Sáng kiến kinh nghiệm “ tuyên truyền, hưỡng dấn học sinh cách chăm sóc vệ sinh răng miệng đúng cách - Pdf 34

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập –Tự do – Hạnh phúc

BẢN CAM KẾT
I. TÁC GIẢ:
Họ và tên: Lưu Thị Hải Hà
Ngày tháng năm sinh: 10/10/1988
Đơn vị: Trường tiểu học Chu Văn An
II. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
Sáng kiến kinh nghiệm: “ Tuyên truyền, hưỡng dấn học sinh cách chăm
sóc vệ sinh răng miệng đúng cách ”.
III. CAM KẾT:
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này là sản phẩm của cá nhân tôi.
Nếu sảy ra tranh chấp về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sáng kiến
kinh nghiệm, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo cấp trên về tính
trung thực của bản cam kết này.
Cát Hải, ngày 07 tháng 03 năm 2014
NGƯỜI CAM KẾT

Lưu Thị Hải Hà

1


I. PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, khi mà giao tiếp và các mối quan hệ xã hội ngày càng được mở
rộng, giá trị của sức khỏe răng miệng và thẩm mỹ vì vậy cũng được nâng cao
một cách rõ rệt. Mức độ nghiêm trọng của bệnh răng miệng được đánh giá
tương tự như các bệnh mạn tính khác, có khả năng ảnh hưởng xấu đến chất
lượng cuộc sống ngay từ thời ấu thơ cho đến tận tuổi già. Gánh nặng tốn kém
của các bệnh về răng miệng chiếm từ 5% đến 10% tổng chi phí cho điều trị các

được nếu chúng ta hướng dẫn cho trẻ biết cách chăm sóc và bảo vệ.
Cho đến nay, bệnh răng miệng hay gặp nhất ở tuổi học đường là bệnh sâu
răng sữa và viêm lợi. Sâu răng sữa xuất hiện ở trẻ chưa hoặc bắt đầu thay sang
răng vĩnh viễn, đây là lứa tuổi bắt đầu đến trường (lớp 1). Tình trạng sâu răng
sữa cũng có thể xuất hiện trước khi trẻ đến trường với biểu hiện nhiều răng bị
“sún”. Khi chưa thay răng, răng sữa của trẻ thường chỉ có 20 chiếc. Đặc điểm
của răng sữa là kết cấu không bền vững, mềm và dễ bị tác động của vi khuẩn
trong miệng, do vậy răng sữa rất hay bị sâu. Nếu không được điều trị tốt, răng
sữa bị sâu sẽ lây lan nhanh sang các răng lành khác và là điều kiện thuận lợi làm
cho các răng vĩnh viễn mọc sau đó tiếp tục mắc phải căn bệnh này.
Khi mới bắt đầu sâu, cũng như sâu răng ở người lớn, trên răng sữa của trẻ
xuất hiện những đốm màu sậm như cà phê rồi trở nên đen. Các vết đen này ngày
một ăn sâu vào trong thân răng làm mòn răng gây đau nhức, khó nhai, thậm chí
là sốt, ảnh hưởng đến sự phát triển của xương quai hàm và viêm tủy xương hàm
ở trẻ, đi cùng với bệnh sâu răng sữa là tình trạng viêm lợi. Đây là 2 bệnh có
quan hệ với nhau. Khi lợi bị viêm sẽ đỏ và sưng tấy, dễ chảy máu, miệng có mùi
hôi. Vì lợi bị đau nên nhiều trẻ không chịu đánh răng thường xuyên làm cho tình
trạng viêm tiếp tục nặng hơn và tạo điều kiện cho sâu răng phát triển, nếu đã có
sâu răng rồi thì càng nặng hơn. Viêm lợi còn là giai đoạn đầu của quá trình viêm
quanh răng, khi bệnh đã nặng thì lợi sẽ không còn bám chắc vào răng nữa mà
hình thành các túi lợi, các dây chằng của răng và xương bị vi khuẩn xâm nhập,
phá huỷ. Trong các túi lợi chứa đấy mảng bám cao răng và vi khuẩn. Quá trình
này diễn ra lâu và không được điều trị sẽ làm lung lay và rụng răng.
Bên cạnh đó thì tình trạng thay răng không được chăm sóc tốt, sâu răng,
răng bị “sún” làm cho nhiều trẻ có hàm răng vĩnh viễn mọc lệch lạc, ảnh hưởng
đến thẩm mỹ và còn là điều kiện cho mảng bám, vi khuẩn phát triển ở những
3


chỗ răng mọc chen chúc, răng mọc lệch khiến quá trình đánh răng không làm



qua bằng nước lã trước khi đi ngủ. Điều này rất đáng quan tâm vì việc vệ sinh
răng miệng kém sẽ tạo điều kiện gây nên bệnh sâu răng, ảnh hưởng đến sức
khỏe.
Sâu răng giờ đây trở thành căn bệnh phổ biến trong cuộc sống văn minh
hiện đại, các bậc phụ huynh dường như không chú ý mấy đến vấn đề vệ sinh
răng miệng cho trẻ. Trước những thực trạng đáng lo ngại như vậy, việc chăm
sóc răng miệng cho trẻ nhỏ cần phải được xem là mối quan tâm hàng đầu của
các ông bố bà mẹ và không nên xem nhẹ bệnh sâu răng
2. Biện pháp tiến hành
2.1. Công tác tổ chức
- Báo cáo đề cương về Trung tâm Y tế ngay đầu năm
- Thông báo cho Ban giáo hiệu nhà trường biết về hình thức và nội dung
đề tài sáng kiến tại trường TH Chu Văn An.
2.2. Tiến hành tuyên truyền, hưỡng dấn học sinh về vệ sinh răng miệng:
a, Kiến thức về vệ sinh răng miệng của học sinh
- Kiến thức về chải răng
Phần lớn học sinh được khảo sát biết được từ hai lợi ích trở lên của việc
chải răng đúng cách nhưng chỉ có số ít có kiến thức về phương pháp chải răng
hiệu quả. Như vậy, tỉ lệ học sinh có kiến thức chung đúng về chải răng chiếm tỉ
lệ phần trăn nhỏ với tổng số tổng số học sinh trong trường.
- Kiến thức về khám răng định kỳ
Tỉ lệ học sinh cho biết là cần đi khám răng định kỳ dưới sáu tháng một lần
chủ yếu là học sinh khối lớp 5. Đáng chú ý là 22% trong tổng số học sinh khối 5
cho rằng chỉ đến nha sĩ khi có vấn đề về răng miệng, kiểm tra răng định kỳ là
hoàn toàn không cần thiết. Một số ít học sinh hoàn toàn không biết nên khám
răng định kỳ khi nào.
- Kiến thức về nước muois sinh lý
Tỉ lệ học sinh có kiến thức đúng về tác dụng của nước muối sinh lý là làm

đường có thấp hơn so với các thức ăn ngọt, tỉ lệ học sinh dùng thức uống có
đường dưới một lần trong ngày chiếm đa số (51%).
c, Thực hành về vệ sinh răng miệng
- Thực hành về chải răng
Phương pháp chải ngang được sử dụng phổ biến nhất. Tỉ lệ học sinh thực
6


hành phương pháp chải dọc bề mặt răng còn rất hạn chế. Kết quả kiểm tra còn
cho thấy đa số học sinh không có cách chải răng cố định, sự hiểu biết của học
sinh về phương pháp Bass rất hạn chế, có lẽ như vậy mà tỉ lệ học sinh thực hành
đúng về chải răng vẫn còn thấp và thấp hơn so với một vài nghiên cứu đã tiến hành
trước đó. Phương pháp Bass không khó nhưng đòi hỏi tập trung và khéo léo của
người làm. Trong khi đó, những phương pháp chà ngang được cộng đồng dễ chấp
nhận do dễ thực hiện và được phổ biến trước phương pháp Bass rất nhiều năm. Về
số lần chải răng, số học sinh cho biết chải răng từ hai lần trở lên. Bản thân học sinh
ý thức được phải chải răng thường xuyên cùng với sự nhắc nhở của mọi người
xung quanh, đã dần nâng tần suất chải răng của đại bộ phận học sinh tại thành phố
cao hơn so với nơi khác. Về thời điểm chải răng trong ngày, đa số các em có thực
hành chải răng vào buổi sáng sau khi thức dậy. Với những học sinh chải răng từ hai
lần trở lên trong ngày thì có thực hành vào buổi tối và buổi sáng sau khi thức dậy.
Bên cạnh mục tiêu mô tả về thời điểm chải răng chúng tôi còn sử dụng thông tin
biến số này như một cách để kiểm tra độ chính xác của tỉ lệ đáp ứng với số lần chải
răng trong ngày của học sinh.
- Thực hành về khám răng định kỳ
Tỉ lệ học sinh có khám răng định kỳ hàng năm của học sinh là 20%/năm.
- Thực hành dùng các loại thực phẩm có đường, axit giữa các bữa ăn
chính
Thói quen sử dụng các loại thức ăn, thức uống có đường và axit giữa các bữa
ăn chính là tương đối phổ biến. Hiện nay, cùng với sự tăng trưởng về kinh tế là sự

8


Môc lôc
stt
01
02
03
04
05
06
07

Néi dung

trang

B¶n cam kÕt
I : Phần mở đầu
II: Nội dung
1. Thực trạng về vệ sinh răng miệng hiện nay
2. Biện pháp tiến hành
2.1. Công tác truyên truyền vệ sinh răng miệng
2.2. Tiến hành truyên truyền hưỡng dẫn vệ sinh

1
3
5
5
5

Gia.
2. Nguyễn Thị Tịnh, Ngô Đồng Khanh. Chọn lựa phương pháp chải răng
9


thích hợp cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo và cấp một ở Việt Nam. Kỷ yếu công trình
khoa học 1975-1993. Viện Răng Hàm Mặt TP. Hồ Chí Minh.
3. Nhóm chuyên gia tư vấn phối hợp WHO/FAO, Các khuyến nghị về dự
phòng các bệnh về răng. Chế độ ăn, dinh dưỡng và dự phòng các bệnh mãn tính.
4. Viện Răng Hàm Mặt TP. Hồ Chí Minh. Nha khoa công cộng. Kỷ yếu
công trình khoa học 1994-2000.
5. Vũ Thị Thúy Hồng, Huỳnh Anh Lan, Võ Đắc Tuyến, Tình trạng
mảng bám răng ở học sinh 12 tuổi. Tuyển tập công trình nghiên cứu khoa học
răng hàm mặt 2008. NXB Y Học.

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
ĐIỂM

XẾP LOẠI

10


TM.HĐKH

ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP HUYỆN
ĐIỂM

XẾP LOẠI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status