15 câu hỏi TRIẾT học – lớp TRUNG cấp lý LUẬN CHÍNH TRỊ - Pdf 44

CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Câu 1. Định nghĩa vật chất của Lê- Nin và ý nghĩa của nó.
Vật chất với tư cách là một phạm trù triết học đã có lịch sử khoảng 2500 năm, ngay từ lúc mới ra
đời, xung quanh vật chất đã diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữ chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm. Đồng thời giống như mọi phạm trú khác, phạm trù vật chất có quá trình
phát sinh và phát triển gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người với sự hiểu biết của con
người về thế giới tự nhiên.
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật thì thực thể của thế giới là vật chất, cái tồn tại một cách
vĩnh cữu tạo nên mọi sự vật và hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng. Vào thời cổ đại
các Triết học duy vật đã đồng nhất vật chất nói chung với những dạng cụ thể của nó, tức là
những vật thể hữu hình, đang tồn tại ở thế giới bên ngoài.
Ở Trung Hoa cổ đại, các nhà duy vật coi khí là thực thể của thế giới, ở Ấn độ cổ đại phái Nyaya
coi nguyên tử là thực thể của thế giới, ở Hy lạp cổ đại Talet coi thực thể của thế giới là nước,
Anaximen coi thực thể ấy là khí còn Hêraclit coi thực thể ấy là lửa. Phủ nhận quan điểm thực thể
thế giới là một chất cụ thể, coi thực thể thế giới là 4 chất Đất, nước, lửa, không khí. Anaximadrơ
cho rằng thực thể của thế giới là một bản nguyên không xác định về chất và vô cùng, vô tận về
mặt lượng, đó là aperôn. Đỉnh cao của thuyết duy vật cổ đại về vật chất đó là thuyết nguyên tử
của Lơxip và Đêmôcrít. Nguyên tử là các phần cực nhỏ, cứng, không thể xâm nhập, không cảm
giác được, nguyên tử có thể nhận biết bằng tư duy. Còn các nhà duy tâm thì cho rằng (Platon)
Vật chất là cái không tồn tại, tồn tại là cái phi vật chất, bản nguyên của tinh thần siêu nhiên.
Thời kỳ phục hưng đặc biệt là thời kỳ cận đại thế kỷ thư 17 - 18, vật chất được đồng nhất với vật
thể, với nguyên tử hay ête, sự thống trị của quan điểm máy móc, siêu hình về vận động của vật
chất. Thời kỳ này trong chủ nghĩa duy tâm đáng kể nhất là Becơli, Hium.., Becơli tuyệt đối hoá
vai trò của chủ thể nhận thức tuyên bố "tồn tại nghĩa là được tri giác"
Từ nữa thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 trung tâm Triết học chuyển từ Anh và Pháp sang Đức, tại đây chủ
nghĩa duy tâm thống trị. Hêghen - nhà duy tâm điển hình xem toàn bộ thế giới tự nhiên, thực tiễn
chỉ là sự biểu hiện, sự triển khai ý niệm hay tinh thần tuyệt đối..
Sự khủng hoảng của thế giới quan trong vật lý cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, sự ra đời của chủ
nghĩa duy tâm vật lý học, quan niệm duy tâm - bất khả tri về cái gọi là "vật chất biến mất."
Định nghĩa vật chất của Lênin trong tác phẩm chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê

trúc phân tử, nguyên tử những chúng tồn tại khách quan, có trước ý thức và quyết định ý thức,
bởi vậy chúng chính là vật chất dưới dạng xã hội. Thuộc tính này cũng là tiêu chuẩn để khẳng
định thế giới vật chất có tồn tại thật sự, tồn tại do chính nó hay không. Bởi vậy thuộc tính đó là
cơ sở khoa học để đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm.
Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác chúng ta chép lại chụp lại,
phản ánh nghĩa là vật chất tồn tại khách quan nhưng không phải tồn tại trừu tượng mà là tồn tại
hiện thực, cụ thể, cảm tính. Khi vất chất tác động lên các giác quan của con người thì gây ra cảm
giác ở con người, đem lại cho con người sự nhận thức về chính nó, như vậy khả năng nhận thức
của con người đối với vật chất chính là xuất phát từ thuộc tính tồn tại cảm tính tức là sự tồn tại
của bản thân vật chất.
Bởi vậy về nguyên tắc đối với vật chất, thì chỉ có cái con người chưa nhận thức được chứ không
thể có cái con người không thể nhận thức được. Đó chính là cơ sở để khoa học đấu tranh chống
lại "thuyết không thể biết"
Vật chất được đem lại cho con người trong cảm giác tức lànó là nguồn gốc, nguyên nhân của
cảm giác, của ý thức, nó có trước ý thức và tạo nên nội dung của ý thức. Còn cảm giác hay ý
thức là sự chép lại chụp lại, phản ánh, nó có sau so với vật chất. Rõ ràng vật chất là tính thứ nhất,
ý thức là tính thứ hai, vật chất quyết định ý thức.
Định nghĩa vật chất của Lênin khắc phục được tính trực quan siêu hình, máy móc trong quan
niệm vật chất của chủ nghĩa duy vật cũ, do đó làm cho chủ nghĩa duy vật phát triển lên một trình
độ mới, trở thành chủ nghĩa duy vật biện chứng, tạo cơ sở khoa học cho sự thống nhất giữa chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa lịch sử. Định nghĩa này cũng chính cơ sở khoa học và là
vũ khí tư tưởng để đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, cả duy tâm khách quan lẫn duy tâm chủ
quan và thuyết không thể biết một cách có hiệu quả để đảm bảo sự đứng vững cho chủ nghĩa duy
vật trước sự phát triển mới của khoa học tự nhiên.
Định nghĩa vật chất của Lênin cũng trang bị thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho các
nhà khoa học nghiên cứu thế giới vật chất, động viên cổ vũ họ tin ở khả năng nhận thức của con
người, tiếp tục đi sâu, khám phá những thuộc tính mới của vật chất. Do vậy, định nghĩa này đã có
tác dụng đưa khoa học tự nhiên và nhất là vật lý học thoát khỏi khủng hoảng vào cuối thế kỷ 19
đầu thế kỷ 20 để tiếp tục tiến lên. Cho đến nay, mặc dù khoa học đã tiến lên một bước rất dài so
với định nghĩa vật chất của Lênin (được viết trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh

quanh,sự tác động của thế giới vật chất vào bộ não ngưòi,tạo thành nguồn gốc tự nhiên .
Lao động và ngôn ngữ(tiếng nói,chữ viết )trong hoạt động thực tiễn cùng với nguồn gốc tự nhiên
quyết định sự hình thành,tồn tại và phát triển của ý thức .
Mặt khác,ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.Vật chất là đối tượng,khách thể
của ý thức,nó quy định nội dung,hình thức,khả năng và quá trình vận động của ý thức .
-Tác động trở lại của ý thức
Ý thức do vật chất sinh ra và quy định,nhưng ý thức lại có tính độc lập tương đối của nó.Hơn
nữa,sự phản ánh của ý thức đối với vật chất là sự phản ánh tinh thần,phản ánh sáng tạo và chủ
động chứ không thụ động,máy móc,nguyên si thế giới vật chất,vì vậy nó có tác động trở lại đối
với vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người .
Dựa trên các tri thức về quy luật khách quan,con người đề ra mục tiêu,phương hướng,xác định
phương pháp,dùng ý chí để thực hiện mục tiêu ấy.Vì vậy,ý thức tác động đến vật chất theo hai
hướng chủ yếu :Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất,hoàn cảnh khách quan thì sẽ
thúc đẩy tạo sự thuận lợi cho sự phát triển của đối tượng vật chất.Ngược lại,nếu ý thức phản ánh
sai lệch hiện thực sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách
quan,do đó:sẽ kìm hãm sự phát triển của vật chất.
Tuy vậy,sự tác động của ý thức đối với vật chất cũng chỉ với một mức độ nhất định chứ nó không
thể sinh ra hoặc tiêu diệt các quy luật vận động của vật chất được.Và suy cho cùng,dù ở mức độ
nào nó vẫn phải dựa trên cơ sở sự phản ánh thế giới vật chất .
Biểu hiện ở mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong đời sống xã hội là quan hệ giữa tồn tại xã


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

hội và ý thức xã hội,trong đó tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội,đồng thời ý thức xã hội có
tính độc lập tương đối và tác động trở lại tồn tại xã hội .
Ngoài ra, mối quan hệ giữa vật chất và ý thức còn là cơ sở để nghiên cứu,xem xét các mối quan
hệ khác như: lý luận và thực tiễn,khách thể và chủ thể,vấn đề chân lý …
3. Ý nghĩa phương pháp luận
Do vật chất là nguồn gốc và là cái quyết định đối với ý thức, cho nên để nhận thức cái đúng đắn

Thứ nhất: Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng thông qua cái riêng. Điều đó có nghĩa là cái chung
thực sự tồn tại, nhưng nó chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng chứ không tồn tại biệt
lập, bên ngoài cái riêng.
Thứ hai: Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Điều đó có ý nghĩa là cái riêng
tồn tại độc lập nhưng sự tồn tại độc lập đó không có nghĩa cái riêng hoàn toàn cô lập với cái
khác. Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Cái riêng
không những chỉ tồn tại cái riêng hoàn toàn cô lập với cái khác. Ngược lại, bất kỳ cái riêng nào
cũng nằm trong mối liên hệ dẫn tới cái chung. Cái riêng không những chỉ tồn tại trong mối liên
hệ dẫn tới cái chung, mà thông qua hàng nghìn sự chuyển hóa, nó còn liên hệ với cái riêng thuộc
loại khác.
Thứ ba: Cái chung là bộ phận của cái riêng còn cái riêng không ra nhập hết vào cái chung vì bên
cạnh các thuộc tính được lặp lại các sự vật khác, tức là bên cạnh cái chung bất cứ cái riêng nào
cũng còn chứa đựng những cái đơn nhất tức là những nét, những mặt, những thuộc tính... chỉ vốn
có ở nó và không tồn tại ở bất kỳ sự vật nào khác. Cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái
chung sâu sắc hơn cái riêng.
Thứ tư: Trong quá trình phát triển khách quan, trong những điều kiện nhất định cái đơn nhất có
thể chuyển hóa thành cái chung và ngược lại. Sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung đó
là sự ra đời của cái mới. Sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất đó là sự mất dần đi cái
cũ.
• Ý nghĩa của việc nghiên cứu cặp phạm trù này.
Cái chung và cái riêng gắn bó chặt chẽ không thể tách rời nên:
- Không được tách cái chung ra khỏi cái riêng. Không được tuyệt đối hóa cái chung. Nếu tuyệt
đối hóa cái chung sẽ mắc phải quan điểm sai lầm tả khuynh giáo điều. Muốn tìm ra cái chung
phải nghiên cứu từng cái riêng, thông qua cái riêng. Phê phán quan điểm sai lầm của phái duy
thực: cho rằng chỉ tồn tại cái chung không phụ thuộc vào cái riêng và sinh ra cái riêng. Cái riêng
thì hoặc là không tồn tại, hoặc nếu có tồn tại thì cũng là do cái chung sinh ra va chỉ tạm thời. Cái
riêng sinh ra và chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định rồi mất đi, cái chung mới là cái tồn tại
vĩnh viễn.
- Không được tách rời cái riêng ra khỏi cái chung, không được tuyệt đối hóa cái riêng. Nếu tuyệt
đối hóa cái riêng sẽ mắc phải quan điểm sai lầm hữu khuynh xét lại, phê phán quan điểm sai lầm

giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy thành một phạm trù mới”. hơn nữa, mâu thuẫn
biện chứng chính là nguồn gốc của sự vận động và phát triển. Nhấn mạnh điều này, V.I.Lênin đã
viết: “Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Sự thống nhất của các mặt đối
lập là sự nương tựa lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt
này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Như vậy, cũng có thể xem sự thống nhất của hai
mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó. Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có
những nhân tố giống nhau, đồng nhất với nhau. Với ý nghĩa đó, “sự thống nhất của các mặt đối
lập” còn bao hàm sự “đồng nhất” của các mặt đó. Sự thống nhất của các mặt đối lập trong một sự
vật còn biểu hiện là sự thẩm thấu vào nhau, tạo điều kiện, tiền đề cho nhau phát triển. Trong tác
phẩm Gia đình thần thánh, C.Mác và Ph.Ăngghen viết rằng, giai cấp vô sản và sự giàu có là hai
mặt đối lập. Hai cái như vậy hợp thành một khối thống nhất. Cả hai đều là hình thức tồn tại của
quyền tư hữu. Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của
chúng. Song, đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra
sự cân bằng của các mặt đối lập. Khi nghiên cứu sự thống nhất của các mặt đối lập trong xã hội
tư bản, C.Mác và Ph. Ăngghen nói: Người tư hữu là mặt bảo thủ, người vô hữu là mặt phá hoại.
người thứ nhất có hành động nhằm duy trì mâu thuẫn, người thứ hai có hành động nhằm tiêu diệt
mâu thuẫn. sau khi vạch rõ bản chất của mỗi mặt đối lập của xã hội tu bản, C.Mác và Ph.
Ăngghen đã không những chỉ rõ trạng thái của xã hội ấy là thống nhất, mà còn chỉ rõ trạng thái
ấy là đấu tranh giữa các măt đối lập. Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại, theo
xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó. Không thể hiểu đấu tranh của các mặt
đối lập chỉ là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập đó. Sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối
lập chỉ là một trong những hình thức đấu tranh của các mặt đối lập. tính đa dạng của hình thức
đấu tranh của các mặt đối lập tuỳ thuộc vào tính chất, mối quan hệ, lĩmh vực tồn tại của các mặt


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

đối lập, cũng như điều kiện trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng. V.I.Lênin viết: “Sự thống
nhất (…) của các mặt đối lập có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối. Sự đấu tranh của các
mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối”.

là cái gì, để phân biệt nó với các khác.
o
Lượng của sự vật, không nói lên sự vật đó gì mà chỉ nói lên con số của những thuộc
tính cấu thành nó, như về : độ lớn (to – nhỏ), quy mô (lớn – bé), trình độ (cao – thấp),
tốc độ (nhanh – chậm), màu sắc (đậm – nhạt)…
o
“Độ” là giới hạn mà ở đó đã có sự biến đổi về Lượng nhưng chưa có sự thay đổi về
Chất.
o
Điểm nút là điểm giới hạn mà khi Lượng đạt tới sẽ làm thay đổi Chất của sự vật.
o
Bước nhảy là sự thay đổi về Chất qua điểm nút.
Sự phân biệt giữa Chất và Lượng chỉ là tương đối, cùng một sự vật, trong mối quan hệ này
nó là Lượng, trong mối quan hệ khác nó là Chất. Tính tương đối về sự phân biệt giữa Lượng và
Chất, đòi hỏi tư duy con người phải mềm dẻo khi nhận thức chúng, tùy theo mối quan hệ cụ thể,
để xác định nó là Chất hay Lượng.


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 Nội dung cơ bản của quy luật:
Sự vật, hiện tượng bao giờ cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập Lượng và Chất.
Lượng nào Chất ấy, Chất nào Lượng ấy. Không có Chất Lượng tách rời nhau.
Sự thống nhất giữa Chất và Lượng thể hiện trong một giới hạn nhất định gọi là “Độ”. Vậy,
“Độ” là giới hạn trong đó có sự thống nhất giữa Lượng và Chất.hay, “Độ” là giới hạn mà ở đó
đã có sự biến đổi về Lượng nhưng chưa có sự thay đổi về Chất. Sự vật, nó còn là nó, nó chưa là
cái khác.
Sự vật biến đổi khi chất lượng biến đổi. Nhưng chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt
biến động hơn. Lượng biến đổi trong giới hạn “độ” thì sự vật chưa biến đổi. Nhưng, lượng biến
đổi “vượt độ” thì nhất định gây nên sự biến đổi về chất. Chất biến đổi thì sự vật biến đổi. Chất

Trong đời sống xã hội phải chú ý cả điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, xác định rõ quy
mô, nhịp điệu của bước nhảy một cách khoa học, chống máy móc, giáo điều.


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Câu 6. Thực tiễn là gì ? Trình bày vai trò của thực tiễn đối với nhận thức ? Liên hệ với
công việc mà đồng chí đang đảm nhận ?
- Khái niệm thực tiễn
Thực tiến la toàn bộ hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người
nhằm cải biến thế giới khách quan.
- Thực tiễn là hoạt động vật chất. Tất cả những hoạt động bên ngoài hoạt động tinh thần của con
người đều là hoạt động thực tiễn.
- Là hoạt động có mục đích. Khác hoạt đông bản năng của động vật.
- Có tính lịch sử - xã hội: Là hoạt động của con người trong xã hội và trong những giai đoạn lịch
sử nhất định.
- hoạt động thực tiễn rất đa dạng, cơ bản có 3 hình thức:
+ Hoạt động sản xuất vật chất
+ Hoạt động chính trị - xã hội.
+ Hoạt động thực nghiệm khoa học (Nhằm tạo ra môi trường giống hoặc gần giống môi trường
sống bên ngoài: hoạt động này ngày càng đóng vai trò quan trọng).
- Trong 3 hoạt động trên, hoạt động sản xuất vật chất có vai trò quan trọng nhất, là cơ sở cho các
hoạt động khác của con người và cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
Thực tiễn và nhận thức không ngừng phát triển trong sự tác động lẫn nhau, trong đó thực tiễn
đóng vai trò là cơ sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của nhận thức và là cơ sở của chân lý.
a) Thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực của nhận thức
- Con người muốn tồn tại thì phải lao động sx để tạo ra những sản phẩm phục vụ cho con người,
muốn lao động sx con người phải tìm hiểu thế giới xung quanh. Vậy, hoạt động thực tiễn tạo ra
động lực đầu tiên để con người nhận thức thế giới.

Là tương đối ở chỗ: Thực tiễn ngay một lúc không thể khẳng định được cái đúng, bác bỏ cái sai
một cách tức thì. Hơn nữa, bản thân thực tiễn không đứng yên một chỗ mà biến đổi và phát triển
liên tục, nên nó không cho phép người ta hiểu biết bất kỳ một cái gì hóa thành chân lý vĩnh viễn.

Câu 7. Trình bày nguyên tắc về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, từ đó rút ra quan
điểm thực tiễn ? Với cương vị công tác của mình đồng chí đã làm gì để đảm bảo nguyên tắc
đó đối với công việc của bản thân ?
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn đạt được trong 20
năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng
đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách
mạng nước ta. Một trong những nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mac-Lênin.
Phạm trù Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức Macxít
nói riêng, chủ nghĩa Mac-Lênin nói chung. Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học duy vật
trước Mác không thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan
điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh
thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động
của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn
trong đời sống xã hội. Mac-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mac đã khắc phục những
hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắn,
khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và
phát triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mac- Ăngghen đã
thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói
riêng. Thực tiễn là hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử- xã hội của con người
nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu
con vật chỉ hoạt động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài,
thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình mà cải
tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để làm chủ thế giới. Trong qúa trình hoạt động
thực tiễn con người đã tạo ra được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa
tinh thần và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người vốn không

nhận thức xã hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic không
thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực
tiễn. Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội dung của lý
luận nhận thức, tư tưởng đó đã được Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc hơn trong tác phẩm “Chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong đó Lênin nhắc lại luận cương thứ hai
của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết luận“Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan
điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Tư tưởng của Lênin về vai trò của thực tiễn
đối với nhận thức vẫn đang là nguyên tắc phương pháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta
trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu không bám sát thực tiễn cuộc sống
chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa
học nào với đúng nghĩacủa nó. Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực
khách quan. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý
luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của lý
luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng
nhận thức. Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức
khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những
kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong
qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải
mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có
thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

kinh nghiệm. Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem
lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan. Vì
vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện
tượng về sự vận động bên trong thực sự. Chủ nghĩa Mac-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn
trong sự thống nhất biện chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh
thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận. Lênin viết: “Thực tiễn

thực, nói cách khác, hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải
tạo thực tiễn. Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được thực
tiễn là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý
luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy
định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận
thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở
lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn. Trên cơ sở nhận thức và vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu
đó.Song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi
kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên
cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi
vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống,
do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả
các lĩnh vực do vậy đễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ nghiã. Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng
lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo điều. Nết tuyệt đối hóa lý luận, coi lý luận là bất di bất
dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung chung trừư tượng không chú ý đến
những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận thì dễ mắc bệnh giáo điều. Thực chất
những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều đều là vi phạm nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Để ngăn ngữa, khắc phục có hiệu qủa hai căn bệnh trên phải coi trọng
cả lý luận và thực tiễn. Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của qúa trình phát triển xã hội, nhất là trong thời
đại ngày nay khi thực tế cuộc sống đang đặt ra và đòi hỏi phải giải quyết rất nhiều những vấn đề
lý luận và thực tiễn nảy sinh của việc xây dựng, phát triển dời sống kinh tế, văn hóa của xã hội.
Hơn lúc nào hết lý luận Mac – Lênin trong sự thống nhất cao với thực tiễn phải thể hiện vai trò
hướng dẫn, chỉ đạo trong công việc, giải quyết những vấn đề cấp bách và trọng đại do cuộc sống

định của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
- Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất biện chứng,
trong đó lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất và quan hệ sản xuất tác động trở lại lực
lượng sản xuất. Mối quan hệ thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tuân theo
nguyên tắc khách quan. Quan hệ sản xuất phải phụ thuộc vào thực trạng phát triển của lực lượng
sản xuất trong mỗi giai đoạn lịch sử xác định; bởi vì, quan hệ sản xuất chỉ là hình thức kinh tế xã hội của quá trình sản xuất, còn lực lượng sản xuất là nội dung vật chất, kỹ thuật của quá trình
đó. Tuy nhiên, quan hệ sản xuất, với tư cách là hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất,
nó luôn luôn có khả năng tác động trở lại sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất. Sự tác
động này có thể diễn ra theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Điều đó phụ thuộc vào tính phù
hợp hay không phù hợp của quan hệ sản xuất với thực trạng và nhu cầu khách quan của sự vận
động, phát triển lực lượng sản xuất Nếu “phù hợp” sẽ có tác dụng tích cực và ngược lại, “không
phù hợp” sẽ có tác dụng tiêu cực.
- Mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ thống nhất có bao hàm
khả năng chuyển hóa thành các mặt đối lập và phát sinh mâu thuẫn. Mối quan hệ giữa lực lượng
sản xuất và quan hệ sản xuất là mối quan hệ mâu thuẫn biện chứng giữa nội dung vật chất, kỹ
thuật với hình thức kinh tế - xã hội của quá trình sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này là
một quá trình đi từ sự thống nhất đến những khác biệt và đối lập xung đột từ đó làm xuất hiện
nhu cầu khách quan phải được giải quyết theo nguyên tắc quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự
phát triển của lực lượng sản xuất. Sự vận động của mâu thuẫn này cũng tuân theo quy luật “từ
những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại”, quy luật “phủ định
của phủ định”, khiến cho quá trình phát triển của nền sản xuất xã hội vừa diễn ra với tính chất
tiệm tiến, tuần tự, lại vừa có tính nhảy vọt với những bước đột biến, kế thừa và vượt qua của nó ở
trình độ ngày càng cao hơn.
- Sự vận dụng quy luật này ở nước ta
Từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, nước ta đi lên CNXH. Kinh nghiệm
thực tế chỉ rõ, lực lượng sản xuất bị kiềm hãm không chỉ trong trường hợp quan hệ sản xuất lạc
hậu, mà ngay khi quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ và có những yếu tố đi quá xa so với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thực tế lực lượng sản xuất nước ta còn thấp kém lại phát triển không đồng đều, cho nên cần phải

hình thái kinh tế - xã hội khác, mà còn diễn ra ngay trong bản thân mỗi hình thái kinh tế - xã hội.
Tuy sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng gắn với sự phát triển của lực lượng sản xuất,
nhưng lực lượng sản xuất không trực tiếp làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Sự phát triển của
lực lượng sản xuất chỉ trực tiếp làm thay đổi quan hệ sản xuất, tức trực tiếp làm thay đổi cơ sở hạ
tầng và thông qua đó làm thay đổi kiến trúc thượng tầng. Sự thay đổi cơ sở hạ tầng dẫn đến làm
thay đổi kiến trúc thượng tầng diễn ra rất phức tạp. Trong đó có những yếu tố của kiến trúc
thượng tầng thay đổi nhanh chóng cùng với sự thay đổi cơ sở hạ tầng như chính trị, pháp luật,
v.v.. Trong kiến trúc thượng tầng, có những yếu tố thay đổi chậm như tôn giáo, nghệ thuật, v.v..
hoặc có những yếu tố vẫn được kế thừa trong xã hội mới. Trong xã hội có giai cấp, sự thay đổi
đó phải thông qua đấu tranh giai cấp, thông qua cách mạng xã hội.
- Tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng
Tất cả các yếu tố cấu thành kiến trúc thượng tầng đều có tác động đến cơ sở hạ tầng. Tuy nhiên,
mỗi yếu tố khác nhau có vai trò khác nhau, có cách thức tác động khác nhau. Trong xã hội có
giai cấp, nhà nước là yếu tố có tác động mạnh nhất đối với cơ sở hạ tầng vì đó là bộ máy bạo lực
tập trung của giai cấp thống trị về kinh tế. Các yếu tố khác của kiến trúc thượng tầng như triết
học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v... cũng đều tác động đến cơ sở hạ tầng, nhưng chúng đều
bị nhà nước, pháp luật chi phối. Trong mỗi chế độ xã hội, sự tác động của các bộ phận của kiến
trúc thượng tầng không phải bao giờ cũng theo một xu hướng. Chức năng xã hội cơ bản của kiến
trúc thượng tầng thống trị là xây dựng, bảo vệ và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó, chống lại
mọi nguy cơ làm suy yếu hoặc phá hoại chế độ kinh tế đó. Một giai cấp chỉ có thể giữ vững được
sự thống trị về kinh tế chừng nào xác lập và củng cố được sự thống trị về chính trị, tư tưởng.
Sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng diễn ra theo hai chiều. Nếu kiến trúc


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

thượng tầng tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan thì nó là động lực mạnh mẽ
thúc đẩy kinh tế phát triển; nếu tác động ngược lại, nó sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, kìm hãm
phát triển xã hội. Tuy kiến trúc thượng tầng có tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế,
nhưng không làm thay đổi được tiến trình phát triển khách quan của xã hội. Xét đến cùng, nhân

đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một
trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây
dựng trên những quan hệ sản xuất ấy. Hình thái kinh tế - xã hội là một hệ thống hoàn chỉnh, có
cấu trúc phức tạp, trong đó có các mặt cơ bản là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc
thượng tầng. Mỗi mặt của hình thái kinh tế - xã hội có vị trí riêng và tác động qua lại lẫn nhau,
thống nhất với nhau. Lực lượng sản xuất là nền tảng vật chất - kỹ thuật của mỗi hình thái kinh tế
- xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội khác nhau có lực lượng sản xuất khác nhau. Suy đến cùng, sự
phát triển của lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành, phát triển và thay thế lẫn nhau củacác
hình thái kinh tế - xã hội. Các quan hệ sản xuất tạo thành cơ sở hạ tầng của xã hội và quyết định
tất cả mọi quan hệ xã hội khác. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội có một kiểu quan hệ sản xuất đặc


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

trưng cho nó. Quan hệ sản xuất là tiêu chuẩn khách quan để phân biệt các chế độ xã hội. . Kiến
trúc thượng tầng được hình thành và phát triển phù hợp với cơ sở hạ tầng, nhưng nó lại là công
cụ để bảo vệ, duy trì và phát triển cơ sở hạ tầng đã sinh ra nó. Ngoài các mặt cơ bản đã nêu trên,
các hình thái kinh tế - xã hội còn có quan hệ về gia đình, dân tộc và các quan hệ xã hội khác. Các
quan hệ đó đều gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của quan hệ
sản xuất.
Vấn đề “bỏ qua” chế độ CNTB ở nước ta : Lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng
về con đường quá độ lên CNXH của nước ta có những đổi mới sâu sắc. Nếu trước đây thường
nói, nước ta quá độ lên CNXH "bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa", thì từ Đại hội lần
thứ IX trong các văn kiện chính thức của Đảng, Nhà nước diễn đạt là: Nước ta quá độ lên CNXH
"bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa". Việc "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" được giải thích rõ về
hai phương diện: Thứ nhất, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) là "bỏ qua việc xác lập vị trí
thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa". Thứ hai, trong khi bỏ
qua những mặt đó, cần "tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ
tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học-công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây
dựng nền kinh tế hiện đại". Nhận thức trên đây là kết quả của sự đổi mới tư duy về CNXH, về

chiếm đoạt lao động của tập đoàn khác do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một
chế độ kinh tế xã hội nhất định”.
Đấu tranh giai cấp: Đỉnh cao của cuộc đấu tranh giai cấp tất yếu sẽ dẫn đến cách mạng xã hội,
thay thế phương thức sản xuất cũ bằng một phương thức sản xuất mới tiến bộ hơn. Phương thức
sản xuất mới ra đời mở ra địa bàn mới cho sự phát triển của sản xuất xã hội. Sản xuất phát triển
sẽ là động lực thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ đời sống xã hội. Dựa vào tiến trình phát triển
của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng đỉnh cao của đấu tranh giai cấp là cách
mạng xã hội. Cách mạng xã hội như là đòn bẩy thay đổi các hình thái kinh tế xã hội vì vậy “đấu
tranh giai cấp là động lực trực tiếp của lịch sử các xã hội có giai cấp”.
Đấu tranh giai cấp góp phần xoá bỏ các thế lực phản động, lạc hậu đồng thời cải tạo cả
bản thân giai cấp cách mạng. Giai cấp nào đại biểu cho phương thức sản xuất mới, giai cấp đó sẽ
lãnh đạo cách mạng. Thành tựu mà loài người dạt được trong tiến trình phát triển của lực lượng
sản xuất, cách mạng khoa học và công nghệ, cải cách về dân chủ và tiến bộ xã hội không tách rời
cuộc đấu tranh giai cấp giữa các giai cấp tiến bộ chống các thế lực thù địch, phản động.
Đấu tranh giai cấp ở Việt Nam hiện nay: Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta tiếp
tục khẳng định rằng, hiện nay và cả trong thời kỳ quá độ của cả nước ta còn tồn tại một cách
khách quan các giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhưng đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay phải
nhận thức cho đúng, nó diễn ra trong điều kiện mới với những nội dung mới và hình thức mới.
Bởi vì cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý
của Nhà nước, cơ cấu giai cấp, nội dung, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta cũng đã
thay đổi nhiều, khác với thời kỳ cách mạng dân tộc dân chủ trong những năm đầu chúng ta mới
giành được chính quyền. Mối quan hệ giữa các giai cấp, sự phát triển của các giai cấp trong sự
nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà
nước không còn như trước đây. Ngày nay, mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp chủ yếu là
mối quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân nhằm tăng cường đoàn kết trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân
thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội dân, giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu
tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa gắn liền với cuộc đấu tranh bảo
vệ độc lập dân tộc, chống áp bức bất công, chống bóc lột chống nghèo nàn lạc hậu đấu tranh

+ Là nền chuyên chế của g/c này đối với g/c khác và đối với toàn xã hội. Nói khác đi, nhà nước
là tổ chức trính trị của g/c thống trị về kinh tế nhằm bảo vệ trật tự hiện hành phù hợp với lợ ích
của mình và đàn áp sự phản kháng của các g/c khác.
+ Trong xã hội có g/c đối kháng, g/c nào thống trị về kinh tế sẽ nắm chính quyền nhà nước trong
tay vì chỉ có g/c ấy mới có khả năng vật chất, để tổ chức, duy trì bộ máy nhà nước. G/c bị trị xét
về bản chất không có nhà nước.
+ Xét về bản chất, nhà nước chỉ là công cụ chuyên chính của một g/c, không có nhà nước đứng
trên g/c, đứng ngoài g/c, là công cụ bảo vệ lợi ích của g/c thống trị về kinh tế nhằm trấn áp các
g/c khác và toàn xã hội.
Bản chất nhà nước XHCN được thể hiện trong quá trình xây dựng nhà nước XHCN Việt
Nam :Là Nhà nước của dân, do dân, vì dân; đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của một đảng, đó là
Đảng cộng sản VN; trên cơ sở liên minh vững chắc giữa g/c cn với g/c ndân và đội ngũ trí thức;
là công cụ quyền lực chủ yếu để nhân dân xây dựng một quốc gia dân tộc độc lập XHCN theo
mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh, góp phần tích cực vào cuộc
đấu tranh vì hoà bình, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
Góp phần xây dựng thành công nhà nước Pháp quyền XHCN ở nước ta : Cần tập trung thực
hiện tốt hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện dân chủ từ cơ sở, mọi công việc, chính
quyền cần bàn bạc với dân phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, sáng kiến của nhân dân. Đổi mới thể
chế bầu cử để nhân dân bầu ra những đại biểu của mình thật sự có đức, có tài, thật sự vì dân, vì
quê hương, đất nước. Chính quyền phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Chính
sách, chủ trương, biện pháp nào mà dân cho là không đúng, không phù hợp thì cùng với nhân
dân thảo luận để sửa đổi. Đương nhiên, dân chủ phải gắn liền với kỷ cương, kỷ luật, pháp luật,
với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân; dân chủ phải có lãnh đạo, lãnh đạo bằng phương pháp dân
chủ. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

của Đảng Cộng sản, bao gồm hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức bộ máy chính quyền nhà
nước, chức năng, nhiệm vụ và đội ngũ công chức. Pháp luật là thể chế hóa Cương lĩnh, đường

nhân mà là phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất XH dưới các dạng và trình độ khác nhau, được
tổng hợp lại qua một số nhà tư tưởng nào đó. Tư tưởng chỉ có tác dụng tích cực đến lịch sử khi
nó phản ánh được nguyện vọng, lợi ích của quần chúng trong những giai đoạn lịch sử nhất định;
và sức mạnh, tính chân lý của nó chỉ được chứng tỏ thông qua sự tiếp thu và hoạt động của quần
chúng. Mặt khác, tư tưởng tự nó không biến đổi được XH mà phải thông qua hoạt động cách
mạng của quần chúng. Như vậy, chính quần chúng nhân dân mới là người kết hợp lý luận với
thực tiễn cải tạo xã hội, hiện thực hoá những tư tưởng, quan điểm XH phù hợp với tiến trình phát
triển XH. Lãnh tụ dù uyên bác, tài giỏi nhưng không có uy tín, không được quần chúng ủng hộ,
hoặc do tác phong quan liêu, hách dịch, coi khinh quần chúng thì bản thân lãnh tụ đó cũng sẽ
đánh mất vai trò lãnh tụ của mình. Qua đó, ta xác định được vai trò của QCND thông qua 3 nội


CÂU HỎI TRIẾT HỌC – LỚP TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

dung sau: Thứ nhất, QCND là lực lượng sản xuất cơ bản của xã hội, trực tiếp sản xuất ra của cải
vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển của xã hội. Thứ hai, QCND là lực lượng đông đảo
cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng. Thứ ba, QCND là người sáng tạo giá trị văn hoá, tinh thần
cho XH.
Khái niệm vĩ nhân nhằm chỉ những người có tri thức uyên bác và có tầm nhìn xa, biết nắm bắt
được những vấn đề căn bản nhất trong một hay một số lĩnh vực nào đó của hoạt động xã hội. vĩ
nhân có thể là những người làm khoa học, làm chính trị, làm văn hoá – nghệ thuật…Những vĩ
nhân nào có khả năng tập hợp, giác ngộ, tổ chức quần chúng nhân dân để giải quyết những
nhiệm vụ cụ thể do lịch sử đặt ra được gọi là lãnh tụ.Như vậy, lãnh tụ phải là những người có
những phẩm chất cơ bản: một là, có tri thức khoa học uyên bác, biết nắm bắt được xu thế vận
động của dân tộc, quốc tế và thời đại; hai là, có năng lực tập hợp quần hcúng nhân dân,biết thống
nhất ý chí, hành động của họ để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể do lịch sử đặt ra; và ba là, luôn
gắn bó mật thiết với QCND, biết hy sinh quên mình vì lợi ích cao cả của QCND. Trong mối quan
hệ với QCND, lãnh tụ có nhiệm vụ: một là, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại trên
cơ sở hiểu biết những qui luật khách quan của các quá trình kinh tế, chính trị, xã hội. hai là, định
hướng chiến lược, hoạch định chương trình hành động cách mạng; ba là, tổ chức lực lượng, giáo

là phản ánh tồn tại xã hội và giữa chúng có quan hệ tác động lẫn nhau. Nhưng hệ tư tưởng xã hội
không nảy sinh tự phát từ tâm lý xã hội và không phải là sự biểu hiện trực tiếp của tâm lý xã hội.
Trong xã hội có giai cấp ý thức xã
hội có tính giai cấp.
Quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội
1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
- Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội thể hiện: tồn tại xã hội sinh ra ý thức
xã hội, còn ý thức xã hội là sự phản ánh của tồn tại xã hội; tồn tại xã hội như thế nào thì ý
thức xã hội như thế ấy; mỗi khi tồn tại biến đổi, nhất là phương thức sản xuất biến đổi thì những
tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, văn
học,
nghệ thuật v.v. sớm muộn sẽ biến đổi theo.
- Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, ý thức xã hội là phản ánh tồn tại xã hội, nhưng không
phải bất cứ tư tưởng, quan điểm lý luận xã hội nào, tác phẩm văn học nghệ thuật nào cũng nhất
thiết trực tiếp phản ánh những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ xét đến cùng thì các quan hệ
kinh tế mới được phản ánh bằng cách nay hay cách khác vào trong những tư tưởng đó. Bởi vì ý
thức xã hội trong sự phát triển của mình có tính độc lập tương đối.
2. Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội
Tính độc lập tương đối và vai trò của ý thức xã hội biểu hiện ở những mặt dưới đây:
- Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội.
- Ý thức xã hội có tính vượt trước tồn tại xã hội. Đó là những tư tưởng tiến bộ, khoa học.
- Ý thức xã hội có nhiều hình thái khác nhau, giữa chúng có sự tác động qua lại lẫn nhau trong sự
phát triển của chúng.
- Sự tác động trở lại của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội là biểu hiện quan trọng nhất của tính
độc lập tương đối của ý thức xã hội, biểu hiện tập trung vai trò của ý thức xã hội đối với tồn tại
xã hội.
Mức độ ảnh hưởng của tư tưởng xã hội đối với sự phát triển xã hội phụ thuộc vào tính chất của
các mối quan hệ kinh tế mà trên đó nảy sinh những tư tưởng nhất định; phụ thuộc vào vai trò lịch
sử của giai cấp giương cao ngọn cờ tư tưởng đó; phụ thuộc vào mức độ phản ánh đúng đắn của
tư tưởng đó đối với các nhu cầu phát triển của xã hội, phụ thuộc vào mức độ xâm nhập của tư

Như vậy ý thức lạc hậu, tiêu cực không mất đi một cách dễ dàng. Cho nên trong
sự nghiệp xây dựng xã hội mới phải thường xuyên tăng cường công tác tư tưởng, đấu
tranh chống lại âm mưu và hành động phá hoại những lực lượng thù địch về mặt tư
tưởng, kiên trì xoá bỏ những tàn dư ý thức cũ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status