Tiểu luận môn ngân hàng quốc tế điều hành chính sách tiền tệ ở một số quốc gia trong thời gian gần đây - Pdf 34

Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM, MỤC TIÊU CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA
1.1 Khái niệm về chính sách tiền tệ (Monetary Policy):
Theo điều 2 luật NHNNVN: “CSTT quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh
tế-tài chính của Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần
thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống
nhân dân…”
Chính sách tiền tệ là một hệ thống các quan điểm, các chủ trương và biện pháp của
nhà nước nhằm tác động vàđiều chỉnh các hoạt động về tiền tệ, tín dụng, ngân hàng và
ngoại hối, tạo ra sự ổn định của nền kinh tế thị trường để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân
phát triển. Chính sách tiền tệ là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước, là một bộ phận hợp
thành của chính sách kinh tế, và trong một mức độ nào đó thì chính sách tiền tệ là một bộ
phận của kinh tế tài chính quốc gia và chính sách phát triển kinh tế.
1.2 Trách nhiệm và quyền hạn của các đối tượng liên quan đến chính sách tiền tệ
quốc gia:
Chính sách tiền tệ quốc gia là chính sách vĩ mô của Nhà nước, Quốc hội, Chủ tịch
nước, Chính phủ, NHNN và các Bộ, Ngành khác của Chính phủ đều có quyền hạn và
trách nhiệm nhất định liên quan đến chính sách tiền tệ.
+ Quốc hội: Giám sát chính sách tiền tệ; quyết định và giám sát mức lạm phát dự kiến
hàng năm.
+ Chủ tịch nước: Đàm phán, ký kết, tham gia, phê chuẩn điều ước quốc tế, thỏa thuận
quốc tế về lĩnh vực tài chính, tiền tệ và hooatj động ngân hàng.
+ Ngân hàng Nhà nước: Là cơ quan của Chính phủ, NHNN có trách nhiệm chủ trì xây
dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia để Chính phủ trình Quốc hội quyết định; xây dựng
các dự án luật, pháp lệnh về tiền tệ và hoạt động ngân hàng…
+ Các Bộ, Ngành khác của Chính phủ: Phối hợp với NHNN trong việc cung cấp định
hướng chủ trì xây dựng dự án chính sách tiền tệ quốc gia…


tương lai, vì vậy sẽ là không khả thi đối với NHTW trong việc theo đuổi để kiểm soát giá
cả trong ngắn hạn.
Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát triển kinh tế của
quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô.
Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu
tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả. Đây là lợi ích có tầm quan
trọng sống còn đối với sự thịnh vượng kinh tế của quốc gia.Lạm phát cao hay thiểu phát
liên tục là rất tốn kém cho xã hội, thậm chí ngay cả trong trường hợp nền kinh tế phát
triển khả quan nhất. Sự biến động liên tục của các tỷ lệ lạm phát dự tính làm méo mó, sai
lệch thông tin và do đó làm cho các quyết định kinh tế trở nên không đáng tin cậy và
không có hiệu quả. Nguy hiểm hơn, sự bất ổn định giá cả dẫn đến sự phân phối lại không
dân chủ các nguồn lực kinh tế trong xã hội giữa các nhóm dân cư.
2


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Tuy nhiên, theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả không đồng nghĩa với tỷ lệ lạm phát
bằng không. Những nghiên cứu về lạm phát cho thấy trong khi cố gắng duy trì lạm phát ở
gần mức 0, chính sách tiền tệ dễ đưa nền kinh tế đi quá đà và rơi vào tình trạng thiểu phát
gây hậu quả còn trầm trọng hơn, đó là làm nền kinh tế suy thoái. Hơn nữa một mức lạm
phát dương được chứng minh là có tác dụng bôi trơn và hâm nóng nền kinh tế nên sẽ có
những ảnh hưởng tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Theo các chuyên gia về chính sách tiền
tệ ở châu Âu, mức lạm phát từ 1.5% đến dưới 4% là phù hợp với các nền kinh tế phát
triển.
1.4.2 Ổn định tỷ giá hối đoái
Trong điều kiện mở cửa kinh tế, các luồng hàng hoá và tiền vốn vào ra một quốc
gia gắn liền với việc chuyển đổi qua lại giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ. Việc ngăn

Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh
tranh quốc tế của hàng hoá trong nước tăng lên.
Một nền kinh tế phồn thịnh với tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định là nền tảng cho
mọi sự ổn định, là căn cứ để ổn định tiền tệ trong nước, cải thiện tình trạng cán cân thanh
toán quốc tế và khẳng định vị trí của nền kinh tế trên thị trường quốc tế.
1.4.6 Giảm tỷ lệ thất nghiệp
Tạo công ăn việc làm đầy đủ là mục tiêu của tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô
trong đó có chính sách tiền tệ. Công ăn việc làm đầy đủ có ý nghĩa quan trọng bởi ba lý
do:
+ Chỉ số thất nghiệp là một trong những chỉ tiêu phản ánh sự thịnh vượng xã hội vì nó
phản ánh khả năng sử dụng có hiệu quả nguồn lực xã hội.
+ Thất nghiệp gây nên tình trạng căng thẳng cho mỗi cá nhân và gia đình của họ và là
mầm mống của các tệ nạn xã hội.
+ Các khoản trợ cấp thất nghiệp tăng lên có thể làm thay đổi cơ cấu chi tiêu ngân sách
và làm căng thẳng tình trạng ngân sách.
Đảm bảo công ăn việc làm đầy đủ không có nghĩa là tỷ lệ thất nghiệp bằng 0 mà ở
mức tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên được cấu thành từ tỷ lệ thất
nghiệp tạm thời (những người đang tìm kiếm công việc thích hợp) và tỷ lệ thất nghiệp cơ
cấu (thất nghiệp bởi sự không phù hợp giữa nhu cầu về lao động và cung của lao động).
Mỗi quốc gia cần xác định được tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên một cách chính xác để đạt
được mục tiêu này. Bên cạnh đó, cố gắng giảm tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên cũng được coi là
mục tiêu của chính sách tiền tệ.

4


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG




Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

+Tạo điều kiện để mở rộng các quan hệ về kinh tế, chính trị-xã hội, ngoại giao giữa
nước ta và nước ngoài.
2.4 Công cụ của chính sách tiền tệ quốc qia (Monetary Policy Instruments)
2.4.1 Tái cấp vốn
Tái cấp vốn là một hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN nhằm cung ứng vốn
ngắn hạn và công cụ thanh toán cho các ngân hang (NHTM).Khi cấp 1 khoản tín dụng
cho NHTM, NHNN đã tăng lượng tiền cung ứng đồng thời tạo cơ sở cho Ngân hàng
thương mại tạo bút tệ và khai thông khả năng thanh toán của họ.
- Ưu điểm: các khoản vay của NHNN đảm bảo thu về được.
- Nhược điểm: việc vay hay không vay phụ thuộc vào các NHTM
2.4.2 Lãi suất
- Lãi suất là tỷ lệ % trên khoản tiền người vay phải trả cho người cho vay trên tiền vốn,
trong những khoảng thời gian nhất định.
- Lãi suất được xem là công cụ gián tiếp trong thực hiện chính sách tiền tệ bởi vì sự
thay đổi lãi suất không trực tiếp làm tăng thêm hay giảm bớt lượng tiền trong lưu thông,
mà có thể làm kích thích hay kìm hãm sản xuất.Cơ chế điều hành lãi suất được hiểu là
tổng thể những chủ trương chính sách và giải pháp cụ thể của NHNN nhằm điều tiết lãi
suất trên thị trường tiền tệ, tín dụng trong từng thời kỳ nhất định.
- Ưu điểm: NHNN có thể tác động trực tiếp đến các dự án đầu tư bằng các điều kiện
tín dụng.
- Nhược điểm: Lãi suất được ấn định có thể không phù hợp với nền kinh tế, gây khó
khăn cho việc thực hiện các dự án đồng thời tính linh hoạt của thị trường tiền tệ sẽ bị suy
giảm.
2.4.3 Tỷ giá hối đoái

- Nhược điểm: Hạn chế khả năng sinh lời của đồng tiền.
2.4.5 Nghiệp vụ thị trường mở
- Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán giấy tờ có giá ngắn hạn trên thị
trường tiền tệ, điều hòa cung cầu về giấy tờ có giá, gây ảnh hưởng đến khối lượng dự trữ
của các NHTM, từ đó tác động đến khả năng cung ứng tín dụng của các NHTM dẫn đến
làm tăng hay giảm khối lượng tiền tệ.
- Ưu điểm: NHNN tác động trực tiếp đến dự trữ của các NHTM, buộc các NHTM phải
gia tăng hay giảm khối lượng tín dụng.
- Nhược điểm: Biện pháp này chỉ thực hiện được trong điều kiện các khoản tiền trong
lưu thông đều nằm tại các NHTM.

7


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

2.4.6 Các công cụ khác
-

Tăng cường hoạt động thanh tra giám sát: Cần nâng cao năng lực giám sát của NHNN và
công tác kiểm tra nội bộ của các NHTM nhằm đảm bảo an toàn hoạt động tín dụng, ổn
định kinh tế vĩ mô

-

Can thiệp vào thị trường vàng và ngoại tệ: Việc can thiệp vào thị trường vàng và ngoại tệ
của NHNN nhằm đảm bảo chính sách tỷ giá duy trì ổn định, kiểm soát lạm phát.


Lãi suất chiết khấu
Bên cạnh nhu cầu đảm bảo dự trữ bắt buộc, các trung gian tài chính còn có nhu
cầu đảm bảo thanh khoản, an toàn chi trả. Lãi suất chiết khấu của Fed chính là lãi suất
cho các trung gian tài chính vay để đáp ứng các nhu cầu này. Về nguyên tắc, lãi suất liên
ngân hàng thông thường sẽ thấp hơn lãi suất chiết khấu vì nếu không, trung gian tài chính
sẽ không vay liên ngân hàng mà sẽ vay từ Fed để được hưởng lãi suất chiết khấu thấp
hơn.

9


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Lãi suất chiết khấu thường thường cao hơn lãi suất FFR và có ba mức lãi suất
chiết khấu áp dụng cho ba loại cho vay khác nhau là tín dụng chính (Primary credit), tín
dụng mở rộng (Secondary credit) và tín dụng thời vụ (Seasonal credit) .


Tỷ lệ dự trữ bắt buộc
Việc bắt buộc các NHTM phải để dự trữ tối thiểu cần thiết lần đầu tiên được sử

dụng ở Mỹ vào năm 1913, với mục đích là nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của các
NHTM.
Dự trữ bắt buộc là một phần số dư tiền gửi các loại mà các ngân hàng thương mại
(NHTM) phải dự trữ dưới dạng tiền mặt hoặc tiền gửi tại Cục dự trữ liên bang.
Trong thời hạn giới hạn quy định của pháp luật, Hội đồng thống đốc có quyền duy
nhất đối với các thay đổi trong dự trữ bắt buộc. Tổ chức lưu ký phải có dự trữ dưới các
hình thức tiền mặt, tiền gửi kho quỹ tại Cục dự trữ Liên bang. Số tiền dự trữ bắt buộc của


Nguồn: Cục dữ trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED)



Điều chỉnh lãi suất chiết khấu
FED cũng hạ lãi suất chiết khấu áp dụng với các khoản vay trực tiếp từ FED cho

các ngân hàng và các công ty chứng khoán từ mức 1,25% xuống còn 0,5%.
Diễn biến lãi suất chiết khấu:
Ngày
Lãi suất chiết khấu
22/01/2008
4,00
30/01/2008
3,5
17/03/2008
3,25
18/03/2008
2,5
30/04/2008
2,25
17/07/2008
5,75
18/09/2008
5,25
8/10/2008
1,75
29/10/2008
1,25


12


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

3.1.2.3 Chương trình đấu giá cho vay kì hạn (Term Auction Facility ProgramTARP)
Ngày 17/12/2007, trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn,
Fed đưa ra chương trình TAF nhằm tăng cường tính thanh khoản của thị trường tín dụng
Mỹ. TAF cho phép các tổ chức nhận kí gửi đấu giá để được vay những khoản vay ngắn
hạn đổi bằng tài sản kí quỹ. Những tổ chức này phải được thẩm định là có tình trạng tài
chính lành mạnh. Các tổ chức tham gia đấu giá qua các ngân hàng của Fed. Các khoản
đấu giá bắt đầu ngày 17/12/2007, với mức lãi suất khởi điểm 4,17% và kết thúc ở 4,65%,
Fed đã nhận được các khoản kí quỹ trị giá 63 tỷ USD và cho vay 20 tỷ USD với 93 tổ
chức khác nhau. Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có 300 tỷ USD được Fed cho vay theo
chương trình TAF.Ngoài ra, Fed còn tiến hành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài
chính với tổng số tiền tính đến tháng 11/2008 là 1,6 nghìn tỷ USD.Sau khi nỗ lực của Fed
đối phó với khủng hoảng bằng cách hạ lãi suất chiết khấu không đạt được kết quả mong
đợi, Fed hợp tác với các ngân hàng trung ương khác như Ngân hàng TW Canada, Ngân
hàng TW Anh, Ngân hàng ECB, Ngân hàng quốc gia Thụy Sỹ tạo ra công cụ chính sách
tiền tệ TAF nhằm ngăn chặn tình hình trở nên tồi tệ hơn.
3.1.3 Các chính sách FED sử dụng trong thời gian gần đây


Đối với lãi suất FFR
Ngày 10/8/2010 trong thông báo được đưa ra sau cuộc họp của Ủy ban Thị trường

Mở Liên bang (FOMC), FED cho biết sẽ tiếp tục duy trì tỷ lệ lãi suất ở mức thấp kỷ lục

Ban điều hành chính sách của FED đã nâng lãi suất chiết khấu đối với các ngân

hàng vay tiền trực tiếp của FED thêm 0.25% lên mức 0.75% và cho rằng điều này đảm
bảo cho các thể chế tài chính hoạt động vững chắc hơn trong thị trường tiền tệ hơn là tập
trung giải quyết những khoản vay ngắn ngày để giải quyết tính thanh khoản.
Quyết định tăng lãi suất chiết khấu của FED bắt đầu có hiệu lực từ 19-2-2010. Ban
điều hành FED cho biết họ vẫn điều hành chính sách tiền tệ như trước và cho biết ngân
hàng trung ương này thấy rằng các điều kiện kinh tế đảm bảo lãi suất sẽ ở mức thấp trong
một thời gian dài nữa.
Thị trường cho rằng FED đã tiến một bước nữa trong việc thu hồi các khoản tiền
kích thích kinh tế. Khoản tiền này lên tới hàng trăm tỷ đô la được cung cấp bằng các
khoản tín dụng cho các ngân hàng, cho các nhà môi giới trái phiếu, bằng các giấy nợ
thương mại và bằng các khoản tiền cứu trợ các thể chế tài chính sắp phá sản như AIG là
một ví dụ.


Các chính sách khác:
Hành động đầu tiên mạnh tay nhất là mua lại các khoản nợ xấu trị giá 1450 tỷ

USD chứng khoán thế chấp và giấy tờ nợ, do ngân hàng Fannie Mae, Freddie Mac và
Ginnie Mae phát hành, mua lại mua lại 300 tỷ USD trái phiếu chính phủ. Hành động này
giúp cho các ngân hàng này tăng tính thanh khoản và tiếp tục đi vào hoạt động.
14


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Nhìn vào quy mô của khoản mua lại phần nào đó làm cho giới đầu tư tin tưởng

tăng giá và tăng cung tiền quá mức. Có thể nói, trong giai đoạn đầu này, DTBB tương đối
cao nhằm tăng quyền lực của PBC trong việc kiểm soát và điều chỉnh tín dụng. Bên cạnh
15


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

đó, PBC sử dụng tiền gửi trong tài khoản dự trữ cho việc cung cấp tín dụng PBC cho sản
xuất nông nghiệp và các dự án đầu tư quan trọng.
Tháng 3/1998, PBC đã thay đổi về căn bản hệ thống dự trữ bằng việc sát nhập hai
tài khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức thành một tài khỏan thống nhất là tài khoản
dự trữ; đồng thời, các TCTD được toàn quyền sử dụng phần dự trữ vượt mức trong tài
khoản này. Tỷ lệ DTBB sẽ là khác nhau với các đối tượng khác nhau và tình trạng tài
chính, nội bộ khác nhau. Cách xác định tỷ lệ DTBB dựa trên: Tỷ lệ vốn thích hợp, tỷ lệ
nợ quá hạn, tình trạng kiểm soát nội bộ, sự vi phạm quy chế lớn, sự cố rủi ro nghiêm
trọng…
Bước sang năm 2011, nhằm kiềm chế lạm phát, kiểm soát tăng trưởng kinh tế và
tổng phương tiện thanh toán (M2), PBC điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB. Cụ thể: Ngày
20/6/2011, PBC đã tăng tỷ lệ DTBB áp dụng đối với các TCTD lớn lên mức 21,5%/năm,
các tổ chức tín dụng nhỏ và vừa lên 19,5%/năm.
Hiện tại, PBC sử dụng hai tài khoản tiền gửi cho các TCTD: (1) tài khoản DTBB,
yêu cầu hàng ngày các TCTD phải duy trì đúng quy định, hiện được trả lãi là 1,92%/năm;
(2) Tài khoản DTBB vượt, hiện được trả lãi 0,72%/năm.
Việc áp dụng tỷ lệ DTBB được phân chia thành hai khối là: (1) các TCTD lớn chịu
tỷ lệ DTBB cao hơn; (2) các TCTD nhỏ chịu tỷ lệ DTBB thấp hơn. Việc quy định tỷ lệ
DTBB của các TCTD nhỏ và vừa ở mức thấp hơn trong khi áp dụng cùng một mức trần
lãi suất huy động và sàn lãi suất cho vay tạo điều kiện cho các TCTD nhỏ có thể cạnh
tranh, đảm bảo ổn định so với các TCTD lớn khác.

Công cụ tái chiết khấu:
Các công cụ chiết khấu là thương phiếu, hối phiếu được các ngân hàng chấp nhận

trên thị trường. Tái chiết khấu là công cụ hỗ trợ vốn ngắn hạn cho các TCTD, không phải
là kênh cung ứng vốn chủ yếu của PBC đối với các TCTD. Lãi suất tái chiết khấu do
PBC quy định trong từng thời kỳ. Lãi suất tái chiết khấu được xây dựng ở mức điều
chỉnh phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ (nới lỏng hoặc thắt chặt).
Từ năm 1986, PBC bắt đầu thực hiện chiết khấu đối với các NHTM, thời gian này
thị trường tín phiếu ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển và khối lượng giao dịch
tương đối nhỏ.
Đến ngày 21/3/1998, PBC đã đổi mới cơ chế điều hành lãi suất chiết khấu và tái
chiết khấu. Theo đó, PBC quyết định lãi suất tái chiết khấu như là một loại lãi suất độc
lập và lãi suất chiết khấu bằng lãi suất tái chiết khấu cộng biên độ 0,9%.
Từ 1/7/1998, PBC điều chỉnh giảm lãi suất tái chiết khấu và mở rộng biên độ tăng
lãi suất chiết khấu lên 2%, do đó lãi suất chiết khấu thấp hơn lãi suất cho vay kỳ hạn 6
tháng. Đến tháng 12/1998, trần lãi suất chiết khấu được điều chỉnh đúng bằng mức lãi
suất cho vay cùng kỳ hạn.
Việc PBC điều chỉnh thận trọng lãi suất tái chiết khấu là một bước đi quan trọng
trong quá trình đổi mới cơ chế lãi suất theo định hướng thị trường. Điều này góp phần cải
thiện cơ chế hoạt động của chính sách lãi suất, điều tiết mối quan hệ vay mượn giữa PBC

17


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

với các TCTD, nâng cao khả năng quản lý hiệu quả, minh bạch nguồn vốn vay từ PBC
của các TCTD.

mạnh giữa các ngân hàng và tổ chức tài chính. Các mức lãi suất trần tiền gửi và sàn cho
vay chuẩn được điều chỉnh linh hoạt để đạt được sự cân bằng trong và ngoài nước. Việc
quản lý sàn lãi suất cho vay chủ yếu nhằm 2 mục tiêu chính (i) Hạn chế hạ thấp lãi suất
kiểm soát tăng trưởng tín dụng khi nền kinh tế phát triển quá nóng; (ii) Hạn chế cạnh
18


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

tranh không lành mạnh giữa các TCTD lớn với các TCTD nhỏ. Việc áp dụng trần lãi suất
huy động nhằm hai mục tiêu chính (i) Lãi suất tiền gửi không được tăng cao quá mức làm
hạn chế tiêu dùng gây ra tình trạng dư cung. (ii) Hạn chế sự dịch chuyển vốn giữa các
NHTM.
Hiện PBC thực hiện công bố các mức lãi suất huy động và cho vay chuẩn với
nhiều kỳ hạn khác nhau như lãi suất tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn 3, 6, 12 tháng, 2
năm, 3 năm và 5 năm, lãi suất cho vay thời hạn 6 tháng, 1 năm, 1-3 năm, 3-5 năm và trên
5 năm để làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất huy động và cho vay.


Công cụ tỷ giá:
Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷ giá. Cơ

chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinh doanh, không
gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, làm cho các doanh
nghiệp không chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng tính ỷ lại vào
sự bao cấp của nhà nước, chính điều này đã làm cho Trung Quốc rơi vào suy thoái, khủng
hoảng kinh tế sâu sắc.
Đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều chỉnh tỷ giá

Từ năm 2013 đến nay, Trung Quốc đã bắt tay thực hiện chương trình cải cách sâu
rộng, điều chỉnh kết cấu, chuyển đổi, nâng cấp kết cấu kinh tế và phương thức phát triển
sau hơn 30 năm cải cách mở cửa với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Chương trình này
được triển khai dựa trên chính sách kinh tế mới - thường được xem là học thuyết kinh tế
mới (Likonomics) của Tân thủ tướng Lý Khắc Cường với trọng tâm là ổn định tăng
trưởng, điều chỉnh kết cấu thúc đẩy cải cách để có thể giải quyết được tận gốc những vấn
đề tồn tại của kinh tế Trung Quốc trong hơn 3 thập kỷ vừa qua. Và định hướng chính sách
này đã ảnh hưởng đáng kể đến quá trình hoạch định điều hành CSTT của Ngân hàng
Nhân dân Trung Quốc trong thời điểm hiện nay. Trong đó đáng chú ý là những định
hướng cải cách khu vực ngân hàng như sau: Không theo đuổi kích thích chính sách tiền
tệ hay tài khóa nới lỏng; Các ngân hàng phải kìm hãm sự gia tăng nguy hiểm tài chính
bằng cách giảm cung tiền và nợ xấu; Nhấn mạnh sự cần thiết phải tái cấu trúc nền kinh
tế, từ thả nổi lãi suất đến tăng độ linh hoạt của giá cả.
Trên cơ sở đó, quan điểm điều hành của Trung Quốc hiện nay là tạo ra sự cân bằng
giữa tăng trưởng và cải cách, vừa đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng để không dẫn đến
những rối loạn xã hội trong ngắn hạn, vừa đảm bảo sự tăng trưởng bền vững, không phụ
thuộc vào sự gia tăng nóng của tín dụng trong dài hạn. Chính vì vậy bước sang năm
2015, tất cả các mục tiêu kinh tế được Quốc hội thông qua đều đặt ở mức thấp hơn so với
năm trước (mục tiêu tăng trưởng là 7% - 7,5%; mục tiêu tăng trưởng thương mại ở mức
6% so với mức 7,5%, lạm phát ở mức 1 – 2%, tăng trưởng M2 khoảng 12%,….) Những
định hướng phát triển này đã có ảnh hưởng mạnh đến xu hướng điều hành CSTT của
20


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

PBC. Theo đó, trong năm 2015, PBC sẽ điều hành CSTT theo phương thức linh hoạt hơn,
để hỗ trợ tăng trưởng đạt được theo mục tiêu đề ra, ngăn chặn những rủi ro mà nền kinh


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Bên cạnh đó, PBC tích cực tham gia thực hiện các định hướng chính sách của
Chính phủ trong việc thiết lập đường cong lợi tức dựa trên cơ sở thị trường và tự do hóa
lãi suất, và là một trong những bước cơ bản để đưa nền kinh tế vận hành theo định hướng
thị trường nhiều hơn. Cụ thể là việc nghiên cứu thông qua các quy định cho phép các
ngân hàng tham gia vào thị trường các sản phẩm phái sinh đối với các giao dịch tương
lai các trái phiếu nợ của Chính phủ với kỳ hạn 10 năm, chính thức niêm yết trái phiếu kỳ
hạn 10 năm vào ngày 21/03/2015, hay đề xuất các cơ chế chính sách liên quan đến bảo
hiểm tiền gửi ngân hàng,…
Như vậy có thể nhận thấy rằng, các quyết sách tiền tệ của Trung Quốc luôn bám
sát chặt chẽ diễn biến của kinh tế vĩ mô đang thay đổi mạnh mẽ để có những bước điều
chỉnh thích hợp, tính linh hoạt của chính sách luôn được hình thành trên nền tảng thận
trọng. Bởi vì, các quyết sách của NHTW được đưa ra không bao giờ được thực hiện một
cách cô lập, các quyết định lớn như việc cắt giảm lãi suất phải được Hội đồng Nhà nước
thông qua, và phải bám sát với diễn biến giảm của lạm phát nhằm điều chỉnh lãi suất vay
thực tế chứ không hoàn toàn là tín hiệu nới lỏng. Việc cắt giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong
thời gian gần đây là để duy trì tình trạng thanh khoản ổn định trong hệ thống khi dòng
vốn rút ra khỏi nền kinh tế đang có xu hướng gia tăng.
Sự thận trọng trong các bước quyết sách tiền tệ linh hoạt của PBC được xem là rất
có ý nghĩa trong công cuộc cải cách sâu, rộng tại Trung Quốc hiện nay. Các chính sách sẽ
đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình điều chỉnh và được kỳ vọng là sẽ sớm giúp
giải quyết được những bất ổn trong hệ thống tài chính, từng bước hỗ trợ ngăn chặn đà suy
giảm của tăng trưởng kinh tế và áp lực giảm phát. Đặc biệt, chúng sẽ giúp thực hiện được
các định hướng cải cách trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn tới, vượt qua giai đoạn
khó khăn để trở thành một nền kinh tế lớn nhất của thế giới trong tương lai.
3.3 Chính sách tiền tệ của NHTW Nhật Bản

phủ có thể, khi cần thiết, tham dự các cuộc họp của Ủy ban chính sách trong việc đưa ra
các quyết định chính sách tiền tệ (tại Các cuộc họp chính sách tiền tệ), hoặc bày tỏ ý kiến,
đề xuất ý kiến, và yêu cầu Hội đồng quản trị BOJ hoãn một cuộc bỏ phiếu về đề nghị Hội
đồng quản trị tổ chức cuộc họp tiếp theo (Điều 19 của Luật Ngân hàng trung ương Nhật
Bản). Tuy nhiên, đại diện chính phủ không có phiếu biểu quyết chính sách tiền tệ. Cuối
cùng, các quyết định chính sách tiền tệ được thực hiện bởi một đa số phiếu trong số 9
thành viên của Ủy ban chính sách.
Ủy ban chính sách BOJ sẽ tổ chức họp 1 hoặc 2 lần trong năm để thảo luận và đưa
ra quyết định về các chính sách tiền tệ, bao gồm cả hướng dẫn về hoạt động thị trường
tiền tệ. Theo đó,BOJ đặt ra lãi suất định hướng cho hoạt động thị trường tiền tệ. Hiện tại,
BOJ lấy lãi suất cho vay qua đêm đối với những khoản vay không thế chấp làm lãi suất
định hướng.
23


Nhóm thực hiện: 8

GVHD: PGS.TS TRƯƠNG THỊ HỒNG

Để điều hành lãi suất định hướng này, BOJ sử dụng các công cụ chính sách của
mình để tác động vào các yếu tố hình thành nên lãi suất, chủ yếu là những yếu tố tác
động đến cung và cầu về nguồn vốn trên thị trường tiền tệ. Các hoạt động trên được thực
hiện qua thị trường mở. Ví dụ, để tăng cung nguồn vốn trên thị trường tiền tệ, BOJ cung
cấp khoản vay cho các tổ chức tài chính dựa trên tài sản mà họ cầm cố tại ngân hàng
trung ương hoặc hạch toán ghi có nguồn vốn trên bảng cân đối BOJ cho tổ chức tài chính
đối tác. Ngược lại, để giảm cung nguồn vốn trên thị trường tiền tệ, BOJ bán các tài sản
mà mình nắm giữ cho các tổ chức tài chính hoặc hạch toán ghi nợ nguồn vốn trên bảng
cân đối BOJ cho tổ chức tài chính đó.
Bằng cách này, BOJ tác động đến lãi suất thị trường tiền tệ, qua đó tác động đến
các mức lãi suất trên thị trường tài chính khác và lãi suất mà các ngân hàng áp dụng đối

chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát nằm trong mục tiêu đề ra; (2) BOJ đánh giá các
hoạt động kinh tế và giá cả từ 2 quan điểm, bao gồm triển vọng kinh tế đi đúng với dự
kiến của BOJ về hoạt động kinh tế và giá cả trong 2 năm tới và triển vọng kinh tế có tính
đến những rủi ro khác nhau trong việc thực hiện chính sách tiền tệ trong 1 kỳ hạn; (3)
BOJ giới thiệu quan điểm hiện hành về chính sách tiền tệ dựa trên phác thảo về triển
vọng kinh tế theo 2 quan điểm BOJ đã đề cập.
Đầu năm 2016 Ngân hàng Trung ương Nhật Bản đã áp dụng mức lãi suất âm 0,1%
đối với một phần các khoản tiền của các định chế tài chính gửi tại ngân hàng này. Đây là
nỗ lực nhằm thúc đẩy hoạt động cho vay và khuyến khích doanh nghiệp cũng như người
dân Nhật Bản tăng cường chi tiêu và đầu tư. Quyết định trên được đưa ra khi sự tăng
trưởng chậm lại của kinh tế Trung Quốc và các nền kinh tế mới nổi khác đang đe dọa khả
năng phục hồi của nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Chính sách lãi suất âm được thực thi
lần đầu tiên bắt đầu từ ngày 16/2/2016 với hy vọng có thể hỗ trợ nền kinh tế Nhật Bản
hiện đang đối mặt với tình trạng giảm phát và tăng trưởng sa sút trong bối cảnh triển
vọng kinh tế toàn cầu ảm đạm.
Để thực hiện chính sách tiền tệ một cách phù hợp thực tiễn, công tác thống kê số
liệu cũng như việc tiến hành các nghiên cứu và điều tra là rất quan trọng. Để hiểu chính
xác tình hình kinh tế và tài chính Nhật Bản, BOJ không chỉ dựa trên các thống kê và
nghiên cứu trong nước mà phải tiến hành cả ở nước ngoài và trên toàn cầu. Trong khía
cạnh này, BOJ duy trì mối quan hệ chặt chẽ với các ngân hàng trung ương và các tổ chức
quốc tế.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status