lực
lượng đó. Xuất phát từ quan điểm ấy, Bác đã tha thiết kêu gọi tất cả mọi người dân yêu
nước, không phân biệt tầng lớp nào, tín ngưỡng nào; chúng ta hãy thật thà cộng tác vì dân vì
nước. Người căn dặn: Cần xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân. Như vậy, lực lượng làm nên thành bại của cách
mạng, thành công của công cuộc kiến thiết nước nhà đi tới ấm no, hạnh phúc và bảo vệ vững
chắc chủ quyền, độc lập, thống nhất Tổ quốc, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi thời đại, mọi hoàn
cảnh chính là dân, nhân dân.
3
3
Cũng trong tư tưởng của Người về “ Dân vận khéo”, tiêu chí để đánh giá dân vận khéo là
hiệu quả của công tác dân vận và “thành công” là tiêu chí cũng là dấu hiệu đúng đắn duy
nhất cho biết một hoạt động dân vận là “khéo”.
Khi nói “Dân vận khéo”, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, trong từng thời kỳ cách mạng, cũng
như trong từng thời gian cụ thể, việc xác định mục tiêu, nội dung dân vận đúng hay không
đúng sẽ quyết định đến việc thành công hay không thành công của cách mạng. “Dân vận
khéo” như Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu, thì điều có ý nghĩa quyết định là phải xác định
đúng đắn mục tiêu và nội dung của công tác này, và bằng mọi cách biến mục tiêu, nội dung
đó thành sự thật.
Khéo: là sự tinh tế, khéo nắm bắt, đánh trúng tâm lý, suy nghỉ của người nghe, tùy từng
đối tượng, độ tuổi, trình độ mà có sự tinh tế trong cách vận động, đó là một nghệ thuật.
Dân vận khéo là dân vận sát dân. Bác nói : "cách làm việc, cách tổ chức, nói chuyện,
tuyên truyền, khẩu hiệu, viết báo..." của chúng ta đều phải lấy câu này làm khuôn phép "Từ
trong quần chúng mà ra. Về sâu trong quần chúng". Nghĩa là "Bất cứ việc to, việc nhỏ,
chúng ta phải xét rõ và làm cho phù hợp với trình độ văn hóa, thói quen sinh hoạt, trình độ
xây dựng và thực hành phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách
nhiệm với dân”. Rèn luyện cho cán bộ, công chức biết cách vận dụng thành thạo các bước
công tác: Điều tra, nghiên cứu, khảo sát nắm chắc tình hình nhân dân trên địa bàn thông
qua các kênh thông tin khác nhau, các hoạt động của các tổ chức đoàn thể...; tuyên truyền,
giáo dục nhân dân về chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nước, quy định ở địa phương; vận động, thuyết phục nhân dân hưởng ứng, tham gia
phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, quốc
phòng, phong trào “xóa đói, giảm nghèo”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa”; hướng dẫn nhân dân thực hiện nếp sống văn minh, phát triển sản xuất, ứng dụng
khoa học - kỹ thuật để nâng cao năng suất lao động…
Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở tiến hành công
tác dân vận.
Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân trực tiếp lãnh đạo tiến hành công tác dân vận. Do vậy,
cấp ủy đảng ở cơ sở phải đề ra chủ trương, biện pháp cụ thể cho từng thời gian nhất định;
giao trách nhiệm dân vận cho từng cán bộ, đảng viên; lãnh đạo chính quyền, mặt trận Tổ
quốc, đoàn thanh niên, hội nông dân, hội phụ nữ, hội chiến binh cùng tiến hành công tác
dân vận. Đặc biệt, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức trong hệ thống
chính trị và lãnh đạo, chỉ đạo việc kiểm tra, đôn đốc, phối hợp giữa các tổ chức trong công
tác dân vận phải nhịp nhàng, đồng bộ.
Bốn là, xây dựng và nhân rộng mô hình “dân vận khéo”.
5
5
Để xây dựng được mô hình "dân vận khéo" đòi hỏi cấp ủy mỗi địa phương phải có chủ
trương, kế hoạch sát thực tế và thực hiện chặt chẽ các khâu: Lựa chọn mô hình; dự kiến
nhân sự; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp dân vận; xây dựng cơ sở vật chất và
điều kiện cần thiết cho công tác dân vận; thử nghiệm mô hình và tổ chức rút kinh nghiệm;
học tập, vận dụng để nhân rộng mô hình.
tiêu thụ nông sản, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, chuyển giao tiến bộ khoa học, kỷ thuật,
công nghệ mới để có năng suất chất lượng sản phẩm hàng hóa cao, khai thác tiềm năng, phát
huy nội lực, cần kiệm phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác.
- Tổ chức, hướng dẫn nông dân chuyển dịch cơ cấu nông ngiệp, phát triển ngành nghề,
khai thác và sử dụng có hiệu quả đất trống, đồi núi trọc, mặt nước ao hồ, đầm phá ven biển,
phát triển các hình thức kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề,
dịch vụ.
- Chủ động tham gia vào chương trình quốc tế về xóa đói, giảm nghèo, vươn lên làm
giàu bằng việc hướng đẫn người nghèo cách làm ăn về khuyến nông, khuyến lâm theo
phương thức "cầm tay chỉ việc", giúp đỡ nhau tiêu thụ sản phẩm, xây dựng tổ hội nghề
nghiệp, tổ đoàn kết, tổ hợp tác, HTX, tổ tương trợ, tổ liên doanh liên kết, giúp các hộ nghèo
đói vươn lên.
- Phát huy vai trò làm chủ của nông dân tham gia xây dựng hương ước, quy ước làng,
xã, thực hiện quy chế dân chủ ở nông thôn. Xây dựng Đ, xây dựng chính quyền vững mạnh,
thực hiện "Dân biết dân làm dân bàn dân kiểm tra". Những việc chung và những việc có liên
quan đến quyền lợi và ghĩa vụ của ND làm tốt công tác hoàn giải và các mâu thuẩn trong nội
bộ của nông dân được giải quyết tốt ở cơ sở, xây dựng VH tinh thần, nếp sống lành mạnh,
tiết kiệm trong việc ma chay, cưới xin, lễ hội; tích cực phòng chóng các tệ nạn xã hội, giữ
gìn vệ sinh môi trường ở nông thôn.
7
7
- Đổi mới phương thức hoạt động theo hướng đa dạng, thiết thực để thu hút và tập hợp
đông đảo nông dân tham gia hoạt động hội:
+ Tăng cường các hoạt động dịch vụ hỗ trợ ND về vốn, kỷ thuật, công nghệ, tiêu thụ sp,
thông tin thị trường,... nhằm phục vụ cho sx, kinh doanh và tổ chức đời sống. Chú trọng
phương thức chỉ đạo điểm, xây dựng mô hình trình diễn, xây dựng các chi hội, tổ hội, hội
viên thành những điển hình tiên tiến, tổng kết rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng để nhiều
phương, đơn vị, mọi việc thực hiện đúng nguyên tắc "dân biết dân bàn dân làm dân kiểm
tra". Chống mọi biểu hiện quan liêu coi thường dân.
* Những thách thức của hội nông dân VN hiện nay là:
Trong những năm sắp tới, nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn trong
phát triển kinh tế - xã hội và còn nhiều vấn đề xã hội bức xúc ở nông thôn cần phải giải
quyết. Các giá trị văn hoá truyền thống đứng trước thách thức bị mai một; ô nhiễm môi
trường nông thôn, tệ nạn xã hội gia tăng, an ninh trật tự trên địa bàn nông thôn còn diễn
biến phức tạp. Nông nghiệp nước ta tiếp tục chịu áp lực cạnh tranh rất lớn do sản xuất
8
8
nhỏ, phân tán, lạc hậu, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp, tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn thực phẩm chưa đáp ứng yêu cầu. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp
còn yếu kém. Trình độ văn hoá, tay nghề, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Tăng
trưởng nông nghiệp mới chỉ tạo ra khối lượng nhiều, nhưng giá trị thấp; hiệu quả sử
dụng đất đai, tài nguyên chưa cao.
Do tác động của quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá nông thôn và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nông dân sẽ ngày càng giảm đi về số lượng, nhưng chất lượng ngày càng
tăng lên. Theo dự báo, lao động nông nghiệp nước ta sẽ còn khoảng 40% lao động xã
hội vào năm 2015 và 30% vào năm 2020. Một bộ phận nông dân thiếu đất, thiếu việc
làm cùng với ảnh hưởng của thiên tai, bão lụt, dịch bệnh, cạnh tranh của cơ chế thị
trường… làm cho phân hoá giàu, nghèo diễn ra nhanh hơn, tác động sâu sắc đến sản
xuất, đời sống của một bộ phận nông dân và nảy sinh những vấn đề xã hội bức xúc ở
nông thôn.
Tình hình trên, sẽ tạo ra cả những cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của
nông nghiệp, nông thôn, của giai cấp nông dân và tổ chức Hội Nông dân trong thời gian
tới. Đòi hỏi tổ chức Hội Nông dân các cấp phải vươn lên ngang tầm với nhiệm vụ, đáp
ứng những yêu cầu mới của thực tiễn đặt ra về nâng cao nhận thức chính trị, trình độ
luận:“Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”.
Người cán bộ dân vận không ngừng bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trình độ
năng lực nghiệp vụ, nắm vững những quan điểm, mục tiêu, nội dung, quy trình, phương thức
công tác dân vận, mà còn phải ra sức rèn luyện tác phong người cán bộ dân vận. Chủ tịch Hồ
Chí Minh yêu cầu người cán bộ dân vận phải có tác phong làm việc “đúng” và “khéo”. Đây
là vấn đề có ý nghĩa hết sức cơ bản và thời sự đối với người làm công tác dân vận.
Cán bộ “dân vận khéo”, theo Hồ Chí Minh, đó phải là những người có kỹ năng nghiệp
vụ. Kỹ năng ấy bao gồm: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”. Nghĩa
là phải vận dụng “ngũ quan”, hiểu rõ thực tế, nói phải đi đôi với làm. Phải có óc nghiên cứu
để nắm vững bản chất của con người, của sự việc. Bên cạnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn
nhắc nhở: “Dân vận khéo” là phải tránh bệnh chủ quan, phải phát huy dân chủ. Bởi theo
Người: “Có dân chủ mới làm cho cán bộ và quần chúng đề ra sáng kiến” và “Có phát huy
dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng
tiến lên”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ dân vận phải có tác phong làm việc “đúng”
và “khéo”. Đây là vấn đề có ý nghĩa hết sức cơ bản và đến nay vẫn còn mang tính thời sự đối
với người làm công tác dân vận.
Một là, người cán bộ làm công tác dân vận nhất thiết phải có tác phong quần chúng. Tác
phong này bắt nguồn từ sự thấm nhuần sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin: quần
chúng là người sáng tạo ra lịch sử, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Có lòng tin vô
tận đối với quần chúng, chăm lo tăng cường mối liên hệ với quần chúng, coi đó là nguồn sức
mạnh tạo nên mọi thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Theo Bác, “nước lấy dân làm gốc”,
10
10
“gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Các tổ chức Đảng, cán bộ,
đảng viên phải thể hiện tinh thần phụ trách trước nhân dân. Bao nhiêu cách tổ chức và cách
làm việc đều vì lợi ích của quần chúng. Vì vậy, cách tổ chức và cách làm việc nào không phù
thực hiện, không được ngồi trên bàn giấy, nghe người dân báo cáo rồi vẽ vời, do chủ quan
tưởng tượng mà không đi sâu đi sát thực tế. Người kịch liệt phê phán những lối làm việc
không thiết thực, làm cho có chuyện, làm được ít suýt ra nhiều, “để làm một bản báo cáo cho
oai, nhưng xét kỹ lại rỗng tuyếch”.
Bốn là, người cán bộ dân vận phải có tác phong “miệng nói, tay làm”, là nói và làm
thống nhất, nói và làm đi liền với nhau. Đối lập với tác phong “miệng nói, tay làm” là lối
“chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”, tức là nói mà không làm của những người hứa
suông, hoặc “nói một đàng, làm một nẻo” của những kẻ cơ hội. Người cán bộ dân vận phải
“thật thà nhúng tay vào việc”, phải làm việc một cách thật sự, cùng lao động, cùng chiến đấu,
lăn vào cuộc sống hằng ngày của quần chúng để thực hiện mục đích của công tác dân vận.
“Miệng nói, tay làm”, nhưng là làm có hiệu quả vì lợi ích của nhân dân, là một nội dung đạo
đức truyền thống của dân tộc Việt Nam.
11
11
Điều tối kỵ đối với cán bộ dân vận là “nói nhiều làm ít”, hoặc làm ngược điều mình nói,
hoặc nói cho người khác làm, còn bản thân mình thì “đánh trống, bỏ dùi”, hứa hươu, hứa
vượn, vô cảm trước những bức xúc của người khác.
Năm là, người cán bộ dân vận phải có “tác phong nêu gương”. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống; mọi lúc, mọi
nơi, phải “nêu gương” để quần chúng noi theo. Theo Người, “nói chung thì các dân tộc
phương Đông giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm
bài diễn văn tuyên truyền. Tác phong “nêu gương” có sức thuyết phục và hướng dẫn rất
lớn”.
Dân vận trong lời giải thích, vận động, thuyết phục, chưa đủ. Cần phải dân vận trong
hành động, trong cuộc sống, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống. Đức tính giản dị,
hành động gương mẫu là tấm gương sống của cán bộ, đảng viên.
Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một cái gì đó quá cao xa,
12
12
- Óc nghĩ: Điều này được Hồ Chí Minh đặt ở vị trí hàng đầu, cho thấy người đặc biệt
đề cao trí tuệ và yêu cầu về sự “động não” của người làm công tác dân vận.
Bác Hồ muốn khẳng định, công tác dân vận không chỉ là những thao tác cụ thể, những
công thức có sẵn mà bản thân nó là một khoa học -khoa học về con người, một nghệ thuật nghệ thuật tiếp cận và vận động con người, phải dày công tìm tòi suy nghĩ để phân tích
chính xác tình hình nhân dân, vận dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn sinh động để vận
động nhân dân có hiệu quả.
- Mắt trông: Là quan sát mọi sự việc, hiện tượng từ thực tiễn phong trào cách mạng
của quần chúng, để “trăm nghe không bằng một thấy”. Với sự nhạy cảm, tinh tế trong quan
sát, kết hợp với “óc nghĩ” xác định được đúng, sai, nhận rõ bản chất và hiện tựợng của
từng sự việc, từng vấn đề để làm đúng, tham mưu kịp thời cho Đảng và Nhà nước để có
cách giải pháp đúng đắn kịp thời đưa phong trào của quần chúng đi đúng hướng. Ở điểm
này, Hồ Chí Minh muốn nhắc nhở cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải thường
xuyên sâu sát cơ sở. Vì chỉ có sát cơ sở mới có thể “thấy” mọi sự việc, vấnđề. Theo đó,
muốn vận động quần chúng một cách thiết thực, muốn làm tốt vai trò tham mưu phải “mục
sở thị” được các sự việc và vấn đề liên quan đến công tác dân vận.
- Tai nghe: là một phương pháp khoa học của công tác dân vận, theo Hồ Chí Minh cũng
với “óc nghĩ”, “mắt trông”, người làm công tác dân vận còn phải đồng thời nắm bắt kịp
thời các thông tin từ quần chúng. Đòi hỏi phải biết nghe dân nói, từ đó mà hiểu được những
tâm tư, nguyện vọng chính đáng của dân; loại trừ những thông tin thiếu chân thực, chính
xác. Nghe dân nói, cũng là để biết dân đã hiểu gì, hiểu đến mức như thế nào, đã làm như thế
nào và làm được đến đâu. Về bản thân, mình cũng thấy được những gì cần phải bổ sung,
điều chỉnh khi thực hiện công tác dân vận.
- Chân đi: là yêu cầu gắn với cơ sở, một đòi hỏi bức thiết, luôn đặt ra đối với cán bộ
dân vận, đây cũng là một yếu tố chống căn bệnh quan liêu, hành chính, làm việc theo kiểu
dân để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân mà giúp dân giải quyết các công việc
cụ thể, đề xuất chính sách hoặc điều chỉnh chính sách cho phù hợp, vận động nhân dân thực
hiện các chủ trương, chính sách.
“Miệng nói, tay làm” là phong cách quan trọng nhất hiện nay, “phải thật thà nhúng
tay vào việc”, không được nói một đằng, làm một nẻo, miệng thì vận động người khác
nhưng mình thì không làm hoặc làm ngược lại. Bác cũng nghiêm khắc phê phán “bệnh nói
suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh”.Đây cũng thể hiện sự nhất quán trong tư tưởng và hành
động thường ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh.
"Óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm" là có sự thống nhất, hòa
quyện chặt chẽ với nhau, bổ sung cho nhau. Đó có thể coi cẩm nang về phương pháp dân
vận cho tất cả cán bộ, đảng viên trong công tác dân vận.
Dân vận trong lời giải thích, vận động, thuyết phục, chưa đủ. Cần phải dân vận trong
hành động, trong cuộc sống, mẫu mực về phẩm chất đạo đức, lối sống. Đức tính giản dị,
hành động gương mẫu là tấm gương sống của cán bộ, đảng viên.
Phong cách dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một cái gì đó quá cao xa,
khó thực hiện mà rất gần gũi, dễ hiểu. Đó là phong cách gần dân, sát dân, quan điểm quần
chúng, sát thực tiễn, rất khoa học, và tất cả đều có điểm xuất phát "bao nhiêu lợi ích vì
dân... phải đặt quyền lợi nhân dân lên trên hết".
14
14
Vấn đề 3: Thanh niên
I./ Vị trí vai trò của thanh niên và của tổ chức đoàn:
Đoàn TNCS HỒ CHÍ MINH là tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên VN do Đảng
CSVN và Chủ tịch HỒ CHÍ MINH sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những
thanh niên tiên tiến, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH, dân giàu .... văn minh.
15
15
II. Bài tập tình huống 3: Trong cách mạng dân tộc dân chủ, công tác dân vận
tưởng là khó nhưng lại dễ, hiện nay trong điều kiện rất thuận lợi thì công tác dân vận
tưởng như dễ mà lại khó.
Trước đây, trong những năm đất nước ta còn nằm dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc,
khi chưa giành được chính quyền, toàn dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên dưới
một lòng, tạo được thế trận lòng dân, kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân để
giành chính quyền về tay nhân dân. Khi Cách mạng thánh Tám thành công, toàn thể dân tộc
Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền
tự do, độc lập ấy; mọi người đều “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, đều có lợi
ích lớn nhất đó là độc lập, thống nhất Tổ quốc; mọi người đều cùng chung cái nghèo, cùng
nhau chia ngọt, xẻ bùi, vui vẻ và xan xẻ cái nghèo như nhau; nhân dân đặt hết niềm tin của
mình vào cán bộ của Đảng; người chỉ huy với người lính thực sự “một lòng phụ tử, hòa
nước sông chén rượu ngọt ngào”. Chính sự gắn bó máu thịt giữa cán bộ với nhân dân, giữa
người chỉ huy với người lính, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tạo nên sức mạnh vật chất và
tinh thần vô cùng to lớn làm nên những chiến thắng lẫy lừng.
Thời kỳ đó, công tác dân vận phải thực hiện trong những điều kiện rất khó khăn như:
Đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, kinh tế lạc hậu, phương tiện kỷ thuật rất thiếu
thốn.
Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác dân vận chưa được đào tạo.
Trình độ dân trí còn thấp nên khả năng tiếp thu chủ trương, đường lối của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước còn hạn chế. Đây chính là một thách thức dành cho cán bộ làm
công tác dân vận lúc bấy giờ.
Tưởng chừng những khó khăn trên sẽ làm giảm hiệu quả của công tác dân vận, trái lại
công tác dân vận thời kỳ này lại diễn ra rất thuận lợi và mang lại kết quả, thắng lợi vô cùng
to lớn. Thành quả có được bắt nguồn từ nguyên nhân:
ảnh hưởng không nhỏ tới người dân mà thậm chí là một bộ phận cán bộ, đảng viên. Họ đặt
lợi ích cá nhân của bản thân lên trên lợi ích của tập thể, nãy sinh tình trạng quan liêu tham
những, đây cũng là một phần nguyên nhân dẫn đến thoái hóa đạo đức của một bộ phận cán
bộ.
Thứ tư là trình độ dân trí cao. Đây vừa là thuận lợi nhưng cũng là khó khăn cho công tác
dân vận. Vì nhiều luồng thông tin chính thống và không chính thống người dân nắm bắt
nhiều lúc nhanh hơn, sâu hơn, rộng hơn cán bộ. Như vậy họ sẽ không biết nên tin vào thông
tin nào, sự nghi ngờ tăng lên, mà cán bộ không vững kiến thức chuyên môn, không khéo léo
nghệ thuật thì sẽ không thể nào thuyết phục được người dân tin vào Đảng, vào chính quyền.
Thứ năm là trong xu thế mở cửa và hội nhập khu vực và thế giới, nước ta đang có nhiều
thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, đặc biệt là âm mưu diễn biến hòa bình của các thế
lực thù địch, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", tăng cường hoạt động chống phá, chia
rẽ nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng; làm
giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; ảnh hưởng xấu đến tâm tư, tình cảm,
nhiệt tình của những người chân chính, của nhiều cán bộ đang lăn lộn nơi khó khăn, vùng
sâu, vùng xa; nhằm làm giảm sức mạnh của lực lượng quần chúng trong sự nghiệp bảo vệ,
xây dựng và phát triển đất nước.
Trong quá trình đổi mới, trước nhiều vấn đề của thực tiễn khi chuyển sang kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ Ðảng-Dân, Nhà nước - Nhân dân đang
nảy sinh những vấn đề mới, những mâu thuẫn mới giữa yêu cầu phát triển và nâng cao đời
sống nhân dân. Công tác dân vận cũng phải giải quyết nhiều vấn đề mới nảy sinh từ cuộc
sống thực tế của các tầng lớp nhân dân mà một trong những vấn đề bức xúc, gây mất lòng tin
của nhân dân là tệ nạn tham nhũng, quan liêu của bộ máy Ðảng, Nhà nước, sự nhũng nhiễu
của một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ
sở. Nhiều việc làm vi phạm quyền dân chủ của nhân dân về kinh tế, chính trị, xã hội thật sự
là những vấn đề phản dân vận, làm cho dân chúng bất bình, suy giảm lòng tin với Ðảng, Nhà
nước.
Tóm lại, trong thời kỳ thực hiện công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tuy
điều kiện rất khó khăn thì công tác dân vận tưởng chừng rất khó mà lại dễ vì: mục tiêu
chung của Đảng và nhân dân đó là: cách mạng giành độc lập dân tộc, giành lại cuộc sống
18
18