BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KIỀU THANH NHÀN
HỆ THỐNG ĐÀI TRUYỀN THANH
CẤP HUYỆN TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS
CẦN THƠ - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do tôi tự nghiên
cứu. Các số liệu trong luận văn có cơ sở rõ ràng và trung
thực. Phần tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn đầy
đủ, chính xác. Các kết luận của luận văn chưa từng được
công bố trong các công trình nghiên cứu khác.
Cà Mau, ngày 02 tháng 6 năm 2015
Tác giả luận văn
huyện tỉnh Cà Mau hiện nay
32
32
53
59
65
70
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ PHÁT TRIỂN
HỆ THỐNG ĐÀI TRUYỀN THANH CẤP HUYỆN TỈNH
CÀ MAU
3.1. Một số giải pháp
3.2. Đề xuất, khuyến nghị
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
77
77
89
96
99
104
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTV
:
Phát thanh viên
PT-TH
:
Phát thanh-Truyền hình
TNVN
:
Tiếng nói Việt Nam
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
39
Bảng 2.1:
Bảng 2.2:
Nguồn nhân lực các đài truyền thanh huyện tỉnh Cà Mau
Các chuyên mục, tiết mục được duy trình phát hàng
Bảng 2.3:
Bảng 2.4:
70
73
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hệ thống Đài truyền thanh (ĐTT) cấp huyện ở tỉnh Cà Mau ra đời từ
năm 1975. Trải qua chặng đường 40 năm phát triển, hệ thống các ĐTT cấp
huyện đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công tác tuyên truyền, cổ động,
phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của địa phương, sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
Trong công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng
với sự lớn mạnh của báo chí trong tỉnh, hệ thống ĐTT cấp huyện ngày càng
được củng cố bộ máy tổ chức, không ngừng đổi mới nội dung, đa dạng hình
thức thể hiện, nâng thời lượng phát sóng, mở thêm nhiều chuyên mục, đáp
ứng nhu cầu nắm bắt thông tin và giải trí của các tầng lớp nhân dân ở vùng
nông thôn. Từ chổ bộ máy tổ chức chỉ có một, hai thành viên; hoạt động của
đài chủ yếu làm nhiệm vụ tiếp âm đài cấp trên; đến nay ĐTT huyện có bộ
máy tổ chức hoàn thiện, với đội ngũ cán bộ viên chức có trình độ đạt chuẩn
theo quy định; ĐTT huyện đủ sức sản xuất chương trình thời sự hàng ngày
như một đài phát thanh thực thụ. Đặc biệt, từ năm 1990 đến nay, hệ thống
ĐTT cấp huyện ở tỉnh Cà Mau tiếp tục được đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm
trang thiết bị, thay đổi công nghệ từ truyền thanh hữu tuyến sang phát thanh
FM trên tần số vô tuyến điện theo quy hoạch của quốc gia.
Với đặc thù là vùng sông nước, kết cấu hạ tầng giao thông yếu kém, đi
lại khó khăn, người dân khó tiếp cận với thông tin, nên hoạt động của hệ
thống ĐTT cấp huyện rất hữu dụng và cần thiết. Qua 40 năm xây dựng và
trưởng thành, hệ thống ĐTT cấp huyện ở tỉnh Cà Mau đóng vai trò không thể
thiếu được trong hệ thống thông tin, truyền thông của tỉnh. Nhiều cán bộ quản
ngày càng phát triển mạnh mẻ và từng bước hiện đại, đóng góp tích cực và
hiệu quả vào nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế, văn hoá xã hội, quốc
phòng an ninh. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu sâu về họat động
của báo chí Cà Mau, đặc biệt là hoạt động của ĐTT cấp huyện.
3
Trong quá trình khảo sát, nghiên cứu để thực hiện đề tài này, chúng tôi
thấy có nhiều tác giả, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến báo chí Phát
thanh, Truyền hình và hệ thống truyền thanh cơ sở. Theo dòng thời gian, có
những công trình nghiên cứu đáng chú ý như: Cuốn sách “Nghề báo nói” của
tác giả Nguyễn Đình Lương, do Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin in và phát
hành năm 1993; Giáo trình “Báo chí phát thanh” do các tác giả của Khoa Báo
chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền cùng Đài TNVN biên soạn (Nxb Văn
hóa - Thông tin, Hà Nội, 2002); Chuyên luận “Lý luận báo Phát thanh” của
tác giả Đức Dũng, do Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin in và phát hành năm
2003; Chuyên luận “Các thể loại báo chí Phát thanh” của tác giả người Nga
V.V. Xmirnôp đã được Nhà xuất bản Thông tấn dịch và phát hành năm 2004;
Tài liệu “Phát thanh-Truyền thanh nông thôn” do Ban Địa phương, Đài
TNVN dịch và lưu hành nội bộ, tái bản năm 2005; Giáo trình “Phát thanh trực
tiếp” do GS, TS Vũ Văn Hiền và TS Đức Dũng chủ biên, Nhà xuất bản Lý
luận Chính trị in và phát hành năm 2007;…
Liên quan đến loại hình báo Phát thanh, tác giả cũng đã tham khảo một
số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này, đó là:
- Khóa luận tốt nghiệp Đại học báo chí, chuyên ngành Phát thanh của
sinh viên Trần Đắc Xuyên, được thực hiện từ tháng 6/2000. Khóa luận có tiêu
đề “Thử đi tìm một mô hình cho phát thanh cấp huyện”, tác giả nêu ra những
điều bất cập trong các mô hình quản lý ĐTT huyện, thị ở thời điểm năm 2000,
qua đó cố gắng tìm kiếm giải pháp khắc phục. Tuy nhiên, do mức độ của một
khóa luận và tình hình thực tế ở nước ta vào thời điểm năm 2000 nên những
thập được về hoạt động phát thanh, truyền thanh cơ sở của các địa phương
khác ở Tây Nam Bộ; mô tả khái quát hiện trạng mạng lưới ở đồng bằng
sông Cửu Long, tổng kết những đóng góp quan trọng về nhiều mặt của
mạng lưới tại địa phương; phân tích những nguyên nhân chủ yếu gây ra hạn
chế của Phát thanh, truyền thanh cơ sở; đề xuất một số khuyến nghị những
5
giải pháp nhằm phát triển mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh
miền Tây Nam Bộ.
- Cùng nghiên cứu về hệ thống truyền thanh cơ sở có Luận văn Thạc sỹ
Báo chí học của Nguyễn Thanh Lâm (bảo vệ năm 2014, tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền) có tiêu đề: “Hoàn thiện mô hình tổ chức họat động mạng
lưới truyền thanh cơ sở các huyện ven biển tỉnh Bến Tre” và Luận văn Thạc
sỹ Báo chí học của Huỳnh Thiện Tài (bảo vệ năm 2014, tại Học viện Báo chí
và Tuyên truyền) với tiêu đề: “Hệ thống truyền thanh cơ sở của tỉnh Bến Tre Thực trạng và giải pháp phát triển”.
Cả hai luận văn này đều cho rằng phát thanh ở nước ta đang tích cực
vận động theo hướng hiện đại hóa, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của công
chúng. Hệ thống truyền thanh cơ sở là một phần quan trọng của ngành Phát
thanh nước ta. Hệ thống này đang vận hành với những thuận lợi và khó khăn,
với những thành công và hạn chế, bất cập cần được nghiên cứu và tháo gỡ.
Trên cơ sở đó, các tác giả đưa ra những nhóm giải pháp nhằm xây dựng hòan
thiện mô hình tổ chức, cải tiến nội dung, chất lượng họat động, nhằm phát
triển hệ thống truyền thanh cơ sở ở Bến Tre trong thời gian tới.
Trong tất cả các luận văn nêu trên, chỉ có luận văn Thạc sỹ ngành báo
chí học của Nguyễn Thị Phước (năm 2010) đề cập đến thực trạng chung và
giải pháp phát triển của mạng lưới phát thanh, truyền thanh cơ sở ở các tỉnh
miền Tây Nam bộ, nhưng chỉ dựa trên kết quả khảo sát ở hai tỉnh Vĩnh Long
và An Giang. Còn Luận văn của tác giả Nguyễn Thanh Lâm và Huỳnh Thiện
Tài thì chỉ tập trung khảo sát mô hình tổ chức, thực trạng và giải pháp phát
trên địa bàn tỉnh Cà Mau trong việc phục vụ hiện nhiệm vụ chính trị và đáp
ứng nhu cầu thông tin của công chúng; đồng thời chỉ ra những tồn tại, hạn
chế, khó khăn, bất cập trong quá trình hoạt động.
- Xác định xu hướng phát triển và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống
ĐTT cấp huyện ở Cà Mau, từ đó tìm ra mô hình phù hợp, cách làm hay, có
hiệu quả; trên cơ sở đó đề xuất, khuyết nghị các giải pháp khả thi về một mô
hình họat động hòan thiện nhất, nhằm phát triển và nâng cao vai trò, hiệu quả
hoạt động của hệ thống này ở Cà Mau.
7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hoạt động của hệ thống
ĐTT cấp huyện ở Cà Mau.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài khảo sát giới hạn ở 8 huyện của tỉnh Cà
Mau, trong khoảng thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 12/2014.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận là những quan điểm của Đảng và Nhà
nước Việt Nam về hệ thống phát thanh nói chung và hệ thống ĐTT cấp huyện
nói riêng; cơ sở lý luận báo chí và lý luận chuyên ngành Phát thanh để nghiên
cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: được sử dụng trong việc nghiên
cứu các sách, báo, tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận báo chí và lý luận
báo phát thanh nhằm hệ thống hóa những vấn đề về lý luận làm cơ sở cho
quá trình nghiên cứu.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Phương pháp này nhằm tìm hiểu, đánh
giá thực trạng chung về hoạt động của hệ thống ĐTT cấp huyện ở Cà Mau;
cho cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí nói chung và cấp ủy, chính quyền địa
phương hiểu sâu sắc hơn về vai trò, vị trí, hiệu quả hoạt động của các ĐTT cấp
huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác tuyên truyền, phục vụ nhiệm vụ
chính trị ở địa phương. Từ đó có chủ trương, cơ chế chính sách phù hợp trong
việc đầu tư phát triển và quản lý hệ thống ĐTT cấp huyện hiệu quả hơn.
- Những đề xuất và giải pháp được luận văn nêu ra có thể sẽ là tài liệu
tham khảo hữu ích, để các ĐTT cấp huyện ở tỉnh Cà Mau và các tỉnh trong
khu vực có điều kiện thực tế giống nhau nghiên cứu, vận dụng vào tình hình
thực tế của địa phương mình, nhằm đổi mới mô hình tổ chức, cách thức tổ
9
chức quản lý và phát huy thế mạnh của hệ thống này một cách tốt nhất trong
bối cảnh hiện nay.
- Quá trình thực hiện đề tài cũng là dịp để tác giả bổ sung kiến thức
và hiểu biết sâu hơn, tiếp tục đóng góp công sức, tâm huyết của mình trong
việc xây dựng và phát triển sự nghiệp truyền thanh ở tỉnh Cà Mau và không
ngừng đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tại đơn vị mình quản lý.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng hệ thống đài truyền thanh cấp huyện tỉnh Cà Mau
Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị phát triển hệ thống Đài
truyền thanh cấp huyện tỉnh Cà Mau
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
truyền thanh, tác động vào thính giác của công chúng [33, tr.51].
Tiếp cận Phát thanh là một loại hình báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn
Dững đưa ra khái niệm:
Phát thanh là kênh truyền thông đại chúng sử dụng kỹ thuật sóng
điện từ và hệ thống truyền dẫn truyền đi âm thanh tác động trực tiếp
vào thính giác người tiếp nhận. Chất liệu chính của phát thanh là
nghệ thuật sử dụng lời nói, tiếng động và âm nhạc trong việc tái
hiện cuộc sống hiện thực [14, tr.111].
Trong hệ thống báo chí nước ta hiện nay, phát thanh cùng với truyền
hình là hai loại hình báo chí quan trọng được đầu tư nhiều nhất. Phát thanh là
phương tiện thông tin đại chúng thuận tiện, gần dân nhất, với mạng lưới phủ
khắp quốc gia, vươn tới tận từng xóm làng, thôn bản.
Từ các khái niệm và định nghĩa nêu trên, tác giả luận văn có thể rút ra
khái niệm chung: Phát thanh là loại hình báo chí đặc thù, sử dụng kỹ thuật
sóng điện từ, truyền tải thông điệp đến người người nghe bằng chất liệu âm
thanh tổng hợp bao gồm lời nói, tiếng động và âm nhạc để phản ánh hiện thực
cuộc sống.
1.1.2. Truyền thanh và Đài Truyền thanh
- Truyền thanh
Theo Từ điển Tiếng Việt “truyền” là truyền âm đi xa bằng sóng điện từ
hoặc bằng dây [Error: Reference source not found, tr.1734]. Theo các nhà
ngôn ngữ học, thì động từ “truyền” thường đi liền với cách nói về phương
thức truyền. Cũng theo Từ điển này, định nghĩa “truyền” là “lan rộng ra hoặc
làm lan rộng ra cho nhiều người, nhiều nơi biết”. Truyền thanh có nghĩa là
“truyền âm thanh đi xa bằng radio (vô tuyến truyền thanh) hoặc bằng đường
dây” [Error: Reference source not found, tr.1119].
12
Theo Từ điển tiếng Việt của tác giả Phan Việt Anh: “Truyền thanh có
qua hệ thống loa truyền thanh không dây công cộng một cách dễ dàng. Ngày
nay, với việc sử dụng công nghệ truyền thanh FM đã giúp người nghe đồng
thời tiếp nhận thông tin qua hệ thống loa truyền thanh cố định, vừa có thể chủ
động nghe trên radio cá nhân ở những vị trí cách xa.
Trước đây, các ĐTT sử dụng hệ thống đường dây kim loại phục vụ nhu
cầu nắm bắt thông tin của dân cư ở phạm vi hẹp. Từ năm 1990 đến nay, với
sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật, phần lớn các ĐTT đều chuyển đổi từ truyền
thanh hữu tuyến (dây dẫn) sang truyền thanh bằng sóng FM của tần số vô
tuyến điện, bán kín phủ sóng từ 10 đến 20 km, được Cục tần số cấp phép hoạt
động. Các trạm thu phát FM được bố trí đều khắp ở địa bàn nông thôn, phục
vụ được đông đảo công chúng.
1.1.3. Đài truyền thanh cấp huyện
“Đài truyền thanh cấp huyện” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến
trong lý luận chuyên ngành phát thanh ở nước ta. Theo các tác giả của các
cuốn sách Báo phát thanh, Lý luận báo phát thanh, Phát thanh trực tiếp,
Những vấn đề của báo chí hiện đại thì đây là một thuật ngữ được sử dụng để
chỉ một cấp trong hệ thống phát thanh - truyền thanh bốn cấp ở nước ta gồm:
cấp Trung ương; cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cấp huyện, thị,
thành phố trực thuộc tỉnh; cấp phường, xã, thị trấn.
Ở nước ta, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, sau khi thành lập, hệ
thống ĐTT cấp huyện đã nhanh chóng được tăng cường về số lượng và nâng
cao dần chất lượng. Theo cuốn “Những vấn đề của báọ chí hiện đại” thì
nhiệm vụ chính của các ĐTT huyện trong giai đoạn này là tiếp sóng đài Trung
ương, đài tỉnh và tự xây dựng các bản tin, các chương trình phát thanh để
phản ánh về công việc của hợp tác xã; cổ vũ phong trào thi đua lao động và
phê phán thói lãng phí, quan liêu trong quản lý tài sản tập thể,... Do số lượng
các loại báo, tạp chí của nước ta thời kỳ này ít nên vị trí, vai trò của các đài
truyền thanh huyện rất quan trọng.
15
1.1.4. Chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài vở, tài liệu
cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định,
mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể.
Thông thường một chương trình phát thanh mở đầu bằng nhạc hiệu
và kết thúc bằng lời chào tạm biệt. Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng
của PTV, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình. Chương trình
phát thanh được xây dựng phù hợp với đối tượng và mục đích cung
cấp thông tin [49, tr.117-118].
Chương trình phát thanh được coi như một số báo. Trong thực tế, tùy
theo tiêu chí phân loại, mỗi chương trình phát thanh có đối tượng tác động
riêng, có nội dung phản ánh cũng như phương thức thực hiện riêng. Thính giả
dễ dàng phân biệt chương trình phát thanh Thanh niên với Câu lạc bộ những
người cao tuổi; chương trình Thời sự với Diễn đàn các vấn đề xã hội,... Sự
phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao động, tạo ra cho các
chương trình phát thanh có sự phân định rõ ràng. Quá trình tiếp nhận của
công chúng gắn liền với các chương trình phát thanh. Người nghe có thể nắm
bắt được thông tin thời sự một cách nhanh nhất qua chương trình thời sự và
họ chờ đợi những hướng dẫn cụ thể qua chương trình chuyên đề.
Chương trình phát thanh thường có những đặc điểm sau đây:
- Chương trình phát thanh được mở đầu bằng nhạc hiệu hoặc nhạc
chương trình. Nhạc hiệu như một thông báo chính thức, giúp người nghe phân
biệt đài phát thanh quốc gia này với quốc gia khác, tỉnh này với tỉnh khác.
Nhạc chương trình để phân biệt các chương trình khác nhau của một đài.
Người nghe sẽ nhận diện các chương trình phát thanh ngay từ phút đầu tiên
thông qua nhạc hiệu hoặc nhạc chương trình.
- Lời xướng của phát thanh viên, người dẫn chương trình: Lời xướng
được dùng như một thông báo ngắn gọn cho tên của chương trình phát thanh.
18
được. Cà Mau có 8 dòng sông chảy qua địa phận, tạo thành các cửa sông lớn
cùng với hơn 7.000km chiều dài sông rạch, tạo nên vẻ đẹp sông nước đặc sắc
cùng với nhiều đặc sản ẩm thực đa dạng.
Với đặc điểm thiên nhiên như thế, nên lĩnh vực ngư - nông - lâm
nghiệp phát triển rất mạnh, trong đó ngành thủy sản chiếm 30% GDP của
tỉnh. Cà Mau là tỉnh có ngành thủy sản phát triển nhất vùng ĐBSCL và cũng
là địa phương có diện tích, sản lượng nuôi trồng thủy sản cao nhất cả nước.
Cà Mau là tỉnh có ba mặt giáp biển, có bờ biển dài 254 km, ngư trường rộng
hơn 70.000 km2, thuận lợi cho việc khai thác, nuôi trồng thủy sản.
Cà Mau giàu tài nguyên về rừng và biển. Hệ sinh thái rừng ngập nước
có diện tích gần 100.000 ha, được chia thành 2 vùng: rừng ngập lợ với đặc
trưng cây tràm là chủ yếu, nằm sâu trong đất liền ở vùng U Minh hạ; rừng
ngập mặn với đặc trưng cây đước, cây mắm là chủ yếu ở vùng Mũi Cà Mau
và ven biển. Tỉnh Cà Mau có thảm rừng tràm nguyên sinh khổng lồ ở Vườn
Quốc gia U Minh Hạ và cánh rừng đước lớn thứ hai thế giới, chỉ sau rừng
Amazon. Tháng 5/2009, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau và Vườn Quốc gia U
Minh Hạ được UNESCO công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới.
Tháng 4/2013, Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau được công nhận là Khu Ramsar
thứ 5 của Việt Nam và là khu Ramsar thứ 2.088 của thế giới.
Tỉnh Cà Mau có 20 dân tộc cùng sinh sống, trong đó có 03 dân tộc
chính gồm Kinh - Khmer - Hoa. Người Kinh chiếm đại đa số với 96,66 % dân
số. Con người Cà Mau chất phác, mến khách, trọng nghĩa tình; giàu tình yêu
quê hương đất nước, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ Tổ quốc. Hưởng ứng
cuộc khởi nghiã Nam Kỳ, năm 1940 Tỉnh ủy Cà Mau đã lãnh đạo cuộc khởi
nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi. Từ đó ngày khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 trở
thành ngày truyền thống của Đảng bộ và quân dân tỉnh Cà Mau.
Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc
của các huyện chuyển sang tên gọi mới, chính thức thành lập ĐTT huyện. Để
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, hệ thống ĐTT cấp huyện từng bước được