BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HỒNG DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
ĐỐI VỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN 2010
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HUẾ - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN HỒNG DŨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI
ĐỐI VỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
TỪ 1986 ĐẾN 2010
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62.22.01.21
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. TRƯƠNG ĐĂNG DUNG
5. Cấu trúc luận án ......................................................................................... 3
NỘI DUNG ................................................................................................... 4
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ............................ 4
1.1. Các công trình dịch, biên soạn từ tài liệu nước ngoài............................... 4
1.2. Các công trình nghiên cứu, phê bình ở trong nước ................................ 15
Chương 2. TIẾP NHẬN CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI TRONG VĂN
HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2010 ...................................................... 26
2.1. Giới thuyết về chủ nghĩa hậu hiện đại.................................................... 26
2.1.1. Những điều kiện hình thành của chủ nghĩa hậu hiện đại ..................... 26
2.1.2. Các quan niệm về chủ nghĩa hậu hiện đại ........................................... 42
2.2. Tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam .................... 48
2.2.1. Tiếp nhận và ứng dụng trong nghiên cứu – phê bình .......................... 51
2.2.2. Tiếp nhận và ứng dụng trong sáng tác ................................................ 59
Chương 3. TƯ DUY NGHỆ THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2010 – NHÌN TỪ QUAN NIỆM
NGHỆ THUẬT, TÂM THỨC SÁNG TẠO VÀ THẾ GIỚI NHÂN VẬT . 64
3.1. Quan niệm về nghệ thuật tiểu thuyết...................................................... 64
3.1.1. Tiểu thuyết với quan niệm “trò chơi văn học” .................................... 64
3.1.2. Tiểu thuyết với quan niệm “giải thiêng nghệ thuật” ............................ 69
3.2. Tâm thức sáng tạo của nhà văn .............................................................. 76
3.2.1. Tâm thức sáng tạo của nhà văn với bản thể dân tộc ............................ 77
3.2.2. Tâm thức sáng tạo của nhà văn trước thực tại ..................................... 86
3.3. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết ........................................................ 91
3.3.1.Vấn đề kiểu loại nhân vật .................................................................... 91
3.3.2. Những biến đổi khái niệm nhân vật ................................................... 95
Chương 4. TƯ DUY NGHỆ THUẬT HẬU HIỆN ĐẠI TRONG TIỂU
THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2010 – NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC
THỂ HIỆN ................................................................................................ 106
Như vậy, hậu hiện đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận
động đó đang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ hình tư
duy hiện đại đã không còn phù hợp, kể cả trong kinh tế, chính trị và trong văn hóa
tinh thần. Trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, chủ nghĩa hậu hiện đại
đang còn rất mới, chỉ được chính thức thừa nhận từ những thập niên 60 (thế kỷ XX)
đến nay. Không ai biết được tường tận những gì sẽ xảy ra trong tương lai để hình
dung cụ thể hơn về hiện tại, để xác lập lại các nguyên tắc, các điều kiện có tính định
hướng cho một con người, cho một xã hội và tổng thể xã hội mang tính toàn nhân
loại. Chủ nghĩa hậu hiện đại, trong những khả năng và giới hạn của nó, sẽ góp phần
giải quyết những vấn đề quá phức tạp này.
Ở Việt Nam, lý thuyết văn học hậu hiện đại ngày càng được quan tâm tìm
hiểu, nghiên cứu và ứng dụng vào đời sống văn học, từ hoạt động của nhà nghiên
cứu đến sáng tạo của người nghệ sĩ. Thực tiễn những năm qua mà khoa học văn
học cũng như lĩnh vực sáng tác đã đạt được, đã chứng minh tính khoa học, tính
khách quan và tính chân lý của chủ nghĩa hậu hiện đại. Dưới tác động của lý thuyết
văn học hậu hiện đại, chúng ta không chỉ phát hiện và thừa nhận những giá trị sáng
tạo của những nhà văn đương đại, mà còn có cơ sở lý luận để nhận thức lại, đánh
giá lại những kết quả đã qua, kể cả trong sáng tác và trong nghiên cứu.
1
Việc vận dụng lý thuyết văn học hậu hiện đại vào nghiên cứu những sáng tác
của các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã có những chuyển động và những thay đổi thực
sự, cả nội dung và hình thức. Tinh thần hậu hiện đại đã soi chiếu vào tư duy tiểu
thuyết, có thể nói đã tạo nên một sự biến đổi lớn lao ở thể loại này. Qua thời gian,
những sáng tác của các nhà tiểu thuyết Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh,
Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Đặng
Thân, Châu Diên, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Phong Điệp, Nguyễn Ngọc Tư… đã
được xã hội thừa nhận. Có một sự thật hiển nhiên được nhận thức trong giới văn
học là không thể viết như trước được nữa, nếu như muốn có người đọc. Về cơ bản,
thuật) và nghiên cứu đặc thù lịch sử, văn hóa, văn học dân tộc trong tiểu thuyết theo
xu hướng hậu hiện đại Việt Nam.
- Phương pháp so sánh – đối chiếu: dùng để nghiên cứu những tương đồng và
riêng biệt trong tư duy nghệ thuật của các nhà tiểu thuyết theo xu hướng hậu hiện
đại Việt Nam.
4. Đóng góp khoa học của luận án
Luận án trình bày những vấn đề chính của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến
2010, sự phát triển của khuynh hướng tiểu thuyết gắn với chủ nghĩa hậu hiện đại,
góp phần cung cấp một số kiến thức cơ bản để có một cái nhìn tổng thể về tiểu
thuyết Việt Nam những năm này.
Luận án có thể được xem là một trong những công trình đầu tiên, tương đối có
hệ thống nghiên cứu về ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với tiểu thuyết
Việt Nam đương đại, những mặt tích cực và những hạn chế của chủ thuyết này đem
lại.
Luận án hoàn thành sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho việc tìm hiểu, học
tập, nghiên cứu về chủ nghĩa hậu hiện đại và văn học hậu hiện đại.
5. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận
án được triển khai trong 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Tiếp nhận chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam từ 1986
đến 2010
Chương 3. Tư duy nghệ thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986
đến 2010 – nhìn từ quan niệm nghệ thuật, tâm thức sáng tạo và thế giới nhân vật
Chương 4. Tư duy nghệ thuật hậu hiện đại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986
đến 2010 – nhìn từ phương thức biểu hiện
3
ngữ, nguyên lý truyền thống, hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam
rơi vào ngõ cụt.
4
Cuộc tranh luận về truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một minh chứng buồn
về thực tế này. Phe phản đối thì dùng “đôi mắt cũ” để soi vào một hiện tượng mới,
vẫn sử dụng phương pháp xã hội học dung tục để phê bình. Phe ủng hộ thì nhìn
chung vẫn phê bình cảm tính, ca ngợi cái tài, cái hay, cái mới của nhà văn nhưng
không biết rõ căn nguyên tư tưởng nghệ thuật của nhà văn từ đâu mà có. Tính chất
mâu thuẫn trong tranh luận đã bộc lộ sự lạc hậu của tư duy lý luận văn học lúc bấy
giờ.
Ở cuộc tranh luận về Nguyễn Huy Thiệp có một bài viết rất đáng chú ý: Tại
sao tôi dịch truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp ra tiếng Anh? của G. Lockhart (người
Úc), in trên Tạp chí Văn học, số 4,1989, được in lại trong sách Đi tìm Nguyễn Huy
Thiệp. Bài viết này rất kịp thời, tính gợi ý và tính ý hướng của nó rất cao, nhưng lại
không được quan tâm đúng mức, đặc biệt là về mặt thuật ngữ. Lockhart đã đặt vấn
đề: “Cái mới của Nguyễn Huy Thiệp là ở chỗ nào?” và đã lý giải: “ Cuối thế kỷ này
thế giới có nhiều thay đổi về chính trị, kinh tế, văn hóa rất phức tạp. Những thay
đổi, phủ nhận ký ức của quá khứ, và vì thế ta tìm thấy sự xuất hiện của nhiều xu
hướng văn học, sử học mới […] Và ở Việt Nam ta có truyện ngắn của Nguyễn Huy
Thiệp. Đây là những phương pháp biểu hiện cuộc sống trên thế giới cuối thế kỷ này.
Tức là, đây là hiện tượng văn học chúng ta gọi “hậu hiện đại chủ nghĩa”
(postmodernism)” [78, tr.113-114]. Thuật ngữ “hậu hiện đại chủ nghĩa” mà
Lockhart dùng lúc bấy giờ đã không được chú ý, nhưng giờ đây có thể xem là sự
khởi đầu cho một khuynh hướng văn học mới ở Việt Nam, cả trong sáng tác và
trong nghiên cứu, phê bình.
Sau bài viết của Lockhart, phải đến năm 1991, mới có một bản dịch về văn
học hậu hiện đại được công bố. Đó là tiểu luận Vài suy nghĩ về cái gọi là tiểu thuyết
hậu hiện đại của Antonio Blach (Nguyễn Trung Đức dịch), in trên Tạp chí Văn học,
– liên văn bản – nay trở thành kẻ trung gian (moderator) đầy mỉa mai giữa những
văn bản của người khác và những văn bản của chính mình, hoặc trở thành phù thủy
– sáng tạo của quá trình sáng tác bất tận của chúng” [87, tr.221].
Chủ nghĩa hậu hiện đại chỉ thực sự được quan tâm, dịch, giới thiệu để phục vụ
cho việc tìm hiểu, nghiên cứu ở Việt Nam là từ năm 2000 trở đi. Vào năm 2000,
trên Tạp chí Thơ, số Mùa Xuân (xuất bản ở Mỹ bằng tiếng Việt) đã trích in công
trình Lý thuyết văn chương hậu hiện đại của Niall Lucy (Nguyễn Thị Ngọc Nhung
dịch), phần I Văn chương và ngưỡng cửa đầu, phần II Diễn dịch là sáng chế. Đây là
công trình có giá trị học thuật cao, tác giả đã lý giải sâu sắc một số vấn đề cơ bản
của văn học hậu hiện đại: định nghĩa văn học hậu hiện đại, sự phân biệt nghệ thuật
với khoa học (qua sự tranh biện với Lyotard), nghệ thuật với hiện thực (phân tích
quan niệm của Barthes và Hassan), văn học và lý thuyết trò chơi (phân tích công
trình Cấu trúc, Ký hiệu và Trò chơi của Derrida).
6
Năm 2003, công trình có tính kinh điển Các khái niệm và thuật ngữ của các
trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ 20 do I.P.Ilin và
E.A.Tzurganova chủ biên (những người dịch: Đào Tuấn Ảnh, Trần Hồng Vân, Lại
Nguyên Ân) được Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội phát hành. Bộ sách được viết cô
đọng, đúc kết những nội dung chính của học thuật phương Tây thế kỷ XX, thông
qua việc hệ thống các khái niệm và thuật ngữ. Phần Chủ nghĩa hậu hiện đại, sau khi
trình bày những nội dung chính của lý thuyết (điều kiện lịch sử, sự ra đời, nội hàm
khái niệm…), người viết (I.P.Ilin) đã nêu và diễn giải khá tường tận các khái niệm
triết mỹ cơ bản và một số thủ pháp nghệ thuật chính của văn học hậu hiện đại.
Sự kiện đặc biệt trong năm 2003 là việc Nxb Hội Nhà văn và Trung tâm văn
hóa ngôn ngữ Đông Tây đã phát hành bộ sách về văn học hậu hiện đại thế giới, gồm
2 tập. Tập 1 Văn học hậu hiện đại thế giới – Những vấn đề lý thuyết (Lại Nguyên
Ân, Đoàn Tử Huyến biên soạn), tập 2 Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới (Lê Huy
cấu trúc của Terry Eagleton (Thiệu Bích Hường dịch) và Lịch sử văn học như là sự
khiêu khích đối với khoa học văn học của Hans R.Jauss (Trương Đăng Dung dịch).
Năm 2005, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội giới thiệu với độc giả Việt Nam
chuyên luận Những tiểu thuyết của Robbe – Grillet của Bruce Morrissette (Từ Huy
dịch). Nghệ thuật tiểu thuyết của Robbe – Grillet là những cách tân mới mẻ, độc
đáo, với nhiều đặc trưng của kỹ thuật viết hậu hiện đại.
Năm 2006, Đỗ Lai Thúy biên soạn và giới thiệu cuốn Theo vết chân những
người khổng lồ - Tân Guylivơ phiêu lưu ký về các lý thuyết văn hóa, Nxb Văn hóa
Thông tin. Cuốn sách gồm 13 bài nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài về
nhiều lĩnh vực, trong đó có 2 bài trực tiếp bàn về hậu hiện đại: Phân tích văn hóa
theo thuyết hậu hiện đại của Steven Seidman và Phê phán hậu hiện đại và hậu cấu
trúc của Buckminster Fuller (đều do Thiệu Bích Hường dịch). Bài nghiên cứu của
S.Seidman đã soi chiếu đời sống văn hóa đương đại trong tinh thần hậu hiện đại,
thông qua một cấu trúc có tính tổng thuật nhưng tập trung vào các luận điểm chính,
bắt đầu từ những định nghĩa cụ thể về hậu hiện đại từ các góc độ nghệ thuật, xã hội,
dân tộc đến việc xem xét “xã hội học theo thuyết hậu hiện đại”, lấy hậu hiện đại và
hậu hiện đại hóa làm đối tượng nghiên cứu, thông qua những đặc tính đã được hiển
thị của chúng trong đời sống [125, tr.448]. Bài nghiên cứu của B.Fuller, một mặt, là
sự phê phán hiện đại qua lập trường phê phán của hậu hiện đại kết hợp với phê phán
hậu cấu trúc, mà đối tượng phê phán chính là “học thuyết tổng thể” (bao gồm cơ
cấu xã hội, tư tưởng, tri thức, quyền lực, giới tính, dân tộc…); mặt khác, chỉ ra
những khả năng và giới hạn của chủ nghĩa hậu hiện đại. Để triển khai các vấn đề
trong tính khách quan, ông đã dựa vào ý kiến của nhiều nhà hậu hiện đại nổi tiếng.
B.Fuller vẫn đặt niềm tin vào chủ nghĩa hậu hiện đại, xem nó như một khả thể để
8
con người hướng tới tương lai và “ mở ra những hướng mới cho việc nghiên cứu
văn hóa” [125, tr.514]. Cũng trong năm này, Nxb Đại học Sư phạm giới thiệu cuốn
Bản mệnh của lý thuyết văn chương và cảm nghĩ thông thường của Antoine
thuật, lý thuyết của Lyotard khai mở những vấn đề nhận thức tư tưởng và mỹ học về
một thời đại mới dựa vào sự phản tư các tiêu chí mà triết học hiện đại đã dày công
xây dựng. Trên cơ sở đó, lý thuyết văn học xác lập một loạt các khái niệm triết mỹ
cơ bản, được xem như những đặc tính chỉ có trong văn học hậu hiện đại. Trong năm
này, còn có bài viết Tiểu thuyết chính trị hậu hiện đại của Stephen Baker, in trên
Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 5 (Phạm Phương Chi dịch). Qua việc phân tích tác
phẩm Những vần thơ của quỷ sa tăng (của S.Rushdie, nhà văn Anh gốc Ấn), nhà
nghiên cứu đã chỉ ra những giá trị nhân bản và nghệ thuật của tác phẩm và khẳng
định khuynh hướng tiểu thuyết chính trị hậu hiện đại trong văn học.
Từ những năm 2009 đến 2013, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, văn
học nghệ thuật hậu hiện đại được giới thiệu ở Việt Nam, tiếp tục bổ sung và mở
rộng những tri thức đa dạng của nó cho độc giả. Cuốn 2011 – Trào lưu trong thập
kỷ tới của Richard Laermer, Nxb Văn hóa Sài Gòn, đã đưa ra những dự đoán về các
xu hướng và trào lưu văn hóa nghệ thuật hậu hiện đại sắp tới. Cuốn Thế mà là nghệ
thuật ư? của Cynthia Freeland, Nxb Tri thức (Như Huy dịch) cung cấp cho độc giả
những kiến thức đa dạng nhưng cũng hết sức phức tạp về những hình thức nghệ
thuật mà con người đã sáng tạo ra. Chúng ta đang sống trong một không thời gian,
mà ở đó rất khó để đuổi kịp những sự thay đổi của nghệ thuật, chứ đừng nói là thâu
tóm và diễn giải về nó. Cuốn sách của C.Freeland, với một cái nhìn độc đáo và tổng
hợp về lịch sử nghệ thuật nhân loại, đem đến cho tất cả chúng ta những bài học,
những kinh nghiệm hữu ích để có thể sống tự tin hơn trong sự thay đổi nhanh chóng
không ngừng của thời hậu hiện đại. Cuốn Thi pháp chủ nghĩa hậu hiện đại của
Liviu Petrescu, Nxb Đại học Sư phạm (Lê Nguyên Cẩn dịch), diễn giải văn học hậu
hiện đại trong tính hệ thống, để hiểu đây là một tiến trình chứ không phải là sự đột
biến.
Như vậy, tính chất biệt lập quá lâu sẽ dẫn tới sự suy thoái và chỉ có qua sự
giao tiếp và đối thoại, vị thế của nền văn học dân tộc mới từng bước được nhìn
nhận, khẳng định. Nhưng muốn có được sự thừa nhận, bản thân nền văn học dân tộc
hiện đại ở Việt Nam không chỉ bó hẹp trong địa hạt văn học, mà còn ở các lĩnh vực
triết học, xã hội, kinh tế, tôn giáo… Điều này thể hiện sự quan tâm thực sự đối với
vấn đề “hậu hiện đại” trên bình diện toàn xã hội.
Năm 2003, công trình Lịch sử chủ nghĩa tư bản – từ 1500 đến 2000 của
Michel Beaud được Nxb Thế giới phát hành. Công trình này đã dựng lại lịch sử chủ
nghĩa tư bản qua năm thế kỷ, từ thời kỳ đầu đến thời kỳ phát triển đỉnh cao. Nhưng
đây không thuần túy là cuốn sách lịch sử chỉ có niên đại và sự kiện, tác giả của nó,
với một tri thức bao quát và một trí tuệ uyên thâm, đã đi sâu phân tích những vấn đề
bản chất của chủ nghĩa tư bản, từ kinh tế đến chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục,
11
đưa đến một cách hiểu thực tế hơn về chủ nghĩa tư bản, và đặc biệt là những vấn đề
của chủ nghĩa tư bản giai đoạn hậu kỳ hiện đại.
Năm 2005, cuốn sách nổi tiếng thế giới Sự va chạm của các nền văn minh của
Samuel Hungtington được Nxb Lao động phát hành. Những vấn đề được tác giả đề
cập đến như xã hội, văn hóa, tôn giáo, chủng tộc, những vấn đề thuộc về sự tranh
chấp như tài nguyên, địa lý, vị thế quốc gia… đều được phân tích dưới nhãn quan
của thời hiện tại, đặt trong quá trình toàn cầu hóa, đều là những vấn đề luôn đặt
trong sự quan tâm của chủ nghĩa hậu hiện đại. Tác phẩm đã đem đến cho độc giả sự
hình dung về một thế giới đang biến đổi đa chiều, đa cực, trong sự va chạm của
những mâu thuẫn không bao giờ hóa giải được. Sau cuốn sách của S.Hungtington,
Nxb. Khoa học Xã hội phát hành cuốn sách gây nhiều chú ý là Chiếc Lexus và cây
Oliu của Thomas L.Friedman (Lê Minh dịch). Cuốn sách này giải đáp cho câu hỏi
được rất nhiều người quan tâm: Toàn cầu hóa là gì? Và nó quả thực đã đáp ứng
được nhu cầu tìm hiểu này, “một cuốn sách hướng dẫn tuyệt vời về thế giới ngày
nay” (New York Times). Một khi đã hiểu và có thể diễn giải lại điều đã hiểu thì
người đọc đã có thể hình dung về một hoàn cảnh hậu hiện đại mà loài người đang
trải qua, dĩ nhiên là ở những tình trạng khác nhau, thậm chí là trong sự đối cực.
Trong chương 2 của cuốn sách Kết nối vào hệ thống, tác giả đã tường trình và phân
trong năm này, Nxb Khoa học Xã hội phát hành cuốn Đợt sóng thứ ba của Alvin
Toffler (Nguyễn Lộc và Phan Ngọc dịch). Đây là cuốn sách rất nổi tiếng của nhà
tương lai học hàng đầu thế giới. Mục đích cuốn sách là nhằm cắt nghĩa về xã hội
đương đại để định hướng cho tương lai, không phải trong sự giả tưởng lạc quan, mà
trong những phân tích thuyết phục xuất phát từ sự lý giải về bản chất và đặc điểm
của nền văn minh hậu công nghiệp. Tác phẩm đã chỉ ra những bước tiến mới về
nhiều lĩnh vực trong đời sống nhân loại, và cũng chỉ ra rất nhiều những khó khăn
phía trước đang đón đợi con người.
Năm 2008, là năm mà độc giả Việt Nam có điều kiện tiếp cận với nhiều cuốn
sách rất có giá trị trong việc tìm hiểu, nghiên cứu chủ nghĩa hậu hiện đại, thuộc các
lĩnh vực xã hội học, kinh tế học, tâm lý học. Có thể kể đến các cuốn Nguy cơ của
Dan Gardner, Nxb Lao động (Ngọc Trung và Kiều Vân dịch); Kỷ nguyên hỗn loạn
– Những cuộc khám phá trong lòng thế giới mới của Alan Greenspan, Nxb Trẻ
(nhóm dịch Nguyễn Hồng Quang); Thế giới phẳng – Tóm lược lịch sử thế giới thế
kỷ XXI của Thomas l.Friedman, Nxb Trẻ (nhóm dịch Thái Quang A); Hiện đại hóa
và Hậu hiện đại hóa của Ronald Inglehart, Nxb Chính trị Quốc gia (Nguyễn Thị
Phương Mai, Nguyễn Chí Tình, Nguyễn Mạnh Trường dịch, Vũ Thị Minh Chi hiệu
đính). Thế giới phẳng, đó là một cách nói ám dụ về thế giới đương đại. Cuốn sách
được viết với một văn phong giản dị, dễ đọc, đã đem đến cho độc giả những hiểu
13
biết khá sâu sắc và tường tận về một trật tự thế giới mới gắn với tiến trình toàn cầu
hóa, mà sự bắt đầu của nó là công nghệ thông tin và internet. Hiện đại hóa và Hậu
hiện đại hóa là công trình nghiên cứu xã hội học, dựa trên những cuộc điều tra giá
trị thế giới, được tiến hành tại 43 quốc gia ở khắp các châu lục, trong những điều
kiện và tình trạng xã hội khác nhau. Từ khảo sát, nghiên cứu thực tiễn, R.Inglehart
đã có những phân tích, đánh giá sâu sắc về những biến đổi toàn diện (kinh tế, chính
trị, xã hội, văn hóa, giáo dục, tôn giáo) đang diễn ra trên toàn thế giới. Theo ông,
quá trình vận động xã hội từ hiện đại sang hậu hiện đại là quá trình làm mới các giá
Đối với giới văn nghệ, việc tìm hiểu, nghiên cứu những tri thức hậu hiện đại
nói chung, là một yêu cầu bức thiết để có được sự hiểu biết vừa tổng thể vừa chuyên
sâu. Nắm bắt tri thức, tri nhận và tiếp biến để tạo ra những giá trị mới cả trong sáng
tác và phê bình, đó là con đường duy nhất để đưa nền văn nghệ Việt Nam thoát khỏi
tình trạng “gà què ăn quẩn cối xay”.
1.2. Các công trình nghiên cứu, phê bình ở trong nước
Khái niệm “hậu hiện đại” và “chủ nghĩa hậu hiện đại”, bản thân chúng đã chứa
đựng những vấn đề hết sức phức tạp, tạo ra những cuộc tranh luận trong suốt gần
nửa thế kỷ qua giữa các nhà khoa học, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ trên thế giới.
Khi được áp dụng vào Việt Nam, số phận của nó cũng không được “thuận buồm,
xuôi gió”. Tìm hiểu hoạt động nghiên cứu, phê bình hậu hiện đại trong lĩnh vực văn
học mới thấy hết được sự gian khó của cái mới để tồn tại, khi nó phải đối diện với
những thái độ ứng xử rất khác nhau, và không phải bao giờ cũng có sự công tâm và
sự khách quan khoa học. Thời gian là người thầy của các sự kiện, câu trả lời về hậu
hiện đại và tất cả những gì là nội hàm và ngoại diên, tất cả những gì bao bọc lấy
khái niệm này sẽ có câu trả lời ở tương lai, một tương lai gần. Nhưng tất cả chúng ta
đều buộc phải thừa nhận rằng, cả trên thế giới và ở Việt Nam, hậu hiện đại đã đem
đến một nhận thức mới, một luồng sinh khí mới cho đời sống, trong đó có cả cho
đời sống văn hóa, văn học.
Tìm hiểu lịch sử hiện diện của từ “hậu hiện đại” ở Việt Nam, dĩ nhiên là phải
tính đến sự xuất hiện của từ này cùng những nội dung của nó. Và chắc chắn, từ “hậu
hiện đại” chỉ có thể xuất hiện trong văn bản vào những năm cuối thế kỷ XX. Tuy
nhiên, chúng tôi muốn mở rộng sự tham khảo của mình đến những năm trước 1975,
ở Miền Nam Việt Nam, trong một điều kiện xã hội gần gũi hơn với Phương Tây, đã
có nhiều nhà nghiên cứu bước đầu tiếp cận với hậu hiện đại, mặc dù trong các công
trình của họ chưa gọi đầy đủ khái niệm này. Vào năm 1969, trên Tạp chí Tư tưởng,
số 6, Viện đại học Vạn Hạnh, đã có hai bài nghiên cứu của Phạm Công Thiện và
Tuệ Sĩ về triết học “cơ cấu luận” của Levi – Strauss, J. Derrida và M. Foucault. Đây
là những nhà khoa học nổi tiếng có vai trò trực tiếp, hoặc có sự kết nối với việc hình
15
trị thẩm mỹ” [32, tr.41- 42]. Sau bài viết của Trương Đăng Dung, khái niệm “hậu
hiện đại” được đề cập đến là ở ấn phẩm Văn hóa nghệ thuật thế kỷ XX những hiện
tượng – trào lưu – nhân vật tiêu biểu trong 100 năm qua, Nguyễn Nam và Lê Huy
Khánh biên soạn Nxb Văn học, 1999. Theo các tác giả, trào lưu nghệ thuật hậu hiện
16
đại được xem là một trong số 100 hiện tượng văn hóa nghệ thuật đặc trưng của thế
kỷ XX, là trào lưu gắn liền với một thời kỳ lịch sử mới của nhân loại [90, tr.179].
Phải đến năm 2000 trở đi, từ “hậu hiện đại”, sau một thời gian dài vật vờ ngoài
lề của tri thức Việt, mới bắt đầu được dùng phổ biến trong đời sống văn hóa nước
nhà, được sự quan tâm hàng đầu của nhiều nhà nghiên cứu và diễn ra nhiều cuộc
tranh luận với những ý kiến, quan niệm, xu hướng khác nhau. Trong năm này,
Phương Lựu công bố bài viết Tìm hiểu chủ nghĩa hậu hiện đại trên Tạp chí Nhà
văn, số 8. Bài viết của Phương Lựu trực tiếp bàn về các vấn đề của chủ nghĩa hậu
hiện đại, được xem như bước khởi động cho hoạt động nghiên cứu, phê bình văn
hóa, văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, là tiếng nói chính văn góp phần xua đi sự e
dè, ngần ngại của nhiều người trước “hậu hiện đại”.
Năm 2001, Phùng Văn Tửu công bố chuyên luận Tiểu thuyết Pháp bên thềm
thế kỷ XXI, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. Các tác giả được chọn đưa vào chuyên
luận đều là những nhà văn nổi tiếng trên văn đàn từ những năm 80 của thế kỷ XX.
Qua đó, người đọc có được những hình dung về diện mạo và thành tựu của một số
tác giả hậu hiện đại nổi tiếng của văn học Pháp như Robbe – Grillet, Le Clezio…
Vào tháng 9/2001, trên Tạp chí Văn học, Nguyễn Văn Dân có bài Chủ nghĩa hậu
hiện đại hay là hiện tượng chồng chéo khái niệm. Đây là một tiểu luận được viết
công phu, trích dẫn nhiều tư liệu, tranh luận nhiều về chủ nghĩa hậu hiện đại, tuy
nhiên, người viết lại cho rằng hậu hiện đại chỉ là một khái niệm “rỗng”!
Năm 2003, Nxb Hội Nhà văn và Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây phát
hành bộ Văn học hậu hiện đại thế giới. Tập 1 Văn học hậu hiện đại thế giới – những
vấn đề lý thuyết có 7 bài viết của các tác giả Việt Nam, gồm 3 bài của các nhà
năm này, Lê Huy Bắc giới thiệu công trình nghiên cứu Truyện ngắn – Lý luận – Tác
gia và tác phẩm (2 tập), Nxb Giáo dục. Trong tập 2, phần một, có tựa đề Tổng luận,
tác giả đã lý giải về lịch sử thể loại, quan niệm, đặc trưng và sự vận động của truyện
ngắn trong tiến trình phát triển của nó. Trong quá trình diễn giải, đặc biệt là ở các
mục Truyện ngắn hậu hiện đại, Truyện ngắn nhại, Chủ nghĩa cực hạn và Raymond
Carver, người viết đã góp phần làm rõ nghĩa của lý thuyết văn học hậu hiện đại.
Năm 2006, có công trình triết học Chủ nghĩa hậu hiện đại của Trần Quang
Thái, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phác thảo và hệ thống lại
lịch sử ra đời và phát triển của chủ nghĩa hậu hiện đại thế giới: những tiền đề về
triết học, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tôn giáo…, quan niệm hậu hiện đại như
một thực thể của đời sống đương đại, qua đó, bước đầu tổng kết tư tưởng cơ bản của
lý thuyết này.
Năm 2007, được xem là năm mà đời sống văn học Việt Nam xuất hiện nhiều
công trình nghiên cứu về hậu hiện đại nhất. Điều này đã công nhận việc lý thuyết
18
hậu hiện đại cùng những ứng dụng của nó đã có được chỗ đứng trong đời sống văn
học Việt Nam. Trên Tạp chí Văn học, số 12, có thể xem như số chuyên đề văn học
hậu hiện đại, khi có đến 5 bài nghiên cứu về lĩnh vực này. Bài viết của Phương Lựu
Chủ nghĩa lịch sử mới, một chuyển biến trong lòng chủ nghĩa hậu hiện đại, đã diễn
giải thái độ của chủ nghĩa hậu hiện đại đối với lịch sử, đó là “phải gắn văn học với
lịch sử xã hội mà xem xét”. Nhưng nó không giống với chủ nghĩa lịch sử cũ vốn
chủ yếu dựa trên quyết định luận khách quan, mà “nó được đặt cơ sở trên quan hệ
chủ thể - lịch sử”. Bài viết của Trần Quỳnh Hương Dấu ấn của chủ nghĩa hậu hiện
đại trong văn học đương đại Trung Quốc đã giới thuyết những nét chính của quá
trình chủ nghĩa hậu hiện đại du nhập vào Trung Quốc và một số thành tựu của văn
học theo khuynh hướng hậu hiện đại. Đặc biệt, ba bài viết Những dấu hiệu của chủ
nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và
Phạm Thị Hoài của Lã Nguyên, Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam