Câu 1: Tóm tắt quá trình Đảng lãnh đạo dân tộc dân chu nhân dân
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930 đó đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong
lịch sử cách mạng Việt Nam. là một tất yếu lịch sử, là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu
tranh giai cấp và là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân
và phong trào yêu nước Việt Nam trong thời đại mới. Đảng cộng sản Việt Nam là một chính
Đảng chân chính của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, được lịch sử giao cho sứ mệnh
nắm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời cùng với cương lĩnh chính trị đúng đắn vạch ra tiến
trình của cách mạng Việt Nam. Từ đó, đã chấm dứt tình trạng khủng hoảng về đường lối “như
không có đường ra” kéo dài đằng đẵng mấy chục năm suốt đầu thế kỷ 20 của cách mạng Việt
Nam. Đúng như Hồ Chí Minh nói : “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan
trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng
thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”
Ngay từ sau khi ĐCS VN ra đời, đặc biệt quan tâm đến việc thành lập các tổ chức để
liên lạc với các hội viên Hội Việt nam cách mạng thanh niên để truyền đạt chủ chủ trương để
tiếp tục đấu tranh giải phóng dân tộc.
Ngày 29/7/1930, hội nghị được tổ chức dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Doãn
Chấp. Hội nghị đã bàn công tác phát triển gây dựng các tổ chức quần chúng như :Nông Hội Đỏ,
Công Hội Đỏ, Phụ Nữ Giải Phóng… và lấy tờ báo “Tiến Lên” làm cơ quan ngôn luận của
Đảng. Đây là một sự kiện trọng đại, đánh dấu bước ngoặt của phong trào cộng sản. Từ đấy giai
cấp công nhân, giai cấp nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động đã có một chính Đảng vô
sản lãnh đạo, vững bước tiến lên lập nhiều chiến công viết tiếp những trang sử vẻ vang trong
suốt những chặng đường cách mạng của mình, góp phần to lớn vào sự nghiệp cách mạng chung
của dân tộc.
Ngay từ khi mới ra đời, Đảng cộng sản Việt Nam dương cao ngọn cờ dân tộc, dân chủ,
lãnh đạo nhân dân chống giặc ngoại xâm, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Sau
khi hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ,nhân dân . Đảng tiếp tục lãnh đạo
nhân dân đẩy mạnh cách mạng xây dựng Chủ nghĩa xã hội trên cả nước.
Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng đã lãnh đạo nhân dân thực hiện và
đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước. Trong công cuộc đổi mới, toàn Đảng, toàn dân ta đã thu
thắng lợi.
Ðảng đã đề ra đường lối giải phóng dân tộc đúng đắn, đã tập hợp đoàn kết rộng rãi lực
lượng của toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh, đã lựa chọn và kết hợp đúng đắn các hình
thức tuyên truyền, tổ chức và phương pháp đấu tranh thích hợp tạo nên sức mạnh tổng hợp, đã
xây dựng, phát triển thực lực cách mạng, thúc đẩy phong trào, đồng thời dự kiến và chớp đúng
thời cơ hành động. Trong việc thực hiện sứ mệnh nặng nề trước dân tộc và lịch sử, Ðảng đã rất
coi trọng xây dựng Ðảng về tư tưởng chính trị và tổ chức, rèn luyện phương pháp đấu tranh và
cách lãnh đạo về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Ðảng. Ðó là bài học quý báu cho
nhiệm vụ xây dựng Ðảng hiện nay và thực hiện vai trò lãnh đạo của Ðảng trong công cuộc đổi
mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày nay./.
Câu 1: vai trò quyết định thắng lợi của Đảng:
ĐCSVN do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (HCM) sáng lập và lãnh đạo đã đi qua
chặng đường lịch sử 80 năm. Từ sau Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản để
thành lập Đảng (3.2.1930) đến nay, Đảng đã tiến hành 10 Đại hội đại biểu toàn quốc,
khoảng 141 cuộc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, nhiều cuộc Hội nghị Ban
Thường vụ Trung ương và Hội nghị Bộ Chính trị.
Mỗi đại hội, hội nghị đã đánh dấu những mốc quan trọng trong lịch sử anh
hùng, vẻ vang của Đảng, bởi những văn kiện, nghị quyết làm nên chủ trương, đường
lối cách mạng Việt Nam. Có nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng mang tính cương
lĩnh chiến lược, sách lược cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Tuy vậy, nếu xét về tên gọi của mỗi văn kiện và khái niệm “Cương lĩnh chính
trị” theo nghĩa là bản trình bày một cách khoa học nhất mục đích, tôn chỉ, phương
hướng, nhiệm vụ của một chính đảng cách mạng, cũng như xác định đầy đủ lực
lượng, phương thức, phương pháp tiến hành cách mạng để thực hiện mục tiêu trước
mắt, nhằm tới mục đích cuối cùng của cách mạng, thì trong lịch sử 8 thập kỷ ấy,
Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bốn Cương lĩnh chính trị quan trọng.
1.Cương lĩnh của Hội nghị thành lập ĐCSVN (2.1930)
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được đề ra tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức
cộng sản trong nước có ý nghĩa như Đại hội để thành lập ĐCSVN. Hội nghị do đại
biểu Quốc tế Cộng sản Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì, cùng với sự tham dự
ĐCSVN. Những điểm khác biệt là ở chỗ bỏ tên “Việt Nam Cộng sản Đảng”, lấy tên
“Đông Dương Cộng sản Đảng”; chủ trương làm CM tư sản dân quyền trong toàn cõi
Đông Dương; lực lượng CM chỉ trong công nhân, nông dân, chưa thấy hết vai trò
tinh thần yêu nước của dân tộc; xác định mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc
với nhiệm vụ chống phong kiến, giữa độc lập dân tộc và dân chủ nhân dân-tuy biện
chứng, sâu sắc nhưng chưa xác định được xu hướng phát triển nhiệm vụ giải phóng
dân tộc có tính quyết định hàng đầu.
Nguyên nhân chính là do nhận thức và vận dụng CN MLN, đường lối của
Q/tế Cộng sản về CM dân chủ tư sản kiểu mới vào điều kiện nước ta; vai trò của lãnh
đạo Đảng, lãnh đạo DT.
3.Cương lĩnh của ĐCS Đông Dương tại Đại hội lần II của Đảng (2.1951)
Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng đưa ra những văn kiện quan trọng: Diễn
văn khai mạc Đại hội do đồng chí Tôn Đức Thắng đọc, Báo cáo hoàn thành giải
phóng dân tộc, phát triển DCND, tiến tới CNXH, tức là bản Luận cương CMVN do
đồng chí Trường Chinh trình bày; Chính cương Đảng Lao động VN, Điều lệ Đảng
lao động VN, Tuyên ngôn của Đảng Lao động VN, là những văn kiện chủ yếu về nội
dung Cương lĩnh thứ ba của Đảng…
Luận cương CMVN là bản Cương lĩnh c/trị mới của Đảng. Phân tích tính chất
xã hội VN trong kháng chiến chống Pháp: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và
phần nửa phong kiến; mâu thuẫn chủ yếu giữa dân tộc VN với đế quốc xâm lược
diễn ra quyết liệt dưới hình thức chiến tranh; đối tượng của CMVN là thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ; xác định nhiệm vụ cơ bản hiện thời của CM là đánh đuổi bọn đế
quốc xâm lược làm cho VN hoàn toàn độc lập thống nhất, xóa bỏ mọi chế độ áp bức
bóc tột, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân; xây dựng
CNXH. Điều đó có nghĩa, cuộc k/chiến chống Pháp là cuộc CMDT dân chủ, nhân
dân, giải phóng dân tộc là trọng tâm, nhiệm vụ chính giành quyền dân chủ cho nhân
dân, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do nhân dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của
Đảng sẽ tiến triển thành CM XHCN. Con đường tiến đến CNXH trải qua một thời
gian dài gồm ba giai đoạn, kế tục nhau và quan hệ mật thiết: đấu tranh giải phóng
dân tộc, củng cố Nhà nước DCND; cải cách ruộng đất, phát triển nông nghiệp, công
-Thực hiện CNH đất nước theo hướng hiện đại.
-Thiết lập từng bước quan hệ SX XHCN phù hợp với sự phát triển LLSX, phát
triển k/tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước.
-Tiến hành CM XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và VH theo CN MLN, tt HCM.
-Thực hành chính sách đại đ/kết DT, chính sách đối ngoại hòa bình, hợp tác và
nước ta thành 1 nước XHCN phồn vinh.
-Xd Đảng TSVM về c/trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ xd hữu
nghị.
Xuất phát từ Cương lĩnh đó, chiến lược của Đảng là ổn định, phát triển KT-
XH, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát
triển, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố QP-AN, chuyển dịch cơ cấu k/tế theo
hướng CNH,HĐH. Xd Đảng gắn với xd h/thống c/trị, nâng cao năng lực lãnh đạo
của ĐCS VN, đổi mới và tự chỉnh đốn Đảng ở các cấp từ cơ sở lên TW, xd một nước
VN hòa bình, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, DC, văn
minh./.
Câu 2: Nguyên nhân dẫn đến đổi mới của Đảng ta:
Sau chiến tranh, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn. Đảng đã lãnh đạo nhân
dân vừa ra sức khôi phục kinh tế vừa tiến hành hai cuộc chiến tranh chống xâm lược
biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc
gia.
Đảng đã tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, từng bước
hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần
của nhân dân lao động. Tuy nhiên, trước yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng trong thời
kỳ mới, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế tập trung bao cấp không còn phù hợp và
đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm. Trong việc hoạch định và thực hiện đường lối
cách mạng XHCN, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí.
Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế -
xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết sáng kiến từ
và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng nâng cao.
Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, Người đã sáng
lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh. Thực tiễn 80 năm qua đã
khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là đội tiên
phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và
toàn dân tộc Việt Nam.
Daân toäc ta vô cùng tự hào vì đất nước ta có một Đảng Cộng sản kiên
cường, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo nhân
dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch
sử dân tộc, đóng góp xứng đáng vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, vì
hoà bình và tiến bộ của nhân loại.
Tự hào về Đảng quang vinh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, mỗi cán bộ,
đảng viên và mỗi người dân Việt Nam ở trong nước và nước ngoài càng thấy rõ hơn
trách nhiệm của mình, nguyện đi theo Đảng, xây dựng Đảng ngày càng trong sạch,
vững mạnh, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, vững bước tiến lên CNXH./.
Câu 3: Quá trình tư duy về CNH-HĐH đất nước:
ĐCSVN) do HCM sáng lập và rèn luyện, lãnh đạo nhân dân tiến hành
CM/8 thành công, lập nên nước VNDCCH(nay là nước CH XHCN VN), đánh
thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, hoàn
thành sự nghiệp GPDT, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xd
và bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc.
Từ 1858, thực dân Pháp xâm lược VN, từng bước thiết lập chế độ thống trị tàn
bạo, phản động của CN thực dân trên đất nước ta.
-Về CT: chúng trực tiếp nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy nhà nước,
thi hành chính sách cai trị chuyên chế, biến giai cấp tư sản mại bản và địa chủ phong
kiến thành tay sai đắc lực. Đồng thời chúng thực hiện chính sách đàn áp, khủng bố
hết sức dã man, tàn bạo, làm cho nhân dân mất hết quyền độc lập, quyền tự do dân
đường cách mạng vô sản, giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp, độc lập dân
tộc gắn với CNXH, giai cấp vô sản phải nắm lấy ngọn cờ GPDT, gắn CM GPDT
từng nước với phong trào CMTG thế giới. Từ đây Người dứt khoát đi theo con
đường CM của Lênin. Nguyễn Ái Quốc là người VN đầu tiên tiếp thu sáng tạo CN
MLN, tìm ra con đường đúng đắn giải phóng dân tộc Việt Nam.
Trở thành chiến sĩ cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia hoạt động trong
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tích cực vận động phong trào cách mạng
thuộc địa, nghiên cứu và truyền bá CN MLN về Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc về
Quảng Châu Trung Quốc trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị thành lập ĐCSVN.
CN MLN và những tài liệu tuyên truyền của Nguyễn Ái Quốc được giai cấp
công nhân và nhân dân VN đón nhận như "người đi đường đang khát mà có nước
uống, đang đói mà có cơm ăn". Nó lôi cuốn những người yêu nước VN đi theo con
đường cách mạng vô sản. Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhiều tầng
lớp nhân dân phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi phải có tổ chức đảng chính trị lãnh đạo.
Chỉ trong một thời gian ngắn ở Việt Nam đã có ba tổ chức cộng sản được tuyên
bố thành lập: Ở Bắc Kỳ có Đông Dương Cộng sản Đảng .Ở Nam Kỳ có An Nam
Cộng sản Đảng. Ở Trung Kỳ có Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Điều đó phản ánh
xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam. Song, sự tồn tại của ba tổ chức cộng sản
hoạt động biệt lập trong một quốc gia có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn. Yêu cầu bức
thiết của cách mạng là cần có một đảng thống nhất lãnh đạo. Nguyễn Ái Quốc, người
chién sĩ cách mạng lỗi lạc của dân tộc Việt Nam, người duy nhất có đủ năng lực và
uy tín đáp ứng nhu cầu đó của lịch sử: thống nhất các tổ chức cộng sản thành ĐCS
duy nhất ở VN.
Từ ngày 3 đến 7-2-1930, Hội nghi hợp nhất ba tổ chức lấy tên là Đảng Cộng sản
Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam mang tầm vóc lịch sử
như là một Đại hội thành lập Đảng. Đảng được thành lập là kết quả của cuộc đấu
tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ 20; là sản
phẩm của sự kết hợp CN MLN với phong trào công nhân và phong trào yêu nước; là
kết quả của quá trình lựa chọn, sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử và là kết quả của
quá trình chuẩn bị đầy đủ về c/trị, tư tưởng và tổ chức của một tập thể chiến sĩ CM,
cường đoàn kết với các nước XHCN anh em, để đưa MB tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc lên CNXH, xd đời sống ấm no, hạnh phúc, củng cố MB thành cơ sở vững
mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần tăng
cường phe XHCN, bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới.
Trước tình hình mới, yêu cầu cơ bản của việc xd Đảng là phải ra sức củng cố
Đảng về mặt tư tưởng và tổ chức, phải giữ vững và nâng cao hơn nữa tính chất giai
cấp và tính chất tiên phong của Đảng để nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo
của Đảng, bảo đảm cho Đảng có khả năng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo quản lý KT
và VH, xd thắng lợi CNXH ở MB và làm tròn nghĩa vụ lãnh đạo cuộc đấu tranh thực
hiện thống nhất nước nhà.
Sau đại thắng mùa Xuân 1975, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ
nguyên hoà bình, độc lập, thống nhất và cả nước đi lên CNXH. Tổng kết quá trình
đấu tranh anh dũng, bền bỉ, liên tục và thắng lợi vẻ vang của quân và dân ta chống lại
cuộc chiến tranh xâm lược lớn nhất và vô cùng ác liệt của đế quốc Mỹ để GPMN
thống nhất nước nhà.
Trước tình hình của đất nước khi bước vào sự nghiệp xd CNXH; Đảng đã xác
định đường lối chung của CM XHCN là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy
quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc CM: CM
về QHSX, CM KH-KT, CM tư tưởng và văn hoá, trong đó CM KH-KT là then chốt;
đẩy mạnh CNH XHCN là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH; xd
chế độ làm chủ tập thể XHCN, xd nền sản xuất lớn XHCN, xd nền văn hoá mới, xd
con người mới XHCN; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc
hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn
ANCT và trật tự ATXH; xd thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống
nhất và XHCN; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà
bình, ĐLDT, dân chủ và CNXH, thiết lập hệ thống chuyên chính vô sản trong cả
nước và thực hiện nhiều chính sách thúc đẩy quá trình thống nhất về mọi mặt, tạo
nên cuộc sống hòa hợp dân tộc, chan hòa từ Bắc đến Nam.
Thắng lợi của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi có ý nghĩa lịch
sử hết sức to lớn, những thành tựu trên các lĩnh vực KT-VH; đồng thời xác định rõ
chính trị còn nhiều nhược điểm. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực
quản lý, điều hành của nhà nước, hiệu quả hoạt động của các đoàn thể chính trị, xã
hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình hình.
Trên cơ sở đó Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu của sự nghiệp đổi mới, CNH,HĐH
đất nước là: Tiếp tục nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xd CNXH và bảo vệ Tổ
quốc, đẩy mạnh CNH, HĐH. Mục tiêu của CNH, HĐH là xd nước ta thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất-kỹ thuật hiện đại, cơ cấu k/tế hợp lý, QHSX phù hợp
với trình độ phát triển của LLSX,đời sống vật chất và tinh thần cao, QP-AN vững
chắc, dân giầu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh.
Về công tác xây dựng Đảng, phải gắn liền với trách nhiệm lãnh đạo và hoạt
động của Đảng. Sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng là một nhân tố quyết định tạo ra
những thành tựu đổi mới. Thắng lợi của công cuộc đổi mới chứng tỏ Đảng ta tiếp tục
giữ vững và phát huy được bản lĩnh và kinh nghiệm của các thời kỳ trước, lãnh đạo
có kết quả công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong tình hình hết sức phức
tạp.Đảng được chú trọng; hệ thống chính trị được củng cố; quan hệ đối ngoại không
ngừng được mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế được tiến hành chủ động và đạt nhiều
kết quả. Bên cạnh những thành tựu, củng có những khuyết điểm, yếu kém: Nền kinh
tế phát triển chưa vững chắc, hiệu quả và sức cạnh tranh thấp; một số vấn đề văn
hóa, xã hội bức xúc và gay gắt chậm được giải quyết; cơ chế chính sách không đồng
bộ và chưa tạo động lực mạnh để phát triển; tình trạng tham nhũng, suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất
nghiêm trọng.
Đảng đề ra mục tiêu và phương hướng tổng quát là: Nâng cao năng lực lãnh đạo
và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện
công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực cho công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; phát triển văn hóa; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; tăng
cường quốc phòng và an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội
nhập kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định chính trị-xã hội; sớm đưa nước ta ra khỏi tình
trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đảng nêu cao ý chí sắt đá của toàn Đảng,
nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều
cùng với những biến đổi to lớn về KT-XH. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng
lớp xã hội là q/hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu
dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích
gíai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là:
ĐLDT gắn liền với CNXH, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng XHCN, khắc
phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp
bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu
cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế
lực thù địch; bảo vệ DLDT, xd nước ta thành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân
hạnh phúc.
-Động lực chủ yếu phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên
minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các
lợi ích cá nhân, tập thể và XH, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành
phần k/tế, của toàn xã hội”.
-Nhận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hthống c/trị.
-Hệ thống c/trị vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước q/lý, nhân dân
làm chủ”; trong đó, Đảng vừa là một bộ phận của hệ thống c/trị, vừa là “hạt nhân”
lãnh đạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Không chấp
nhận đa nguyên c/trị, đa đảng đối lập.Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân do ĐCS lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực
hiện đường lối, quan điểm của Đảng. MTTQVNlà liên minh c/trị của các đoàn thể
nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc,
các tôn giáo; là cơ sở c/trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức
hiệp thương dân chủ, có vai trò quan trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát
xã hội, góp phần xd Đảng, xd Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại
diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân
nhiệm vụ đổi mới k/tế, khắc phục khủng hoảng KT-XH, tạo tiền đề cần thiết về vật
chất và tinh thần để giữ vững ổn định c/trị, xd, củng cố niềm tin của nhân dân, tạo
điều kiện thuận lợi để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội.
Hai là, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị không
phải là hạ thấp hoặc thay đổi bản chất của nó, mà là nhằm tăng cường vai trò lãnh
đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân,
làm cho hệ thống chính trị hoạt động năng động hơn, có hiệu quả hơn, phù hợp với
đường lối đổi mới toàn diện, đồng bộ đất nước; đặc biệt là phù hợp với yêu cầu của
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, của sự CNH-HĐH gắn với k/tế tri thức,
với yêu cầu hội nhập k/tế q/tế.
Ba là, đổi mới hệ thống chính trị một cách toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có
bước đi, hình thức và cách làm phù hợp.
Bốn là, đổi mới mối q/hệ giữa các bộ phận cấu thành của hệ thống c/trị với nhau
và với XH, tạo ra sự vận độngcùng chiều theo hướng tác động, thúc đẩy XH phát
triển; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
b. Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị
- Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị.
-Trước Đại hội X, Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong
của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của cả dân tộc. Đại hội X đã bổ sung một số nội dung quan trọng: “Đảng
Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của cả DTVN, đại biểu trung thành lợi ích của
GCCN, NDLĐ và của dân tộc”.
-Về phương thức lãnh đạo, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo XH
bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác;
bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức k/tra và bằng hành động
gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và
phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể.
Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống c/trị”.
-Về vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác
mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các ng/tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc
điểm, yêu cầu, n/vụ của từng cấp, từng ngành.
- Xd N/nước pháp quyền XHCN.
-Chủ trương xd Nhà nước pháp quyền XHCN là sự khẳng định và thừa nhận
Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Trong lịch sử loài người chỉ có 4 kiểu
nhà nước. Nhà nước pháp quyền là cách thức tổ chức phân công quyền lực của nhà
nước. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng theo 5 đặc điểm sau
đây:
+Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân.
+Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp
chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lực lập pháp, hành
pháp và tư pháp.
+Nhà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm
cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ
thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
+Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao
trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành DC, đồng thời tăng
cường kỷ cương, kỷ luật.
+Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một Đảng duy nhất lãnh
đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của MTTQ VN và tổ chức
thành viên của Mặt trận.
-Để việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cần thực hiện tốt một số biện pháp lớn
sau đây:
+Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong
văn bản pháp luật. Xd, hoàn thiện cơ chế k/tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp
trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền
+Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Qhội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử
nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Q/hội. Đổi mới quy trình xd luật, giảm mạnh việc
ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn n/vụ quyết định các vấn đề q/trọng của đất
biệt quản lý nhà nước với quản lý SXKD. Nhà nước được từng bước kiện toàn, từ cơ
cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.
-MT, các tổ chức CT-XH đã có nhiều đổi mới về tổ chức, bộ máy; đổi mới nội
dung và phương thức hoạt động, đa dạng hoá các hình thức để tập hợp ngày càng
đông đảo các tầng lớp nhân dân; phát huy dân chủ; chăm lo và bảo vệ lợi ích chính
đáng của nhân dân; tham gia xd, chỉnh đốn Đảng; tham gia xd và củng cố c/quyền;
hướng mạnh hoạt động về cơ sở, bước đầu thực hiện nhiệm vụ giám sát và phản biện
XH.
-Đảng đã thường xuyên coi trọng việc đổi mới và tự chỉnh đốn, giữ vững và
nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp CM của nhân dân ta trong điều
kiện mới. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị, phong cách
công tác có nhiều đổi mới và tiến bộ; dân chủ trong Đảng được phát huy, quan hệ
mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố.
-Tóm lại, hơn 20 năm qua, hệ thống c/trị đã thực hiện có kết quả một số đổi mới
quan trọng, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực KT-XH-CT, tư
tưởng, văn hoá được phát huy.
-Các kết quả đạt được đã k/định đường lối đổi mới nói chung, đường lối đổi mới
hệ thống c/trị nói riêng là đúng đắn sáng tạo, phù hợp thực tiễn, bước đầu đáp ứng
yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết, nhược điểm của hệ thống
chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống c/trị đã góp phần làm nên
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.
-Tuy nhiên trong thực tế vận hành hệ thống chính trị nước ta còn nhiều nhược
điểm. Năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà
nước, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CT-XH chưa ngang
tầm với đòi hỏi của tình hình nh/vụ mới.
-Việc cải cách nền hành chính quốc gia còn rất hạn chế. Bộ máy hành chính còn
nhiều tầng nấc làm cho việc quản lý các quá trình kinh tế - xã hội chưa thật nhanh,
nhạy và có hiệu quả cao. Tình trạng quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu của một bộ
phận công chức nhà nước chưa được khắc phục; kỷ cương, phép nước bị xem thường
ở nhiều nơi.