Câu 1. Ý thức xã hội là gì?
Tính độc lập tương đối của ý
thức xã hội? Vận dụng vào
thực tiễn.
Trả lời:
1. Đặt vấn đề
2. Nội dung
2.1. Khái niệm
YTXH là mặt tinh
thần của đời sống xã hội, bao
gồm toàn bộ những quan
điểm, tư tưởng cùng những
tình cảm, tâm trạng, … của
những công đồng xã hội nảy
sinh từ tồn tại xã hội của họ và
phản ánh tồn tại xã hội đó
trong những giai đoạn lịch sử
cụ thể nhất định.
2.2. Tính độc lập
tương đối của ý thức xã hội
2.2.1. Ý thức xã hội
thường lạc hậu hơn so với tồn
tại xã hội
- Do sức ì của tâm lí
xã hội, nhất là thói quen,
phong tục tập quán, truyền
thống bám rễ tương đối bền
vững trong cá nhân và cộng
đồng.
- Trong YTXH có
những yếu tố bảo thủ như ý
có cơ sở.
2.2.3. Ý thức xã hội
có tính kế thừa trong sự phát
triển của mình
- Không thể giải thích
hiện tượng YTXH đơn thuần
từ tồn tại XH
- Trong XH có giai
cấp, sự kế thừa trong ý thức
XH cũng mang tính giai cấp.
- Tính kế thừa của
YTXH theo quan điểm của
chủ nghĩa Mác- Lênin có ý
nghĩa to lớn trong việc xây
dựng văn hóa tinh thần XHCN
ở nước ta hiện nay.
2.2.4. Sự tác động
qua lại giữa các hình thái
YTXH trong sự phát triển của
chúng
Các hình thái ý thức
xã hội tác động lẫn nhau. Sự
tác động qua lại lẫn nhau giữa
các hình thái YTXH vừa là sự
biểu hiện của tính tương đối
của YTXH vừa là qui luật phát
triển của YTXH.
2.2.5. Sự tác động trở
lại của YTXH đối với TTXH
quần chúng nhân dân.
+ Năng lực triển khai,
thực hiện YTXH vào hoạt
động thực tiễn của chủ thể
lãnh đạo, quản lí.
2.3. Ý nghĩa phương
pháp luận
2.3.1.Trong
hoạt
động nhận thức cần quán triệt
quan điểm khách quan trong
nhận thức cũng như hoạt
động thực tiễn. Trước hết,
khách quan là những gì tồn tại
độc lập với ý thức con người.
Quan điểm khách quan là quá
trình xem xét, đánh giá sự vật,
hiện tượng phải xuất phát từ
chính bản thân của nó, từ cái
vốn có của nó (như phẩm chất,
năng lực, trình độ, cá tính, thể
chất, lập trường, quan điểm,
niềm tin…), không tô hồng
hay bôi đen. Tuy nhiên trong
quá trình đó không nên hạ
thấp vai trò nhân tố chủ quan
của con người trong nỗ lực
nhận thức cái khách quan.
Phải quán triệt quan điểm
khách quan trong hoạt động
quan của con người, là chăm
lo, tạo mọi điều kiện để mỗi
người, mỗi cộng đồng người
phát huy tối đa năng lực,
phẩm chất của mình trong nỗ
lực nhận thức khách quan.
2.4. Kết luận
Như vây, vật chất và
ý thức có mối quan hệ biện
chứng với nhau, Vật chất có
trước, ý
sau, vật chất là
nguồn gốc của ý thức, quyết
định ý thức, song ý thức có thể
tác động trở lại vật chất thông
qua hoạt động thực tiễn của
con người; vì vậy, con người
phải tôn trọng khách quan,
đồng thời phát huy tính năng
động chủ quan của mình.
3. Liên hệ thực tế
- Trong công tác
tuyển chọn nhân sự cho Đảng
và Nhà nước ở địa phương
hay từng cơ quan đơn vị phải
thật sự nhìn việc chứ không
nhìn người. Tuyển dụng một
cán bộ trẻ dù có bằng cấp đầy
đủ nhưng trước tiên phải xem
người đó ra làm sao, bằng cấp
con người nhằm cải tạo thế
giới xung quanh.
Thực tiễn và lý luận
luôn nằm trong mối quan hệ
biện chứng với nhau.
2.2. Mối quan hệ
giữa lý luận và thực tiễn
2.2.1. Thực tiễn luôn
đóng vai trò quyết định đối
với lý luận
- Thực tiễn là cơ sở
cho quá trình nhận thức (lý
luận), thông qua hoạt động
thực tiễn sẽ cung cấp cho con
người những tư liệu, tài liệu
để nghiên cứu. Cũng thông
qua đó, con người chế tạo ra
công cụ, phương tiện lao
động, giác quan con người
ngày càng hoàn thiện hơn để
từ đó con người ngày càng
hiểu được bản chất sự vật, tích
lũy tri thức, từ đó lý luận hình
thành và phát triển.
- Thực tiễn đặt ra cho
con người những nhiệm vụ để
nghiên cứu, từ đó nhận thức
phát triển. Thực tiễn còn là nơi
rèn luyện giác quan cho con
nghiệm mà lý luận có vai trò
hết sức to lớn đối với hoạt
động thực tiễn của con người.
Lý luận khoa học, thông qua
hoạt động thực tiễn của con
người góp phần làm biến đổi
thế giới khách quan và biến
đổi chính thực tiễn.
- Lý luận xâm nhập
vào trong đời sống nhân dân,
góp phần giáo dục, thuyết
phục, động viên và tập hợp
quần chúng nhân dân, tạo
thành phong trào cách mạng
rộng lớn, làm cải biến các mối
quan hệ xã hội.
- Lý luận do sức
mạnh nội tại của nó, phản ánh
tính vượt trước, từ đó chỉ đạo,
định hướng hoạt động của con
người.
- Sức mạnh của lý
luận thực chất là phải gắn với
hoạt động thực tiễn của con
người bởi vì nếu không có
hoạt động thực tiễn thì lý luận
không thể bộc lộ ra được.
Điều đó được thể hiện trên
những nội dung sau: tính đúng
đắn của lý luận, sự xâm nhập
2.5.1. Trong hoạt
động nhận thức, phủ định của
phủ định là cơ sở cho ta nhận
thức, hiểu biết sự ra đời của
cái mới. Cái mới ra đời dựa
trên cơ sở của cái cũ. Trong
hoạt động nhận thức cần quán
triệt quan điểm thực tiễn vào
cuộc sống. Khi xem xét đánh
giá sự vật phải xuất phát từ
thực tế, tăng cường nghiên
cứu thực tế, tổng kết thực tiễn,
bổ sung và phát triển lý luận,
lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn
thước đo trong quá trình nhận
thức của con người. Bởi vì chỉ
có thực tiễn mới đặt ra cho
con người những vấn đề cần
nghiên cứu và tiếp tục nghiên
cứu. Thực tiễn còn là thước
đo, tiêu chuẩn quá trình nhận
thức của con người. Nếu vi
phạm nguyên tắc thực tiễn sẽ
dẫn đến những sai lầm nhất
định, rơi vào bệnh giáo điều
và chủ nghĩa kinh nghiệm.
2.5.2. Trong hoạt
động thực tiễn, cần chống lại
mọi biểu hiện phủ nhận quá
khứ, quay lưng lại với lịch sử,