Ôn thi môn quản trị rủi ro có đáp án - Pdf 34

1

Chương I: Quản Trị Rủi Ro
Câu 1: Thế nào là rủi ro? Các cách phân loại rủi ro. Cho ví dụ minh họa.
Rủi ro được hiểu theo nhiều trường phái khác nhau:
- Theo trường phái trung hòa:Rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro vừa mang tính
tích cực vừa mang tínhtiêu cực. Rui ro có thể mang tới những tổn thất, mất mát, nguy hiểm…
cho con ngườinhưng cũng có thể mang đến những cơ hội”.
- Theo trương phái truyền thống:Rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố
liên quan đến nguy hiểm,khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người”.
- Như vậy có thể hiểu rủi ro là: Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở các kết quả, sốlượng các kết quả
có thể có càng lớn, sai lệch giữa các kết quả có thể có càng caothì rủi ro càng lớn.-Rủi ro là một
khái niệm khách quan và có thể đo lường được
Cách phân loại rủi ro: có 2 cách phân loại rủi ro
Cách 1: rủi ro thuần túy và rủi ro suy đoánRủi ro thuần tuý là những rủi ro dẫn đến tình huống
tổn thất hay không tổn thất, trườnghợp tốt nhất là tổn thất không xảy ra.
Ví dụ rủi ro thuần túy: một người bị mất trôm tài sản nếu không mất thì người này sẽkhông bị
thiệt hại cũng không có khả năng sinh lờiRủi ro suy đoán là những rủi ro dẫn đến tình huống tổn
thất hoặc sinh lợi. Phần sinh lợicòn gọi là phần thưởng cho rủi ro.
Ex: Rủi ro suy đoán: đầu tư vào một dự án vốn có thể có lợi nhuận hay có thể thất bại. Những rủi
ro thuần túy thì luôn luôn làm người ta khó chịu, nhưng những rủiro suy đoán có mặt hấp dẫn
nào đó.
Cách 2 : rủi ro có thể đa dạng hóa và rủi ro không thể đa dạng hóa

Rủi ro có thể đa dạng hay còn gọi là rủi ro không có tính hệ thống, rủi ro đặc trưng. Đâylà những
rủi ro thường xảy ra trong phạm vi hẹp, mang tính riêng có, cá thể và có thể phân chia, giảm
thiểu được bằng cách đa dạng hóa, bằng các nguồn quỹ góp chung.Rủi ro có thể đa dạng bao
gồm:
1.rủi ro quản lí•Là những rủi ro nảy sinh do trình độ yếu kém của người quản lý vì vậy quyết
định do họ đưa ra có thể sai lầm gây tổn hại thậm chí phá sản doanh nghiệp
2.rủi ro tài sản•Là những rủi nảy sinh do tài sản và cơ cấu tài sản doanh nghiệp nắm giữ.

đoán KD
.4.Mức 3 Bất định cao nhất.
Những kết quả không được nhận ra đầy đủ và xác suất không được biết


3

Ex: Thám hiểm không gian, nghiên cứu di truyền.
Câu 3: Phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và bất định, thông tin và truyền thông. Lấy ví dụ về
tin đồn thất thiệt đối với ngân hàng Á Châu năm 2003.
-

-

Để phân tích mối quan hệ giữa rủi ro và sự bất định ta đi từ khái niệm của nó:Sự bất định
là nghi ngờ khả năng của chúng ta trong việc tiên đoán kết quả ở tương lai của một loạt
những hoạt động hiện tại.Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở kết quả.Từ hai khái niệm cho
thấy, do những biến động tiềm ẩn ở tương lai nên làm cho chúng ta nghi ngờ và không
chắc chắn về những dự đoán kết quả của chúng ta ở tương lai. Vậy sự hiện diện của rủi ro
gây nên sự bất định.Rủi ro và sự bất định có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau, khi rủi
ro càng lớn thì sự bất định của chúng ta về kết quả càng lớn.Khi rủi ro càng lớn thì làm
cho con người ta càng lo lắng sợ nhiều hơn và chúng làm cho sự bất định của chúng ta
càng cao dẫn đến chi phí cho rủi ro của chúng ta càng cao. Sự bất định mô tả một trạng
thái tư tưởng, và tuỳ thuộc vào từng đối tượng mà sự bất định cao hay thấp. Nếu chúng ta
nhận dạng được rủi ro, đo lường và kiểm soát được rủi ro thì sự bất địnhcủa chúng ta sẽ
giảm xuống.
Mối quan hệ giữa thông tin và truyền thông:
Truyền thông và thông tin có mối quan hệ qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau cùng có tác
động lên sự bất định và rủi ro.


phá huỷ, con người bị thương,tử vong, chi phí bồi thườngdo bị kiện… một chi phí khác của rủi
ro là chi phí bất định. Ngay cả khi không có sự tổn thất nào chúng sự hiện diện của rủi ro và sự
bất định vẫn tạo nên chi phí, đó là chi phí cho sự lo lắng. Và chúng ta thường trích ra những
khoản chí phòng bị cho nổi sợ hãi lo lắng này mặc dù những rủi ro đó không xảy ra, và ta càng
thấy rõ chi phí này qua việc các tổ chức bố trí không hợp lý các nguồn nhân lực. Do lo sợ và
sự bất định nên làm chohọ lu mờ về khả năng xét đoán của mình, hay mất đi sự can đảm đầu tư
về những hoạtđộng nhất định. Chi phí bất định rất khó đo lường, mặc dù nó có thể là chi phí có
tác hại hơn trong hai chi phí rủi ro.Tuy nhiên rủi ro và sự bất định đôi lúc cũng đem lại những lợi
ích. Cuộc sống sẽ hấp hẫn khi có rủi ro và sự bất định. Hơn nữa những rủi ro suy đoán có thể
đem lại những lợi ích những kết quả tích cực. Đó là phần thưởng dành cho những tổ chức hay cá
nhân hành động đối đầu với rủi ro.Từ những vấn đề trên cho ta thấy rằng mục tiêu của chương
trình quản trị rủi ro là các tổchức và các cá nhân cần phải xác định được các rủi ro, nhận dạng
chúng, đo lường-kiềm soát, và có phương án tài trợ để đối phó và kiểm soát rủi ro. Nhằm đem
đến cho ta xác suất thành công cao nhất, quản trị rủi ro giúp ta làm giảm cực tiểu chi phí rủi ro và
làm lợi cực đại những lợi ích của rủi ro.
Câu 5. Tóm tắt lịch sử phát triển của chức năng QTRR trong một tổ chức, nêu đặc trưng của
từng giai đoạn.
Các thời kỳ phát triển chức năng quản trị rủi ro:
Thời kỳ ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai
. Trong thời kỳ này chức năng cơ bản của quản trị rủi ro hiện đại được phát triển từ chức năng
mua bảo hiềm, và nó có nột ảnh hưởng lâu dài cho đến tận ngày nay. Vào thời kỳ ngay sau chiến
tranh thế giới lần 2, hầu hết các tổ chức thực hành bất kỳ quản trị rủi ro và bảo hiềm chính thức
đều có người mua bảo hiểm bán thời gian hay toản thời gian. Nhiệm vụ của người đó là chủ yếu
là quản lý danh mục bảo hiểm và một vài nhiệm vụ có liên quan. Và trong thời kỳ này thì những
tổchức có khuynh hướng bảo thủ trong việc coi quản trị rủi ro là một chức năng phụ của tài
chính, bởi vì đặc tính của tài chính là quá trình mua bảo hiểm.
Giai đoạn sau 1960.
Trong thời kỳ này chuyện tiến hoá quan trọng trong quản trị rủi ro là việc loại bỏ sự dụng những
sản phẩm bảo hiểm truyền thống. Mặc dù bảo hiểm vẫn được sự dụng rộng rãi, nhưng các tổ
chức lớn hơn đã giảm sự lệ thuộc của nó vào những thoả hiệp có tính qui ước khi các nhà quản

chúng đến giá trị công ty.Quản trị rủi ro là một hình thức quản trị đã xuất hiện chủ yếu trong
cộng đồng ngân hànggiống như một cách tiếp cận có hệ thống để đối phó với những rủi ro tài
chính cụ thể,chẳng hạn như rủi ro tín dụng, rủi ro chuyển đổi ngoại tệ, rủi ro trong giao dịch;
cũng nhưrủi ro đầu tư.
Câu 7 : phân tích khái niệm QTRR của 1 tổ chức , so với quan niệm truyền thống thìkhái
niệm này khác biệt ở chỗ nào ?
Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học và có hệ thống nhằm nhậndạng,
kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi
ro
Định nghĩa ORM đối nghịch với quan điểm truyền thống, trong khi đó nó mang nhiềuyếu tố của
quan điểm chung của Kloman, Haimes, và Doherty.


6

Điểm thứ nhất , những người chỉ trích này cho rằng: quản trị rủi ro không nên phân biệtcác rủi
ro.
Điểm thứ hai , quản trị rủi ro không phải là chức năng quản trị chuyên môn hóa; nó làmột chức
năng quản trị chung.
Điểm thứ ba , trong một phạm vi hẹp hơn nhiều, những người chỉ trích đã lưu ý rằng,những
người theo truyền thống đã phần nào hướng vào “quản trị tổn thất ” thay vì hướngvào “quản trị
rủi ro và bất định
Câu 8 : phân tích các nhiệm vụ cơ bản của 1 nhà QTRR trong một tổ chức . QUa đóđánh giá
vị trị của họ trong tổ chức đó.
1.Giúp tổ chức nhận dạng, phân tích đo lường và phân loại những rủi ro đã và sẽ đếnvới tổ chức
.2.Xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình kiểm soát rủi ro, với những điều kiện phù hợp với
tổ chức đó.
3.Xây dựng và thực hiện tốt các chương trình tài trợ rủi ro:
-Thu xếp và thực hiện nhanh chóng các hợp đồng bảo hiểm.
-Xây dựng và quản lý hiệu quả các quỹ dự phòng.

hiệu quả nhất các yếu tố cần phân bổ trong sản xuất và kinh doanh.Ví dụ: quản trị hoạt động
khoa học - kỹ thuật và công nghệ là việc sử dụng một hệthống các biện pháp để bố trí, phối hợp
và thực hiện có hiệu quả nhất các yếu tốkhoa học - kỹ thuật và công nghệ trong sản xuất kinh
doanh
.Câu 10 : phân tích những nội dung cơ bản của chương trình QTRR. Cho vd minhhọa.
Nội dung cơ bản của chương trình qtrr là nhằm giúp doanh nghiệp hay tổ chức của họ
nhận dạng rủi ro
thực hiện những chương trình ngăn chặn và kiểm soát tổn thất
xem lại các hợp đồng và những tài liệu liên quan nhằm những mục đích qtrr
cung cấp việc huấn luyện và giáo dục những vấn đề liên quan đến an toàn lao dộng
đảm bảo theo đúng những yêu cầu của chính phủ
sắp xếp những kế hoạch tài trợ phi bảo hiểm
quản trị các khiếu nại và làm việc với đại diện pháp lý khi có kiện tụng
thiết kế và phối hợp hình thành những chương trình phúc lợi công nhân
ngoài ra còn được mở rộng thêm như sau
sử dụng hedging tiền tệ
thiết lập ngân sách vốn
thiết lập mối quan hệ cộng đồng
trợ giúp và huấn luyện nhân viên


8

vận động sự ủng hộ của chính phủ
tiếp thị các dịch vụ
sát nhập công ty và thâu tóm các công ty khác
Chương II: Nhận Dạng Rủi Ro
Câu 1: Phân tích các khái niệm nhận dạng rủi ro, nguồn rủi ro yếu tố mạo hiểm, hiểmhọa và
nguy cơ rủi ro. Cho ví dụ minh họa.
Nhận dạng rủi ro: Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi rovà bất


quốc gia đều dân chủ trong cách điều hành, nhiều nơi có thái độ vàchính sách rất khác nhau về
kinh doanh. Tài sản nước ngoài có thể bị nướcchủ nhà tịch thu hoặc chính sách thuế thay đổi liên
tục. Môi trường chính trịcũng có thể có tác động tích cực thông qua các chính sách tài chính và
tiềntệ, việc thực thi pháp luật, giáo dục cộng đồng…
Môi trường pháp luật: Có rất nhiều sự bất định và rủi ro phát sinh từ hệthống pháp luật. Luật
pháp không phải chỉ đề ra các chuẩn mực và các biện pháp trừng phạt, vấn đề là bản thân xã hội
có sự tiến hóa và các chuẩn mựcnầy có thể không tiên liệu được hết. Ở phạm vi quốc tế còn phức
tạp hơn vìcác chuẩn mực luật pháp có thể thay đổi rất nhiều từ nơi nầy sang nơi khác.Môi trường
luật pháp cũng tạo ra các kết quả tích cực như cung cấp môitrường xã hội ổn định, bảo vệ các
quyền công dân.
Mội trường hoạt động: Quá trình hoạt động của tổ chức có thể làm phátsinh rủi ro và bất định.
Các tiến trình khuyến mãi, tuyển dụng, sa thải nhânviên có thể gây ra các rủi ro về pháp lý. Quá
trình sản xuất có thể đưa côngnhân đến các tổn hại vật chất. Các hoạt động của tổ chức có thể
gây tổn hạicho môi trường. Kinh doanh quốc tế có thể gặp các rủi ro và bất định do hệthống giao
thông vận chuyển không tin cậy. Về khía cạnh rủi ro suy đoánthì môi trường hoạt động cuối cùng
sẽ đưa ra một sản phẩm hay dịch vụ màtừ đó tổ chức sẽ thành công hay thất bại.
Môi trường kinh tế: Mặc dù môi trường kinh tế thường vận động theo môitrường chính trị, sự
phát triển rộng lớn của thị trường toàn cầu đã tạo ra mộtmôi trường kinh tế chung cho tất cả các
nước. Mặc dù các hoạt động củamột chính phủ có thể ảnh hưởng tới thị trường vốn thế giới,
nhưng hầu nhưmột quốc gia không thể kiểm soát nổi thị trường nầy. Tình trạng lạm phát,suy
thoái, đình đốn hiện nay là các yếu tố của các hệ thống kinh tế màkhông một quốc gia nào có thể
kiểm soát nổi. Ở một phạm vi hẹp, lãi suấtvà hoạt động tín dụng có thể áp đặt các rủi ro thuần
túy và suy đoán đángkể lên các tổ chức.
Vấn đề nhận thức: Khả năng cuả một nhà quản trị rủi ro trong việc hiểu,xem xét, đo lường, đánh
giá chưa phải là hoàn hảo. Một nguồn rủi ro quantrọng đối với hầu hết các tổ chức là sự nhận
thức và thực tế hoàn toàn khácnhau. Môi trường nhận thức là nguồn rủi ro đầy thách thức trong
việc nhậndiện và phân tích rủi ro, vì những phân tích đó đòi hỏi trả lời những câu hỏinhư: “làm
sao hiểu được ảnh hưởng của sự bất định lên tổ chức?” hay “làmsao biết được cái mình
nhận thức là đúng với thực tế?” Trong các nguồn rủi ro trên thì vấn đề về nhận thức tạo ra

định, luật đinhk và chỉ thị của nhà nước. Ở một số doanhnghiệp còn tìm cách lách luật thông
qua sự chưa hoàn thiện của hệ thống luật định.
Câu 4: Phân tích từng nội dung, ưu nhược điểm và cho ví dụ minh họa của từng phương
pháp nhận dạng rủi ro.
Có 7 phương pháp nhận dạng rủi ro bao gồm : phân tích các báo cáo tài chính, phương pháp lưu
đồ, thanh tra hiện trường, làm việc với các bộ phận khác trong tổ chức, làmviệc với các nguồn
khác bên ngoài tổ chức, phân tích hợp đồng, nghiên cứu các số liệutổn thất trong quá khứ.
1/ phương pháp phân tích các báo cáo tài chính: theo phương pháp này các khoản nằmtrong
các báo cáo tài chính sẽ được nghiên cứu kỹ để phát hiện ra các rủi ro tiềm năng cóthể phát
sinhƯu điểm:
• đáng tin cậy, khách quan, dựa trên các số liệu có sẳn, có thể trình bày ngắn gọn, rõrang và có
thể dùng để r quyết định cho cả nhà quản trị rủi ro và nhà quản trịdoanh nghiệp


11

• chuyển việc nhận dạng rủi ro thành các thuật ngữ tài chính quen thuộc và từ đó cóthể dễ chấp
nhận hơn đối với các cán bộ quản lý khác trong tổ chức và các đốitượng bên ngoài doanh nghiệp
như chuyên viên kế toán, ngân hàng…
• Không loại trừ việc nhận dạng các rủi ro suy đoán, giúp ích cho việc đo lường vàđịnh ra cách
quản lý tốt nhất cho các nguy cơ rủi ro.Phân tích báo cáo tài chính bao gồm việc phân tích:phân tích tỷ lệ-phân tích cơ cấu
2/ Phương pháp lưu đồ: đây là phương pháp được thực hiện bằng cách xây dựng mộtdãy các
lưu đồ trình bày tất cả các hoạt động của tổ chức, bắt đầu từ khâu nguyên vật liệu, nguồn năng
lượng, và tất cả các đầu vào khác từ người cung cấp, và kết thúc với thành phẩm trong tay người
tiêu dùng.
Kê đó là bẳng liệt kê các nguồn rủi ro về tài sản, trách nhiệm pháp lý và nguồn nhân lựccó thể sử
dụng trong từng khâu để nhận dạng các rủi ro mà tổ chức có thể gặp.
Ưu điểm: gắn liền với các hoạt động của doanh nghiệp từ đó có thể nhìn ra được nguy cơ của rủi
ro bắt đầu từ chỗ nào trong quá trình hoạt động để kịp thời tìm ra các biện phápđối phó với rủi
ro.

nạn, tất cả các yếu tố hiểm họa hoặc các yếu tố đặc biệt nào đó ảnhhưởng đến bản chất của tai
nạn. các nét chung hoặc nhóm các tình huống thường xảy rasẽ gợi sự quan tâm đặc biệt
Ưu điểm: có thể phát hiện ra những rủi ro mà các phương pháp không phát hiện ra bằngcách
tham khảo các hồ sơ được lưu giữ về tổn thất hoặc suýt tổn thất có thể được lặp lạitrong tương
lai
Nhược điểm: phát hiện được ít nguy cơ rủi ro hơn các phương pháp khác.
Câu 5: Chọn một công việc cụ thể, xây dựng qui trình công nghệ để giải quyết việc đóchi tiết
cho từng thao tác, trên cơ sở đó nhận dạng các rủi ro bất định, các rủi ro bất định có thể nảy
sinh ở từng thao tác.
Qui trình tổ chức sự kiện khi tổ chức họp báo:
1. Chuẩn bị phần nội dung

Giới nhà báo đến với sự kiện của công ty là để lấy thông tin: chuẩn bithông tin đầy đủ.
Trước khi bạn bắt đầu triển khai buổi họp báo :thăm dò thái độ của giới phóng viên về phần nội
dung chính của sự kiện này
2. Địa điểm tổ chức họp báo
Tiêu chuẩn của một phòng họp báo là phải đảm bảo không gian, điềukiện tác nghiệp cho phóng
viên, quay phim, kỹ thuật thu thanh... Các trung tâm hội nghị, phòng họp của các khách sạn với
trang bị kỹ thuậtđầy đủ
3. Mời khách (phóng viên)
Lời mời, thường dưới dạng mời tư vấn truyền thông,cần trang trọng, lịch thiệp và thật ngắn gọn:
Chủ đề, địa điểm, thời gian, nhữngnhân vật có mặt và tham gia trả lời phỏng vấn trong buổi họp


13

báo. Cần chủđộng email, Fax cho các cơ quan báo chí từ trước đó 1 tuần đến 10 ngày trướckhi
gửi giấy mời chính thức. Hãy cố gắng để cơ quan báo chí... không bỏ quênlời mời
4. Chuẩn bị tư liệu họp báo
: Tư liệu họp báo cần phải được chuẩn bị thật khoahọc, rõ ràng để nhà báo theo dõi được nội


- Người tổ chức sự kiện không chỉ lên thiết kế chương trình, liên hệ các công ty cần thiết,mà còn
phải biết liên hệ tất cả khách hàng, khách mời…để biết thông tin chính xác và phải gắn bó với
toàn bộ chương trình từ đầu đến cuối. Nếu chương trình bị thay đổi vào phút cuối vì bất cứ lý do
nào, kế hoạch sẽ bắt đầu bằng con số không. Do vậy, nhân viênevent phải chuẩn bị kỹ lưỡng mọi
chi tiết của chương trình
Câu 6: Phân tích các nguyên nhân gây ra nợ khó đòi trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay.
Nợ khó đòi là các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán ghi trên hợp đồng kinhtế, các khế ước
vay nợ hoặc các cam kết nợ khác; nợ phải thu chưa đến thời hạnthanh toán nhưng tổ chức kinh tế
(các công ty, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã,tổ chức tín dụng...) đã lâm vào tình trạng phá
sản hoặc đang làm thủ tục giải thể;người nợ mất tích, bỏ trốn, đang bị các cơ quan pháp luật truy
tố, giam giữ, xét xử,đang thi hành án hoặc đã chết
.-Nguyên nhân chính :
Do sự khó khăn trong sản xuất kinh doanh như không tiêu thụ được hàng hóa, không được
nghiệm thu, thanh quyết toán công trình hoặc do bên thứ ba chậmthanh toán tiền hàng hóa, dịch
vụ .
Do sự chiếm dụng vốn, không muốn thanh toán ngay của con nợ để sự dụng vốnvào các mục
đích khác. Có thể khẳng định, nguyên nhân này chiếm phần lớn trong các nguyên nhân dẫn đến
tình trạng nợ khó đòi của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Rất dễ dàng để lý giải bởi vì
trong bối cảnh thiếu vốn, việc tận dụng sựthiếu sát sao của đối tác trong công tác thu hồi công nợ
để chiếm dụng một phầnhoặc phần lớn khoản nợ phải trả để xoay vòng, thanh toán cho các đối
tác khác làviệc các doanh nghiệp nợ rất mong muốn thực hiện.
Vấn đề công nợ giữa các doanh nghiệp trong nước rất phổ biến và tồn tại nhiều nguy cơ tiềm ẩn.
Ở Việt Nam hiện nay, tham vọng làm giàu bằng mọi giá củakhông ít chủ doanh nghiệp cùng với
việc thủ tục thành lập doanh nghiệp tương đối dễ dàng đã làm gia tăng số lượng các công ty
không có vốn mà chỉ có các con sốkhống ghi trong điều lệ. Rủi ro trong kinh doanh cho các
doanh nghiệp chân chínhcó một phần gốc rễ từ đó, bởi rất nhiều công ty được lập ra với phương
tiện kinh doanh duy nhất là vốn (tài sản) chiếm dụng lẫn nhau.
Trình độ quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam chưa cao, nhiều doanh nghiệp không xử lý tốt được

nhân trực tiếp gây ra tai nạn còn quan điểmcon người cho rằng con người là nguyên nhân trực
tiếp gây ra tai nạn. tuy nhiên dùnhìn nhận theo quan điểm nào thì nguyên nhân sâu xa gây ra tai
nạn cũng là docon người. vd dây điện không đạt yêu cầu trực tiếp gây ra tai nạn cháy nổ. Nhưng
con người hoàn toàn có thể kiểm soát được chất lượng của dây điện tiêuchuẩn ngay từ khi chế
tạo dây điện hoặc trong quyết định có sử dụng dây điện haykhông.Điều kiện VN hiện nay nên
nhìn nhận nguyên nhân tai nạn theo quan điểm kỹ thuật vì đasố các tai nạn là do nguyên nhân
sâu xa từ con người có thể do khách quan không nhận biết được hoặc do chủ quan cố tình chế
tạo, thiết kế ra những sản phẩm không đảm bảoan toàn hoặc do con người sử dụng không đúng
cách dẫn đến các sản phẩm không cònđảm bảo an toàn và từ đó những sản phẩm không an toàn
này trực tiếp gây ra tai nạn.quan trọng của việc nhìn nhận theo quan điểm này là tổ chức phải
hiểu được nguyên nhânsâu xa của các tai nạn là do việc thiết kế, chế tạo hay do cách sử dụng tạo
ra những sản phẩm không an toàn từ đó mới dẫn đến tai nạn, tổ chức phải có những ngăn chặn
ngay từđầu các hành động dẫn đến các sản phẩm không an toàn, như vậy tai nạn sẽ được
giảmđáng kể.
Câu 8: Trình bày nội dung cơ bản của phân tích tổn thất. Cho ví dụ.


16

Nội dung cơ bản của phân tích tổn thất
Phân tích tổn thất là việc nhà quản trị rủi ro xây dựng một mạng các nguồn cungcấp thông tin
(các nguồn chính đó là các quản đốc phân xưởng nơi đã xảy ra tainạn) và thu thập các báo cáo về
các tai nạn đã xảy ra và các tai nạn suýt xảy ra. Từxác định các tổn thất và dự báo các tổn thất
có thể có.Các quản đốc phân xưởng nơi xảy ra tai nạn biết rất nhiều chi tiết về tai nạn. điềuquan
trọng là nhà quản trị rủi ro phải biết cách để những quản đốc phân xưởng nàysẵn sàng để cung
cấp những thông tin cần thiết đầy đủ và chính xác. Để làm được điều này nhà quản trị rủi ro cần
thiết kế một mẫu báo cáo sao cho đủ các thông tincần thu thập đồng thời các câu hỏi, ngôn ngữ
thể hiện phải dễ hiểu, dễ thực hiện.Mẫu báo cáo có thể bao gồm các câu hỏi đóng (câu hỏi có sẵn
câu trả lời) và cáccâu hỏi mở (câu hỏi chưa có câu trả lời) về các tai nạn đã xảy ra, suýt xảy ra
vàcác tai nạn có thể xảy ra trong tương lai, những nguyên nhân gây ra các tai nạn đó,thiệt hại có


-

+ Mối hiểm họa: là những điều kiện dẫn đến tổn thất
+ yếu tố môi trường: là bối cảnh mà trong đó hiểm họa tồn tại
Sự tương tác: là quá trình mà mối hiểm họa và môi trường rủi ro tác động lẫn nhau,
đôikhi không có ảnh hưởng nhưng đôi khi dẫn đến tổn thất.
+ Kết quả trực tiếp, có thể là tốt hay xấu
+ Những hậu quả là những hậu quả lâu dài của sự cố xảy ra.
VD: phân tích rủi ro xảy ra hỏa hoạn tại một quán ăn thông qua 5 mắt xích cơ bản
củachuỗi rủi ro. mối hiểm họa: các bếp nấu ăn đặt sát nhau, các vật dụng dễ bắt lửa đặt
gần bếp. yếu tố môi trường: nhà bếp. sự tương tác: khi các bếp nấu ăn cùng hoạt động với
ngọn lửa lớn, các ngọn lửa bắt nhauvà tạo nên ngọn lửa lớn bén vào các dụng cụ để gần
bếp và nhanh chóng cháy lan ra. kết quả: bếp bị cháy, các vật dụng trong bếp đều bị hư
hại. hậu quả: quán ăn phải đóng cửa 1 tháng để sửa sang lại, mất doanh thu, mất khách
hàng.
Chương III: Đo Lường Rủi Ro
Câu 1: Thế nào là tổn thất trực tiếp tổn thất gián tiếp. Cho ví dụ minh họa.
Chi phí trực tiếp là hậu quả trực tiếp nguy hiểm gây ra cho người hay vật. VD: khilửa
thiêu rụi mái nhà của một cửa hàng, tổn thất trực tiếp là chi phí sửa chữa haythay phần
mái nhà bị hỏng.
Chi phí gián tiếp liên hệ đến sự hư hỏng trực tiếp gây ra do mối nguy hiểm, nhưngcác hậu
quả về tài chính không phải là hậu quả trực tiếp từ tác động của nguy hiểmlên người hay
vật. VD: thất thu của chủ cửa hàng khi cửa hàng phải đóng cửa đểsửa chữa là tổn
thất gián tiếp. Các chi phí gián tiếp thường khó thấy, mặc dù hậuquả của nó có thể lớn
hơn các chi phí trực tiếp nhiều.
Câu 2: Phân tích các quan niệm để đo lường chi phí ẩn của một tai nạn.
Quan điểmnào có thể áp dụng vào điều kiện Việt Nam hiện nay.
Quan điểm của Heinrich
Theo Heinrich, chi phí tai nạn công nghiệp thường chỉ được thấy qua các khoản

Trong đó A, B, C, D là các chi phí không được bảo hiểm trung bình của từng loạitrường
hợp trong thời gian quan sát.
Quan điểm Bird và GermanBird và German đề xuất khái niệm các chi phí sổ cái, sở dĩ
gọi như thế là vì nó chỉliên quan đến các chi phí có trong sổ cái của các bộ phận. Phương
pháp hạch toán chi phí tai nạn này không bao gồm tất cả các chi phí tai nạn, nhưng nó
đưa vào một số chi phí không được bảo hiểm thường lớn hơn chi phí được bảo hiểm
nhiều lần.Phương pháp này có thể áp dụng cho mọi tai nạn chứ không phải chỉ cho các tai
nạngây tổn thương cơ thể hay lẽ ra đã gây tổn thương.Các yếu tố được xem xét trong
phương pháp hạch toán như sau:
1. Nhân lực:
-Tổng chi phí trợ cấp cho công nhân.
- Lương và chi phí thuốc men đã trả trong thời gian không làm việc ngoài phần trợ cấp.
- Thời gian bị mất trong ngày xảy ra tai nạn và các ngày sau đó.
- Thời gian công nhân bị nạn phải làm việc nhẹ hoặc năng suất giảm.
2. Máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu:
Chi phí sửa chữa hoặc thay thế thiết bị.
Thời gian sản xuất bị mất.
• Quan điểm của thể áp dụng vào điều kiện Việt Nam hiện nay là quan điểmBird và
German. Vì hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đều sử dụngsổ cái trong từng bộ
phận để theo dõi các hoạt động có liên quan đến ngân lưu.Và các nhà quản trị trong các
doanh nghiệp hiện nay cũng chỉ quan tâm đếncác chi phí có ghi chú trong sổ cái, còn các
chi phí khác không được thống kêtrong sổ cái thì chưa thể theo dõi hết được.
Câu 3: Phân tích các khái niệm hầu như không xảy ra, hiếm khi xảy ra, thỉnhthoảng,
xảy ra thường xuyên. Cho ví dụ minh họa
Hầu như không xảy ra: nghĩa là theo nhà quản trị biến cố này sẽ không xảy ra, xácsuất rất
nhỏ gần như bằng 0-Hiếm khi xảy ra: nghĩa là mặc dù có thể xảy ra, cho tới bây giờ biến
cố vẫn chưaxảy ra và không có vẻ gì là sẽ xảy ra.
Thỉnh thoảng có xảy ra: nghĩa là nó mới xảy ra gần đây và có thể hy vọng sẽ xảyra vào
lúc nào đó trong tương lai.
Thường xảy ra: nghĩa là nó đã xảy ra thường xuyên và có thể hy vọng còn xảy rathường

đó,tổn thất lớn nhất có thể có là toàn bộ giá trị tài sản bất chấp mối nguy hiểm được xét là
gì.
Ví dụ 2: Hầu hết nhà quản trị rủi ro đều đồng ý rằng tổn thất lớn nhất có lẽ có của mộtcăn
nhà gỗ đối với mối nguy hiểm hỏa hoạn là toàn bộ giá trị của căn nhà. Trong khi mộtcao
ốc xây dựng bằng các vật liệu hiện đại với các phương tiện chống cháy, hệ thống
báocháy… thì hầu hết nhà quản trị rủi ro cũng đồng ý là việc thiệt hại toàn bộ giá trị của
caoốc là không thực tế, và tổn thất lớn nhất có lẽ có phải nhỏ hơn giá trị của cao ốc
( Sáchtrang 92)
*Tổn thất toàn bộ hàng năm lớn nhất có lẽ có là lượng tổn thất lớn nhất mà một hay
mộtnhóm đối tượng rủi ro có thể chịu trong suốt năm mà nhà quản trị tin là có thể xảy
ra.Gíatrị tổn thất phụ thuộc vào khả năng lựa chọn của nhà quản trị rủi ro, tuy nhiên nó
khôngđề cập đến mức độ nghiêm trọng riêng lẻ của một sự cố mà nó phụ thuộc vào số sự
cố vàmức độ nghiêm trọng của chúng, nó bao gồm tất cả các loại tổn thất gây ra từ các
hiểmhọa và các đối tượng rủi ro được xét tới .
Câu 5: Phân tích các mức độ tổn thất của hỏa hoạn dựa theo mức độ can thiệp
của hệ thống chữa cháy.
Alan Friedlander đề nghị bốn đại lượng đo mức độ nghiêm trọng của thiệt hại vật chấtđối
với nhà cửa bị hỏa hoạn:
1. Tổn thất thông thường là tổn thất trung bình khi cả hai hệ thống chữa cháy của tư
nhânvà công cộng đều hoạt động.


20

2. Tổn thất lớn nhất có lẽ có: là tổn thất trung bình khi một bộ phận quan trọng của
hệthống chữa cháy, hệ thống phun nước tự động chẳng hạn, không được bảo trì hay
hoạtđộng không hiệu quả.
3.Tổn thất lớn nhất có thể thấy trước là tổn thất trung bình khi không có hệ thống
chữacháy tư nhân nào hoạt động. Trong trường hợp này lửa sẽ cháy cho tới khi nó đốt
hếtnhiên liệu, hay cho tới khi xe cứu hỏa, do một người nào đó ở ngoài thông báo tới

lai phải điều chỉnh lại theo thời gian khi các số liệu mới được phát hiện.
* ước lượng khiếu nại bồi thường.
- Khiếu nại bồi thường là đòi hỏi quyền được chi trả.
- Khiếu nại bồi thường đã trình báo là khiếu nại đòi bồi thường mà tổ chức cótrách nhiệm
đã nhận được thông báo khiếu nại; nếu chưa có báo cáo thì gọi làkhiếu nại bồi thường
không báo cáo


21

.- Khiếu nại bồi thường đã giải quyết là khiếu nại mà trách nhiệm pháp lý về việc chi trả
được giải quyết và tổng số tiền chi trả được xác định.
- Khi trách nhiệm pháp lý về việc chi trả chưa được quyết định, khiếu nại bồithường chưa
được giải quyết và tổng số tiền chi trả đã được xác định.
- Khi trách nhiệm pháp lý về việc chi trả chưa được quyết định, khiếu nại bồithường chưa
được giải quyết và số tiền chi trả ước lượng được gọi là số dự trữ
- Khi tiền và thời điểm chi trả không chắc chắn, tổ chức có thể dựa trên mẫu trongquá
khứ để lấy ra các ước lượng phục vụ cho việc dự toán ngân sách.
Chương IV: Kiểm Soát Rủi Ro
Câu 1: Thế nào là kiểm soát rủi ro, các trường hợp kiểm soát rủi ro được ưu
tiên sử dụng. Cho ví dụ minh họa.
1. Kiểm soát rủi ro là những kỹ thuật, những công cụ, những chiến thuật, và nhữngquá
trình nhằm biến đổi rủi ro của một tổ chức thông qua việc né tránh, ngăn ngừa,giảm thiểu
bằng cách kiểm soát tần suất và mức độ của rủi ro và tổn thất hoặc lợiích.
2. Các trường hợp kiểm soát rủi ro được ưu tiên sử dụng:
Chi phí tài trợ rủi ro thường lớn hơn chi phí tổn thất.Ex: Chi bồi thường tai nạn gây chết
người thường ít hơn chi phí thuốc men, y tế, trợ cấpcho gia đình nạn nhân , gia đình nếu
người đó không chết mà ở trạng thái thương tật ,không làm việc được suốt đời
Tổn thất phát sinh gián tiếp hay những chi phí ẩn không được phát hiện trongthời gian
dài.Ex: Nhân viên bán hàng không trung thực khiến cho khách hàng đó không hài lòng

Thay thế hoặc sửa đổi môi trường.
Thay thế hoặc sửađổi cơ chế tương tác
Giảm thiểu tổn thất.
Đặc điểm
Can thiệp vào mứcđộ của tổn thất.Các biện pháp cóthể sử dụng:.cứu lấy các tài sảnTham
khảo thêmsách giáo khoa trang 200- 201.
Nhược điểm
mang tính bị độngkhi rủi ro đã xảy ra.
còn sử dụng được.chuyển nợ .kế hoạch giải quyếthiểm họa.. dự phòng.phân chia rủi ro.Quản
trị thông tinCan thiệp vào mứcđộ của tổn thất... Ngăn ngừa Thôngtin kịp thời , chínhxác sẽ hạn
chế rủi romà tổ chức gặp phảitrong tương lai.Sự bất định về sựhiểu biết của cánhân về quá
trìnhtạo nên tổn thất.Ex:chuỗi rủi ro.Chuyển giao rủi roCan thiệp vào mứcđộ của tổn
thất..Chuyển tài sản /hoạt động có rủi rođến một người hoặcmột nhóm ngườikhác..Chuyển giao
bằnggiao ước, chỉ chuyểngiao rủi ro khôngchuyển giao tài sảnvà hoạt động của nóđến người
nhận rủiro.Ex: người thuê nhàchịu trách nhiệm vềthiệt hại về ngôi nhàtrong khoảng thờigian hợp
đồng thuê.Chi phí thấp, loại bỏrủi ro mà tổ chức phải gánh chịu..Có những trườnghợp phí
chuyển giaorủi ro cao so vớiviệc tổ chức giữ lạirủi ro..Đối với cách thựchiện thứ nhất có thểcó
những nhượcđiểm như trong biện pháp né tránh rủi ro..Nó còn bị hạn chế bởi khả năng chi trảcủa
người nhận rủiro.

Đa dạng hóa
Can thiệp vào mứcđộ của tổn thất.
Ex: đa dạng hóanguồn thu nhập củacá nhân/ tổ chức đểkhi rủi ro cái nàycòn có cái khác
bùđắp.chi phí thấp, hiệuquả.Phân tán rủi ro phải gánh chịu.Rất khó để chọn racác chứng
khoántrong bộ Portfolio( danh mục đầu tư )và đối với những rủiro thị trường thịkhông thể sử
dụng biện pháp này được.
Câu 3: Phân tích các nổ lực KSRR của Chính Phủ-XH, liên hệ điều kiện Việt Nam.Cho nhận
xét.
Chính phủ can thiệp vào việc kiểm soát tổn thất vì:


phải luôn luônđi kèm với các chính sách KSRR .nếu không,có thể sẽ ảnh hưởng mạnh tới sự phát
triểncủa xã hội mà nguyên nhân là do các chính sách điều tiết không hợp lý của chính phủ.
Câu 4: Chọn một rủi ro cụ thể trong doanh nghiệp , phân tích 5 mắc xích của chuỗi rủi ro
này, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp để KSRR
.Rủi ro về cháy nhà kho :
Mối hiểm họa:


24

một số vật liệu dễ cháy được để trong kho
Yếu tố môi trường: kho, nơi chứa nguyên vật liệu và thành phẩm.
Sự tương tác: người quản lý kho để vật liệu dễ cháy vào trong kho không đúng vị trí ,đây là khu
có nhiệt độ cao.
Kết quả : cháy xảy ra gây tổn thất nghiêm trọng cho cty. Những hậu quả:cty phải ngừng hoạt
động để xử lý sự cố , không có hàng giao cho đốitác .hoạt động kinh doanh bị đình trệ ,cty gặp
nguy cơ phá sản.
Giải pháp KSRR:
1. Để vật liệu dễ cháy ở kho riêng nơi được thiết kế riêng cho loại vật liệu này
2. Xây dựng kho chứa đảm bảo về phòng cháy chửa cháy ,có khu vực lưu kho riêngcho vật liệu
dễ cháy
3. Đào tạo ,tuyên nhân viên quản lý kho có trình độ ,cẩn thận ,có trách nhiệm để quảnlý kho
trách tình trạng sai sót trong việc để vật liệu dễ cháy.
4. mua bảo hiểm cho kho chứa hàng khi bị cháy.
5. Xây dựng hế thống phun nước.

Câu 5: Lựa chọn một bất định cụ thể xậy dựng kĩ thuật để quản trị bất định này.
Bất định hỏa hoạn:
1.né tránh rủi ro: mua bảo hiểm cho kho bãi
2. Ngăn ngừa tổn thất:

Lập quỹ dự phòng để giải quyết vấn đề khiếu kiện của khách hàng.
Chuyển giao tài trợ:
Mua bảo hiểm cho lô hàng trên đường vậnchuyển..
Mua bảo hiểm cho người lao động
Câu 2: Phân tích các kế hoạch lưu giữ tổn thất. Cho ví dụ minh họa.
Không chuẩn bị trước: Khi tổn thất xảy ratổ chức dùng ngân sách của mình hoặc vay mượn để
bồi thường..
Ex: cá nhân nào đó không có tiền dự phòng khi có bệnh hoặc tai nạn cần số tiền lớn phải đi
vay/mượn.
Tài khoản dự phòng: tổ chức sẽ hình thành một tài khoản nợ để giải quyết tổn thất ngoài dự
tính.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status