lịch sử quan hệ quốc tế ở đông á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến cuối chiến tranh lạnh(1945-1991) - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HCM
KHOA LỊCH SỬ

LÊ PHỤNG HOÀNG

LỊCH SỬ QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG Á
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI ĐẾN CUỐI CHIẾN TRANH LẠNH
(1945-1991)

LƯU HÀNH NỘI BỘ - 2005

1


DẪN NHẬP
QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở ĐÔNG Á TRONG
CHIẾN TRANH THÁI BÌNH DƯƠNG
(7.12.1941 − 2.9.1945)
Sau một thời gian nỗ lực đàm phán với Hoa Kì, nhưng không có kết quả(1), ngày 7.12.1941,
Nhật bất thần tổ chức một cuộc tấn công ồ ạt bằng không quân vào hạm đội Thái Bình Dương
của Mó đang neo đậu tại Trân Châu Cảng (Pearl Harbor) trong quần đảo Hawaii, Cuộc Chiến
tranh Thái Bình Dương (hay Chiến tranh Đại Đông Á, theo cách gọi của người Nhật) khởi phát(2).
Chỉ trong một thời gian ngắn − từ tháng 12. 1941 đến tháng 5.1942, Nhật đã kiểm soát toàn
bộ các xứ thuộc đòa và phụ thuộc của các cường quốc phương Tây ở Viễn Đông (các xứ Đông
Nam Á, Hongkong, nhiều căn cứ quân sự của Hoa Kì ở Thái Bình Dương). Tuy nhiên, ngay trong
tháng 5.1942, tại vùng biển San Hô (Coral Sea), sức tiến công của Nhật đã bắt đầu kiệt, khi hải
quân nước này lần đầu tiên đã chẳng những không tiêu diệt được đối phương, mà còn chòu những
tổn thất nặng không sao bù đắp nổi. Trận Midway diễn ra chỉ một tháng sau đó cho thấy gió đã
đổi chiều: từ nay quyền chủ động trên chiến trường thuộc về quân Mó, còn quân Nhật phải
chuyển sang thế phòng ngự.
Về phần mình, người Anh đã phải bằng lòng với vai trò thứ yếu trong các hoạt động quân sự


hoạch tổng thể cho hoạt động đối ngoại của Hoa Kì thời hậu chiến. Theo đó, sau chiến tranh,
bốn đại cường thắng trận − Hoa Kì, Liên Xô, Anh và Trung Quốc − sẽ chia nhau kiểm soát thế
giới. Trong khuôn khổ của trật tự mới này, Anh sẽ tiếp tục là Đồng Minh, nhưng ngày càng lệ
thuộc Mó, còn những nước từng là cựu thuộc đòa và đang nằm trong Khối Thònh vượng chung, như
Canada, Australia và New Zealand sẽ rơi vào quỹ đạo ảnh hưởng của Mó. Trung Quốc, được
vươn lên đòa vò cường quốc thế giới nhờ sự đỡ đầu của Washington và thêm nữa, được đứng
chung trong một liên minh an ninh song phương với Mó(3) tất sẽ ủng hộ mọi bước đi của nước này
trên trường quốc tế, đặc biệt là ở Viễn Đông. Về phần Liên Xô, nước có chế độ chính trò và xã
hội hoàn toàn khác với Mó và một quân đội hùng mạnh dạn dày kinh nghiệm chiến đấu, tất sẽ
không cam chòu bò Mó chi phối. Khi đó, Liên Xô sẽ có một đối trọng là Trung Quốc ở Viễn Đông
và một đối thủ không khoan nhượng là Anh ở châu Âu.
Lần đầu tiên chính phủ Washington chính thức mang ra thực hiện chính sách nâng Trung
Quốc lên đòa vò một trong các đại cường thế giới, ngang hàng với Hoa Kì, Liên Xô và Anh, đó là
khi Trung Quốc được mời kí vào bản Tuyên bố của bốn đại cường về nền An ninh chung được
công bố tại Moskva ngày 30.10.1943. Văn kiện thừa nhận Trung Quốc có quyền và có trách
nhiệm dự phần cùng với các cường quốc khác vào sự nghiệp tiến hành chiến tranh, tổ chức nền
hoà bình và thiết lập một bộ máy cho quan hệ cộng tác quốc tế thời hậu chiến.
Từ ngày 23 đến ngày 25.11.1943, Trung Quốc được mời tham dự Hội nghò Cairo diễn ra ngay
trước Hội nghò Teheran. Đây là lần đầu tiên từ khi ra đời (1911), Trung Hoa Dân quốc được đối
xử như một cường quốc thế giới, vì hai người đối tác với Tưởng Giới Thạch − người lãnh đạo
Trung Quốc − là tổng thống Hoa Kì F. Roosevelt và thủ tướng Anh Winston Churchill. Bản
Thông cáo chung của hội nghò được công bố ngày 1.12 với sự tán thành của nhà lãnh đạo Liên
Xô I. Stalin ghi rõ rằng “Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ mà Nhật đã tước đoạt của
Trung Quốc sẽ được hoàn trả cho Cộng hòa Trung Hoa” [19, tr.519].
Trong những năm tháng sau đó, tuy Trung Quốc không được mời tham dự các hội nghò
Teheran, Yalta và Potsdam, quyền lợi của Trung Quốc không vì thế mà bò lãng quên. Các Hội
nghò Yalta và Potsdam đều tái khẳng đònh nội dung đã được nêu trên của Hội nghò Cairo, và
thậm chí khi chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc, Trung Quốc còn được giao nhiệm vụ giải
giáp quân đội Nhật không chỉ ngay trên lãnh thổ mình, mà cả trên bán đảo Đông Dương ở phía

các nguyện vọng của nhân dân Trung Quốc:
a) Chúng ta bằng mọi cách thích hợp thúc đẩy việc thành lập một chính thể đại nghò rộng
rãi. Chính thể này sẽ mang lại sự thống nhất trong nước, bao gồm cả việc hòa giải khác biệt
Quốc – Cộng và hoàn thành một cách có hiệu quả các trách nhiệm trong nước và ngoài nước của
mình” [18, tr.353].
Tháng 6.1944, tổng thống F. Roosevelt đã phái phó tổng thống Henry Wallace sang Trung
Quốc với chỉ thò dàn xếp mâu thuẫn giữa Quốc dân đảng (QDĐ) và đảng Cộng sản (ĐCS) và
khôi phục sự tin cậy lẫn nhau giữa Liên Xô và Trung Quốc [Xem chi tiết trong 19, tr.550 và 555
và 59, tr.460].
Từ đó cho đến khi chiến tranh Thái Bình Dương chấm dứt, các đại sứ của Hoa Kì ở Trung
Quốc − Clarence E. Gauss và Patrick J. Hurley (từ tháng 12.1944) − đã được Washington chỉ thò
tích cực thúc đẩy tiến trình thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc vào mục tiêu
đánh bại Nhật và góp phần vào việc tìm kiếm một giải pháp nhanh chóng cho vấn đề nội bộ
Trung Quốc theo cách thu xếp để QDĐ và ĐCS ngồi lại với nhau. Các đại diện chính phủ Mó đã
không ít lần yêu cầu những người cầm đầu chính phủ Trùng Khánh không nên có những động
thái làm cho quan hệ Quốc – Cộng xấu đi [Xem chi tiết trong 39, tr.187 – 196].
Để thực hiện đường lối của Washington đối với Trung Quốc, các nhà ngoại giao Mó không
chỉ tiến hành các cuộc vận động ở phía chính phủ Tưởng Giới Thạch, mà họ còn tìm đến tận
chiến khu Diên An để tiếp xúc trực tiếp với Mao Trạch Đông, người lãnh đạo đảng Cộng sản
Trung Quốc. Ở đây cũng cần lưu ý rằng ngay từ đầu, chính phủ F. Roosevelt đã tán đồng “giải
pháp Tưởng Giới Thạch” cho vấn đề Trung Quốc được đại sứ Patrick Hurley trình bày như sau
trong báo cáo gửi về Washington tháng 2.1945: “Tôi nghó rằng chính phủ chúng ta đã đúng trong
quyết đònh ủng hộ chính phủ quốc dân Trung Quốc và quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch. Tôi
không tán thành hay ủng hộ bất kì nguyên tắc nào, mà theo ý tôi sẽ làm suy yếu chính phủ quốc
dân hay quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch” [19,tr.72].
2. Chính sách của Hoa Kì đối với Nhật
Trước cả khi chiến tranh Thái Bình Dương khởi phát, chính phủ Hoa Kì đã đồng ý với quan
điểm của các nhà chỉ huy quân sự hàng đầu là đặt thành ưu tiên nhiệm vụ đánh bại Đức, và do
vậy chọn châu Âu là chiến trường chính.
Sau khi trực tiếp tham chiến, chính phủ Roosevelt luôn bày tỏ mong muốn Liên Xô sẽ sớm

d) quần đảo Kuril sẽ được chuyển giao cho Liên Xô.
Các bên đạt được hiểu biết rằng thỏa thuận liên quan đến Ngoại Mông Cổ và các cảng và
đường sắt nêu trên cần được sự tán thành của đại nguyên soái Tưởng Giới Thạch. Ngài tổng
thống sẽ thực hiện các bước đi nhằm tranh thủ sự tán thành này theo lời khuyên của ngài Stalin
(5)
.
Những người đứng đầu của ba đại cường đồng ý rằng những yêu cầu của Liên Xô sẽ đương
nhiên được đáp ứng đầy đủ khi Nhật bò đánh bại.
Về phần mình, Liên Xô bày tỏ thái độ sẵn sàng kí với Chính phủ Quốc dân Trung Quốc một
hiệp ước hữu nghò và liên minh giữa Liên Xô và Trung Quốc nhằm trợ giúp Trung Quốc bằng
quân đội và vì mục đích giải phóng Trung Quốc khỏi ách thống trò của Nhật” [11, tr.254 – 255].
Vào thời điểm Hội nghò Yalta diễn ra, người Nhật không còn hi vọng gì vào một kết thúc
sáng sủa của cuộc chiến. Thực ra, họ đã nhận ra sự thật hiển nhiên này trước đó khá lâu. Không
lâu sau khi Đồng Minh đổ bộ lên Normandy, chính Hoàng đế Nhật đã yêu cầu chính phủ xem
xét khả năng chấm dứt chiến tranh và vận động vai trò trung gian của Liên Xô, cường quốc
Đồng Minh duy nhất chưa lâm chiến với Nhật. Nhưng đáp lại các cuộc vận động của Nhật là câu
trả lời thoái thác của Liên Xô, để rồi ngày 5.4.1945, chính phủ Moskva ra tuyên bố bãi bỏ Hiệp
ước Trung lập Xô − Nhật. Cũng vào ngày này, trận chiến giành Okinawa, chướng ngại cuối cùng
ngăn trở cuộc đổ bộ của quân Mó lên lãnh thổ chính quốc Nhật (bao gồm 4 đảo lớn: Honshu,
Hokkaido, Kyushu và Shikoku) khởi diễn và kết thúc vào giữa tháng 6 bằng thắng lợi của quân
Mó.
Ngày 26.7.1945, giữa lúc Hội nghò Potsdam còn đang diễn ra, một bản tuyên cáo mang chữ kí
của tổng thống Hoa Kì H. Truman, thủ tướng Anh Clement Atlee và người đứng đầu Nhà nước
Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đã được công bố với sự đồng ý về nội dung của nhà lãnh đạo xô
viết I. Stalin [8, tr.177](6). Tuyên cáo nhấn mạnh Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, nếu không
(5)
(6)

Mãi đến ngày 15.6.1945, Tưởng Giới Thạch mới được đại diện Mó báo cho biết nội dung của thỏa thuận mật.
Trong Hồi kí, bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kì James Byrnes ghi rằng chính phủ Liên Xô không đề xuất một thay đổi

nào trong bàn Tuyên cáo, nhưng dân uỷ Ngoại giao Molotov có nói lẽ ra Hoa Kì nên tham khảo ý kiến của phía
Liên Xô [13,tr.398].

6


Chương I
QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÔNG Á
TRONG NHỮNG NĂM ĐẦU CHIẾN TRANH
(9.1945 − 6.1950)(7)

Trong khoảng 5 năm đầu chiến tranh, quan hệ quốc tế trong vùng Đông Á chòu sự chi phối
của hai đại cường thắng trận Hoa Kì và Liên Xô.
Tuy chỉ tham chiến vào giờ chót, Liên Xô đã kòp thời thiết lập quyền kiểm soát ở Mãn Châu
Quốc, vượt sông Áp Lục, tiến vào bán đảo Triều Tiên đến tận vó tuyến 38, xâm nhập miền Nam
đảo Sakhalin. Hồng quân cũng chiếm toàn bộ quần đảo Kuril, kể cả hai đảo Shikotan và
Habomai thuộc đảo Hokkaido về mặt đòa lí và hành chính. Ngoài ra, Liên Xô còn có hai đồng
minh là đảng Cộng sản Trung Quốc và đảng Cộng sản Triều Tiên.
Về phần mình, Mó đã thiết lập quyền kiểm soát lên toàn bộ các đảo trên Thái Bình Dương, 4
đảo chính quốc Nhật, phần phía Nam bán đảo Triều Tiên. Mó có đồng minh trong vùng là chính
phủ Tưởng Giới Thạch ở Trung Quốc.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, trong quan hệ giữa Hoa Kì và Liên Xô đã phát sinh ba vấn
đề lớn.
I. VẤN ĐỀ NHẬT BẢN
1. Hoàn cảnh đầu hàng và đường lối chung đối với Nhật Bản và Viễn Đông
Nhật Bản vốn là cường quốc số một ở châu Á và là thủ phạm gây ra chiến tranh ở Viễn
Đông(8). Việc giải quyết vấn đề Nhật sau chiến tranh sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hòa bình và an
ninh của khu vực này, mà trước hết là vùng Viễn Đông. Hoàn cảnh đầu hàng của nước Nhật
quân phiệt có khác biệt so với Đức Quốc xã: Nhật Hoàng vẫn tại vò cùng với Chính phủ Hoàng
gia, mặc dù “từ khi đầu hàng, quyền lực của Nhà vua và của Chính phủ Nhật trong việc cai trò

Liên Xô chiếm đóng ở Hokkaido. Giữ vững độc quyền chiếm đóng Nhật Bản của mình, Mó đồng
thời đề nghò thành lập một “Ủy ban tư vấn về Viễn Đông” để có tiếng nói chung của các nước
Đồng minh chống Nhật. Nước Anh chấp nhận với điều kiện Ủy ban này sẽ họp ở cả Washington
lẫn Tokyo và mời thêm Ấn Độ tham dự. Liên Xô muốn giảm bớt sự độc quyền chiếm đóng của
Mó và nâng cao vai trò của mình nên không tán thành một ủy ban chỉ có vai trò “tư vấn”. Ngoại
trưởng Molotov yêu cầu thành lập một Hội đồng Kiểm soát Đồng minh ở Nhật gồm 4 cường
quốc Mó, Anh, Liên Xô và Trung Quốc (tương tự như Hội đồng ở Đức) để thay cho chính quyền
chiếm đóng duy nhất của Mó.
Hội nghò Ngoại trưởng Tam cường tại Moskva (từ 16 đến 26.12.1945) giữa Liên Xô, Mó, Anh
đã thiết lập cơ chế chiếm đóng Nhật Bản và xác đònh đường lối giải quyết các vấn đề về Nhật
Bản, Trung Quốc và Triều Tiên. Hội nghò đã quyết đònh:

– Về Nhật Bản: thành lập “Ủy ban Viễn Đông” đặt trụ sở ở Washington hoặc Tokyo, bao
gồm 11 nước thành viên là Mó, Liên Xô, Anh, Pháp, Trung Quốc, Hà Lan, Canada, Australia,
New Zealand, Phillipines và Ấn Độ (9). Ủy ban này có nhiệm vụ “xây dựng chính sách đối với
Nhật, các nguyên tắc và các chuẩn mực” mà Nhật phải tuân thủ trong lúc hoàn thành các
nghóa vụ của mình trong thời kì chiếm đóng, và “xem xét mọi chỉ thò và hoạt động của tổng tư
lệnh tối cao quân đồng minh, bao hàm cả các quyết đònh về chính sách” [12, tr.441].
Bên cạnh đó là “Hội đồng Đồng minh về Nhật” gồm đại biểu của Mó, Liên Xô, Trung
Quốc và Anh (đại diện cho cả Australia, New Zealand và Ấn Độ), do tổng tư lệnh quân đội
Đồng minh chiếm đóng Nhật (hoặc đại diện của ông này) làm chủ tòch, đặt trụ sở tại Tokyo.
Hội đồng là đại diện của Đồng minh ở Nhật, có nhiệm vụ giúp đỡ và trao đổi ý kiến với
viên tổng tư lệnh, nhưng quyền quyết đònh thuộc về tổng tư lệnh quân đội chiếm đóng, người
được coi là “quyền lực chấp hành duy nhất của các nước Đồng minh tại Nhật”.
− Về Triều Tiên: tạm thời thực hiện một chế độ “Ủy trò quốc tế” do Mó, Liên Xô, Anh và
Trung Quốc đảm nhiệm với thời hạn tối đa là 5 năm. Trong thời gian đó sẽ thành lập “Ủy
ban Liên hợp Xô - Mó” để xúc tiến mọi hoạt động, tiến tới xây dựng một nước Triều Tiên
độc lâp, dân chủ và thanh toán mọi di sản của chế độ thuộc đòa Nhật.
− Về Trung Quốc: các cường quốc Đồng minh nhất trí xây dựng một nước Trung Hoa
thống nhất và dân chủ; chấm dứt tình trạng nội chiến bằng cách cải tổ chính phủ Quốc dân

Những nét chung về chính sách chiếm đóng được Washington công bố ngày 29.8.1945
trong văn kiện “Chính sách chiếm đóng ban đầu của Hoa Kì sau khi Nhật đầu hàng”. Văn
kiện xác đònh “các mục tiêu tối hậu” của Hoa Kì là: (1) “đảm bảo Nhật sẽ không còn trở
thành mối đe dọa đối với Hoa Kì, hay đối với hòa bình và an ninh thế giới” và (2) “thiết lập
cho được một chính sách hòa bình và có trách nhiệm ủng hộ các mục tiêu của Hoa Kì được
phản ánh trong các ý tưởng và nguyên tắc của Hiến chương Liên Hiệp Quốc”. Văn kiện nêu
rõ có thể sử dụng Chính phủ hoàng gia hiện nay như một công cụ thực hiện chính sách và kế
hoạch chiếm đóng, nhưng không được ủng hộ hay cho chính phủ này hưởng chút ưu đãi nào.
Văn kiện nhấn mạnh phải giải giáp hoàn toàn nước Nhật, mau chóng đem ra xét xử tất cả
tội phạm chiến tranh, thanh trừ và loại bỏ khỏi các vò trí quan yếu tất cả những kẻ nào từng
góp phần tạo ra một nước Nhật quân phiệt và hiếu chiến. Về lónh vực kinh tế, “nền tảng kinh
tế tạo ra sức mạnh quân sự của Nhật phải bò hủy bỏ”, “các tổ hợp kinh tế và ngân hàng lớn
phải bò giải tán”. Nhật Bản phải có nghóa vụ bồi thường chiến tranh và hoàn trả đầy đủ và
mau chóng tất cả các của cải mà nước này đã tước đoạt, cả bên trong lẫn bên ngoài nước
Nhật [Dẫn lại theo 7, tr.210 – 211].
Để thực hiện mục tiêu này, MacArthur đã áp dụng một sách lược mềm dẻo và khôn khéo.
Ông đã tìm được cách đưa tên tuổi của Nhật hoàng Hirohito ra khỏi danh sách tội phạm chiến
tranh, giữ nguyên ngôi vò của ông này để trấn an dân chúng. Ông cũng không xóa bỏ mà cho tổ
chức lại chính phủ Nhật, để nó trở thành cơ quan thừa hành các chỉ thò và chính sách của ông.
Thấy rõ sự nghèo đói và kiệt quệ của Nhật Bản do chiến tranh tàn phá, ông không buộc nước
này phải đảm bảo lương thực và hậu cần cho quân đội Mó chiếm đóng mà yêu cầu Chính phủ Mó
phải bảo đảm tiếp tế cho quân đội của mình ở đây, và cả cho dân Nhật đang bò đói.
Giữa lúc lòng căm thù phát xít Đức và quân phiệt Nhật đang dâng tràn khắp thế giới, sự
khoan dung độ lượng của MacArthur đối với kẻ thù vừa gục ngã đã vấp phải sự chống đối mạnh
mẽ của các nước Đồng minh, ngay trong chính giới Mó, Anh, nhất là từ phía Liên Xô. Ngoại
trưởng Molotov và trung tướng Derevyanko − trưởng đoàn Liên Xô tại Hội đồng Đồng minh về
Nhật − nhiều lần cáo giác rằng chính sách chiếm đóng của Tướng MacArthur sẽ “làm dễ dàng
9



Hiến pháp quy đònh mọi công dân Nhật được đảm bảo mọi quyền tự do cơ bản của con
người: tự do lập nghiệp, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, đảng phái, đoàn thể...
Quyền bình đẳng giữa các công dân về quyền lợi và nghóa vụ được ghi nhận; những di sản
của quá khứ về sự phân biệt đẳng cấp và phẩm tước bò xóa bỏ. Điều mới lạ nhất đối với
người Nhật là việc phụ nữ được bình đẳng với nam giới về mọi phương diện. Chính điều này
đã làm thay đổi hoàn toàn thân phận của phụ nữ Nhật so với trước kia.
Để đoạn tuyệt với truyền thống quân phiệt và hiếu chiến, điều 9 của Hiến pháp quy đònh
“dân tộc Nhật vónh viễn từ bỏ chiến tranh như là một quyền tối thượng của quốc gia, từ bỏ sự đe
dọa hoặc sử dụng sức mạnh trong việc giải quyết các tranh chấp quốc tế. Để đạt mục tiêu vừa
(10)

Truyền thuyết Nhật Bản cho rằng Nhật hoàng là con của Nữ thần Mặt trời nên ngài được gọi là Thiên hoàng. Từ
đó Hiến pháp Meiji khẳng đònh: Thiên hoàng là thần thánh nắm “quyền uy tối thượng và bất khả xâm phạm”. Quan
điểm này đặt Nhật hoàng đứng trên dân tộc và ngoài Hiến pháp, khiến cho toàn dân không có quyền tự do dân chủ,
mà chỉ một lòng sùng bái và phục tùng ý chỉ của Thiên hoàng và của các cấp lãnh đạo được coi là đại diện cho
Thiên Hoàng. Hiến pháp năm 1946 xóa bỏ quan điểm này để xây dựng tư tưởng dân chủ, khẳng đònh chủ quyền của
đất nước thuộc về nhân dân, đưa Nhật hoàng vào trong dân tộc và Hiến pháp.

10


nêu, Nhật sẽ không bao giờ duy trì các lực lượng hải, lục, không quân cũng như các tiềm lực
chiến tranh khác” [Dẫn lại theo 9, tr.432; 12, tr.447]. Điều này đã loại bỏ chiến tranh xâm lược
ra khỏi đời sống chính trò của người Nhật, cấm xây dựng quân đội chính quy, nhưng không cấm
đoán họ xây dựng một lực lượng quân sự có giới hạn để phòng vệ đất nước.
Hiến pháp 1946 là một bước tiến dài so với Hiến pháp Meiji trên con đường dân chủ hóa của
Nhật. Trên cơ sở Hiến pháp, một loạt các đạo luật được ban hành nhằm mục đích ổn đònh xã hội
và phát triển kinh tế: luật Thuế, luật Tài chính, Luật Nghiệp đoàn, luật Giáo dục...
Cuộc cải cách tuy do người Mó áp đặt nhưng đã thành công vì được đa số người Nhật hưởng
ứng. Chế độ dân chủ được thể hiện rõ ràng nhất trong đời sống chính trò, với sự tham gia của tất

quốc do Nhật dựng lên.
Bên cạnh Tòa án Quốc tế Tokyo, các Tòa án Quân sự của Hoa Kì và các nước Đồng minh
khác cũng xét xử nhiều can phạm, trong đó một số tướng lónh và só quan Nhật từng gây nhiều tội
ác như tướng Yamashita (tư lệnh quân đội Nhật ở Malaya và Singapore), tướng Homma (tư lệnh
quân đội Nhật ở Philippines)... đã bò xử tử hình.
11


Nhận đònh về Tòa án Quốc tế Tokyo, có ý kiến cho rằng một số tội phạm quan trọng đã
không bò truy tố, hoặc được đưa vào danh sách tội phạm không quan trọng để xét xử sau với
mức án nhẹ. Ngược lại, một số người nhận thấy Tòa án này có yếu tố kì thò chủng tộc châu
Á, nên các tội phạm Nhật đã bò kết án nặng hơn các phạm nhân Đức cùng tội ở Tòa án
Nuremberg. Có lẽ do yếu tố này mà vò bồi thẩm đoàn của châu Á đã bỏ phiếu tha bổng tất
cả bò can. Dư luận chung ở Nhật vẫn cho rằng việc xét xử này đơn giản chỉ là sự trả thù của
người chiến thắng đối với kẻ chiến bại. Dù sao đi nữa, những kẻ gây tội ác đã bò trừng phạt
nghiêm khắc.
4. Vấn đề hòa ước với Nhật
Cũng như đối với Đức và các chư hầu của Đức, việc kí kết hòa ước với Nhật Bản là nhiệm
vụ trọng yếu để đưa nước này trở lại trạng thái bình thường trong cộng đồng quốc tế.
Mùa thu năm 1947, Chính phủ Mó nhận thấy đã đến lúc có thể trao trả lại chủ quyền cho
Nhật Bản để thiết lập mối quan hệ tốt với nước này, nên đã quyết đònh xúc tiến việc kí hòa ước
với Nhật. Ngày 12.8, Mó chính thức gửi công hàm cho Liên Xô và các nước Đồng minh khác về
vấn đề này, trong đó đưa ra một số nội dung cho bản hòa ước sẽ được kí với Nhật trong tương lai
(phi quân sự hóa Nhật Bản trong 25 năm, bồi thường chiến tranh cho Đồng minh theo kế hoạch
do Mó gợi ý)... Ngoại trừ Anh, phản ứng của các nước khác nhìn chung là không thuận lợi.
Nước Anh cùng các nước trong khối Liên hiệp Anh đã họp tại Canberra (thủ đô Australia)
để bàn về vấn đề này. Hội nghò tán thành việc kí hòa ước với Nhật càng sớm càng tốt, và đề
nghò rằng các điều khoản của hòa ước sẽ do 11 nước thành viên của Ủy ban Viễn Đông xây
dựng và thông qua với đa số phiếu là 2/3 mà không áp dụng quyền phủ quyết.
Chính phủ Trung Hoa Dân quốc không tán thành việc kí hòa ước với Nhật trong thời điểm

dụng 40 vạn quân tinh nhuệ bao vây căn cứ Thiểm – Cam – Ninh và đã tổ chức một số cuộc
đột kích vào các căn cứ hay phục kích đội hình của các đạo quân cộng sản. Về phần mình,
Mao Trạch Đông cũng hành xử tương tự khi ngay trong năm 1937 đã xác đònh “chính sách cố
đònh của chúng ta là dành 70% lực lượng để phát triển, 20% để đối phó với QDĐ và 10% để
chống Nhật” [Dẫn lại theo 20, tr.92].
1. Bối cảnh lòch sử
Khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, vùng chiếm đóng của Nhật trở thành một “khoảng trống
quyền lực” mà cả hai phe Quốc − Cộng đều muốn lấp đầy. Giữa QDĐ và ĐCS đã diễn ra cuộc
đua tranh ráo riết dưới danh nghóa tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật, nhưng thực chất là để
giành quyền kiểm soát các phần lãnh thổ bò Nhật chiếm đóng. Không quân Mó giúp quân đội của
Chính phủ QDĐ nhanh chóng chuyển từ miền Tây về Nam Kinh, Thượng Hải và một số đô thò
khác. Mó cũng yêu cầu quân Nhật chỉ đầu hàng quân QDĐ. Nhờ đó, Chính phủ QDĐ đã kiểm
soát được các vùng Hoa Nam, Hoa Trung và Hoa Đông. Còn tại Hoa Bắc, ĐCS đã kiểm soát
được phần lớn đất đai, nhưng quân đội QDĐ được không quân Mó trợ giúp đã chiếm giữ Bắc
Bình (11), cùng một số đô thò khác và các đường giao thông quan trọng. Khoảng 10 vạn quân Mó
cùng được đổ bộ vào vùng này và chiếm đóng các đô thò lớn như Thanh Đảo, Thiên Tân, Bắc
Bình... để giải giáp quân Nhật và cũng để làm hậu thuẫn cho QDĐ.
Riêng ở Mãn Châu (Đông Bắc Trung Quốc) tình hình diễn ra rất phức tạp. Nơi đây hoàn toàn
thuộc quyền chiếm đóng của hơn 1 triệu quân Liên Xô nhằm tước vũ khí 60 vạn binh lính Nhật
thuộc đạo quân Quan Đông cùng mấy chục vạn quân của Chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc.
Hồng quân đã giúp ĐCS Trung Quốc tiến quân vào Mãn Châu và thành lập ở đây những “Chính
phủ nhân dân” đòa phương để kiểm soát vùng này. Trước tình hình đó, Chính phủ QDĐ được Mó
khuyến khích cũng cho quân tiến vào Mãn Châu. Mặc dù Liên Xô không cho họ sử dụng cảng
Đại Liên và đường sắt Trường Xuân, quân QDĐ cũng tìm được cách tiến vào Nam Mãn Châu
mà không bò ngăn cản. Lúc này, chính Hồng quân trở thành lực lượng ngăn cách sự đụng độ giữa
quân của ĐCS (ở miền Bắc) và quân QDĐ (ở miền Nam Mãn Châu).
Tuy vậy, ở nhiều nơi khác trong nước đã diễn ra không ít cuộc xung đột vũ trang giữa hai phe
Quốc - Cộng.
Nguy cơ bùng nổ nội chiến đã khiến dư luận trong nước rất lo lắng. Sau 8 năm chiến tranh
ròng rã với bao thiệt hại về người và của, nhân dân rất tha thiết với hoà bình và nhiều người

– Hiệp đònh về Liên minh Xô-Trung chống Nhật: khẳng đònh sự liên minh giữa hai nước
trong cuộc chiến tranh chống Nhật (khi ấy, Liên Xô đã từ bỏ Hiệp đònh trung lập với Nhật).
– Hiệp đònh về tuyến đường sắt Trường Xuân (nối Mãn Châu với Lữ Thuận): tuyến
đường sắt này thuộc chủ quyền Trung Quốc, do một công ti Xô-Trung quản lí và chủ tòch
công ti là người Trung Quốc.
– Hai hiệp đònh về các hải cảng Lữ Thuận và Đại Liên: Lữ Thuận được dùng làm quân
cảng chung của hai nước Xô-Trung. Trung Quốc phụ trách phần quản líù dân sự, Liên Xô phụ
trách việc phòng thủ quân sự. Đại Liên là cảng tự do đối với mọi nước, riêng Liên Xô được
miễn thuế quan và được tham gia quản lí cảng này.
− Hiệp đònh về vấn đề quân đội Liên Xô chiếm đóng Mãn Châu (tức 3 tỉnh Đông Bắc
Trung Quốc). Kèm theo Hiệp đònh, hai bên trao đổi công hàm khẳng đònh Mãn Châu và Tân
Cương thuộc chủ quyền Trung Quốc, còn Ngoại Mông (tức nước Cộng hòa Nhân dân Mông
Cổ) sẽ được Trung Quốc thừa nhận độc lập nếu nhân dân ở đây bày tỏ nguyện vọng độc lập
qua một cuộc trưng cầu dân ý.
Các hiệp đònh trên là sự cụ thể hóa và chính thức xác nhận từ phía Trung Quốc đối với
những quyền lợi mà Liên Xô được hưởng theo các quyết nghò ở Yalta. Chúng còn giúp tháo
gỡ một số vướng mắc, tạo điều kiện để thiết lập mối quan hệ hữu nghò giữa hai nước sau
chiến tranh.
Trong lúc đó, những quyền lợi mà Liên Xô có thể nhận được từ một Trung Quốc dưới
chính thể cộng sản vẫn chưa được đònh hình. Đã vậy, quan hệ giữa Moskva và ban lãnh đạo
đảng Cộng sản Trung Quốc đứng đầu là Mao Trạch Đông lại không hứa hẹn một triển vọng
tốt đẹp.
Trong khoảng thời gian từ cuối thập niên 1920 cho đến đầu thập niên 1930, đảng Cộng
sản Trung Quốc đã trải qua cuộc khủng hoảng nghiêm trọng cả về đường lối lãnh đạo cách
mạng và nhân sự trong ban lãnh đạo, sau thất bại của một loạt cuộc khởi nghóa. Kết thúc
cuộc khủng hoảng này là sự ra đời một ban lãnh đạo mới được gọi là “quốc tế chủ nghóa” do
Vương Minh − một người được đào tạo ở Liên Xô và có những mối quan hệ chặt chẽ với
Quốc tế Cộng sản (Komintern) − cầm đầu.
14


Cảm thấy bất lực trong nỗ lực hoà giải hai phe Quốc - Cộng, đại sứ P. Hurley xin từ chức.
Ngày 27.11.1945, tổng thống Truman đã quyết đònh cử tướng George C. Marshall, nguyên tham
mưu trưởng lục quân, làm đại diện riêng của ông ở Trung Quốc với cấp hàm đại sứ.
3. Sứ mệnh của George C. Marshall
a. Chính sách hoà giải hai phe Quốc - Cộng của Mó
Trong chỉ thò giao cho Marshall ngày 15.12 và trong thông điệp của tổng thống Mó về chính
sách đối với Trung Quốc được công bố ngày hôm sau − 16.12, Truman nói rằng một “nước Trung
Hoa mạnh, thống nhất và dân chủ” là điều cực kì quan trọng đối với hoà bình thế giới, rằng “sẽ
là quyền lợi thiết thân nhất của Hoa Kì và của toàn thể Liên Hiệp Quốc, nếu nhân dân Trung
Quốc không bỏ qua một cơ hội nào nhằm điều giải các bất đồng nội bộ của họ bằng những
phương pháp đàm phán hoà bình”. Chính phủ Hoa Kì chủ trương công việc của Trung Quốc phải
do người Trung Quốc tự giải quyết và cam kết rằng Mó sẽ không can thiệp quân sự để tác động
đến cuộc nội chiến ở xứ này, rằng sự hiện diện của quân Mó ở Bắc Trung Quốc là nhằm giải
(12)

Một tác giả người Mó còn khẳng đònh: “Stalin báo cho đảng Cộng sản Trung Quốc biết rằng cuộc nổi dậy của họ
“không có tiền đồ và họ nên gia nhập chính phủ Tưởng Giới Thạch và giải tán quân đội của họ” [54, tr.195; xem
thêm 44,tr.269].

15


giáp và di tản số quân Nhật đầu hàng còn ở trên đất Trung Quốc. Tổng thống Truman thúc giục
triệu tập hội nghò toàn quốc các đảng phái chính ở Trung Quốc để bàn giải giáp cho những vấn
đề của Trung Quốc nhằm chấm dứt tình trạng phân ly không chỉ ở trong nước, mà còn mang lại
sự thống nhất cho đất nước theo những điều kiện cho phép mọi chính đảng lớn có được quyền
đại diện thích đáng trong chính phủ. Điều này tất có nghóa là phải thay đổi chế độ “đỡ đầu chính
trò”(13) mà QDĐ đang theo đuổi và mở rộng cơ sở của chính phủ, triệu tập Quốc hội, xóa bỏ chế
độ cai trò độc đảng (của QDĐ), thành lập chế độ đảng phái đối lập. Truman nhấn mạnh rằng cần
đạt được sự thỏa thuận về việc thống nhất tất cả các lực lượng vũ trang ở Trung Quốc dưới một

quyền hành với những người cộng sản.
Lập trường nêu trên của chính phủ Truman về cơ bản đã nhận được sự tán đồng của hội nghò
bộ trưởng ngoại giao ba nước Liên Xô, Hoa Kì và Anh diễn ra trong tháng 12.1945 ở Moskva.

(13)

Chương trình hành động có tính chất cương lónh của Tôn Dật Tiên dự trù một thời kì ”đỡ đầu chính trò” dưới sự
lãnh đạo của QDĐ như là một sự chuẩn bò cần thiết cho việc thiết lập một chính phủ lập hiến ở Trung Quốc. Như
vậy, QDĐ có trách nhiệm chấm dứt thể chế độc đảng và triệu tập Quốc hội để thông qua hiến pháp và thành lập
một chính phủ mới.

16


Trước hết, các bộ trưởng đã thỏa thuận cần thống nhất và dân chủ hóa Trung Quốc dưới sự lãnh
đạo của chính phủ QDĐ; thứ hai thu hút rộng rãi các thành phần dân chủ vào tất cả các cơ quan
của Chính phủ Quốc dân; thứ ba, đình chỉ nội chiến. Cả ba bộ trưởng “tái xác nhận sự trung
thành với chính sách không can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc”. Bên cạnh đó, hai
bộ trưởng Hoa Kì và Liên Xô đạt được thỏa thuận về “sự cần thiết rút quân lính xôviết và Mó
khỏi Trung Quốc trong thời hạn ngắn nhất; đồng thời hoàn thành các cam kết và trách nhiệm của
họ” [Dẫn lại theo 27, tr.146].
b. Hội nghò Hiệp thương chính trò (tháng 1.1946)
Sức ép quốc tế và phản ứng của dư luận trong nước đã mang lại thành công ban đầu cho đại
sứ Marshall. Ngày 10.1.1946, hai bên Quốc - Cộng kí Hiệp đònh đình chiến được đảm bảo bằng
các đội giám sát ba bên (Mó – QDĐ − ĐCS).
Từ ngày 10 đến ngày 31.1.1946, Hội nghò Hiệp thương chính trò được tổ chức tại Trùng
Khánh với sự tham gia của QDĐ, ĐCS, các đảng phái chính trò khác và những nhân só không
đảng phái. Hội nghò đã thông qua 5 nghò quyết:
- Về tổ chức chính phủ: Cải tổ Chính phủ QDĐ bằng cách mở rộng cho các đảng phái
khác tham gia theo tương quan lực lượng, đảm bảo quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch.

nguy hiểm. Cuối tháng 3, sau khi quân Mó rút khỏi Trung Quốc, Liên Xô tuyên bố rút quân khỏi
Mãn Châu và việc này đã được hoàn tất vào ngày 23.4.1946. Trước khi người lính Hồng quân
cuối cùng rời khỏi Mãn Châu, Bộ Tư lệnh Xô viết đã trao lại cho ĐCS Trung Quốc toàn bộ số vũ
khí và quân trang tước đoạt của Nhật (gồm có 3.700 khẩu pháo và súng cối, 30 vạn súng trường,
14 vạn súng máy, 600 xe tăng, 861 máy bay...), thêm một phần đáng kể vũ khí của Liên Xô;
đồng thời trao lại 75.000 quân của Chính phủ bù nhìn Mãn Châu Quốc trước đây. Số quân này
sau đó được ĐCS Trung Quốc thu nhận vào quân đội của mình [60, tr.527]. Sự giúp đỡ to lớn này
đã làm cho lực lượng vũ trang của ĐCS lớn mạnh vượt bậc để có thể đương đầu với QDĐ.
Cuộc đụng độ lớn đầu tiên giữa hai phe đã diễn ra tại Trường Xuân (1 trong 3 thành phố lớn
nhất Mãn Châu) trong tháng 4. Khi Hồng quân vừa rút khỏi, các đơn vò quân đội của đảng Cộng
sản liền đánh chiếm thành phố này. QDĐ tố cáo ĐCS vi pïhạm Hiệp đònh ngừng bắn, đồng thời
phản công chiếm lại thành phố và đẩy lùi đối phương trên nhiều hướng khác. Theo yêu cầu của
ĐCS, tướng Marshall lại dàn xếp một cuộc ngừng bắn mới, để hai bên quay trở lại bàn đàm phán
từ ngày 7.6.1946. Trong lần đàm phán này, Marshall đã không thể thuyết phục nổi hai bên nhân
nhượng lẫn nhau. QDĐ cho rằng lúc này họ đủ mạnh để đánh bại ĐCS trong một thời gian ngắn
mà không cần quá lệ thuộc vào chính sách của Mó. ĐCS thì không còn chút ảo tưởng nào để thực
hiện chính sách liên hiệp với QDĐ.
Ngày 1.7.1946, với việc quân đội QDĐ tấn công vào các căn cứ đòa của ĐCS ở phía bắc sông
Trường Giang, cuộc nội chiến được coi là chính thức bắt đầu. Hoa Kì vội vã cử tiến só John
Leighton Stuart sang Trung Quốc để giúp tướng Marshall giải quyết vấn đề. Stuart đề nghò dứt
khoát chọn 1 trong 2 giải pháp: hoặc là Hoa Kì giúp đỡ tối đa cho Tưởng Giới Thạch đi đến
thắng lợi cuối cùng, hoặc là hoàn toàn rút khỏi Trung Quốc mà không can dự vào cuộc nội chiến
ở đây. Tuy nhiên, Chính phủ Mó bác bỏ đề nghò này và chọn giải pháp tiếp tục hòa giải. Để gây
áp lực buộc Tưởng Giới Thạch phải trở lại đàm phán, Mó quyết đònh cấm vận vũ khí với Chính
phủ QDĐ (từ 10.8). Marshall nói thẳng với Tưởng rằng: “Chính phủ (tức Chính phủ Quốc dân
đảng) sẽ mất nhiều, mà không được lợi lộc bao nhiêu từ các cuộc xung đột hiện nay. Chúng có
thể còn đưa đến sự sụp đổ của Chính phủ...” [Dẫn lại theo 19, tr.179]. Tổng thống Truman cũng
cảnh báo với Tưởng rằng: nếu không có một tiến bộ thật sự trong nỗ lực giải quyết hòa bình các
vấn đề nội bộ Trung Quốc, nước Mó buộc phải xem xét lại lập trường của mình trong quan hệ với
Chính phủ QDĐ.

Cuối năm 1948, Đảng Cộng sản đã mở 4 chiến dòch lớn đánh bại quân chủ lực Quốc dân
đảng: chiến dòch Tế Nam (16 – 24.9.1948) tiêu diệt 10 vạn quân, chiến dòch Liêu − Thẩm (12.9 –
2.11) tiêu diệt 47 vạn, chiến dòch Hoài − Hải (7.11.1948 – 10.1.1949) loại khỏi vòng chiến 55 vạn
và chiến dòch Bình − Tân (5.12.1948 – 22.1.1949) loại khỏi vòng chiến 25 vạn quân Quốc dân
đảng. Sau 4 chiến dòch này, các lực lượng tinh nhuệ nhất của Chính phủ QDĐ đã bò đập tan, ĐCS
giành quyền kiểm soát toàn bộ vùng lãnh thổ phía bắc sông Trường Giang, uy hiếp nghiêm trọng
thủ đô Nam Kinh của QDĐ.
Sự suy sụp của Chính phủ QDĐ ở Trung Quốc đã buộc Hoa Kì phải thông qua Đạo luật Viện
trợ Trung Quốc (4.1948), để cung cấp 463 triệu dollar viện trợ của Chính phủ này. Nhưng đại sứ
Mó tại Trung Quốc − Stuart − vẫn cho rằng nếu Hoa Kì “không có sự can thiệp vũ trang trên quy
mô lớn” thì thảm họa quân sự sẽ tiếp tục diễn ra đối với Chính phủ QDĐ. Tháng 11.1948, Tưởng
Giới Thạch đã gửi thư cho tổng thống Truman để yêu cầu Hoa Kì tuyên bố cứng rắn ủng hộ sự
nghiệp của QDĐ, cử các só quan Mó sang trực tiếp chỉ huy các đơn vò quân đội QDĐ dưới danh
nghóa cố vấn quân sự, bổ nhiệm một tướng lãnh cao cấp cầm đầu một phái đoàn đặc biệt của
Hoa Kì ở Trung Quốc.
Tuy nhiên, giữ vững lập trường không can thiệp về quân sự vào Trung Quốc, tổng thống
Truman đã bác bỏ các yêu cầu của Tưởng Giới Thạch, cho rút nhóm só quan Mó ở Đài Loan về
nước.
Không còn con đường nào khác, QDĐ phải tìm cách đàm phán với ĐCS. Tháng 1.1949, thư
đề nghò đàm phán được gửi đi. ĐCS chấp nhận đàm phán với điều kiện: trừng trò bọn tội phạm
chiến tranh (đứng đầu Tưởng Giới Thạch, Tống Tử Văn, Trần Lập Phu...), huỷ bỏ Hiến pháp và
pháp luật của QDĐ, thành lập Chính phủ mới thay cho Chính phủ QDĐ... Thế tức là buộc QĐĐ
phải đầu hàng hoàn toàn.
Ngày 21.1, Tưởng Giới Thạch từ chức tổng thống, đưa Lý Tôn Nhân lên thay với hi vọng
thuyết phục ĐCS giảm nhẹ các điều kiện đàm phán. Không thành công, Chính phủ QDĐ rời
Nam Kinh đi Quảng Châu lánh nạn.
Tháng 4.1949, hai đạo quân của ĐCS do Lưu Bá Thừa và Trần Nghò chỉ huy đã vượt sông
Trường Giang, đánh chiếm Nam Kinh, Thượng Hải rồi truy quét tàn quân QDĐ. Ngày 30.6, trong
bài diễn văn nhan đề “Bàn về chuyên chính dân chủ nhân dân”, Mao Trạch Đông tuyên bố chính
sách đối ngoại trong tương lai của chế độ mới ở Trung Quốc là “Nhất biên đảo” (nghóa là “ngả

II. QUAN HỆ XÔ-MĨ VỀ TRIỀU TIÊN VÀ SỰ THÀNH LẬP HAI NƯỚC TRIỀU TIÊN
Triều Tiên là thuộc đòa của Nhật từ năm 1910 (15) và trở thành căn cứ quan trọng của Nhật
trong chiến tranh thế giới (16). Dưới ách thống trò cực kì tàn bạo của Nhật, nhân dân Triều Tiên
vô cùng khao khát độc lập, và các Hội nghò thượng đỉnh ở Cairo(17), Yalta và Potsdam đều đã
xem xét khả năng trao trả độc lập cho Triều Tiên sau ngày Nhật đầu hàng.
Năm 1951, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã tiến vào Tây Tạng, xác lập chủ quyền của CHND Trung
Hoa tại vùng lãnh thổ này.
(15)
Ngày 29.8.1910, Triều Tiên bò sát nhập vào lãnh thổ Nhật và trở thành tỉnh Chosun.
(16)
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, có đến 6 triệu người Triều Tiên bò buộc phải tham gia chiến đấu bên cạnh
quân đội Nhật. Số người Triều Tiên bò thương vong rất cao: 0,440 triệu người bò tử trận, 1,6 triệu bò thương
[26,tr.1123].
(17)
Tại Hội nghò Cairo (23 − 25.11.1943), tổng thống Hoa Kì F. Roosevelt, thủ tướng Anh W. Churchill và người
đứng đầu Trung Hoa dân quốc Tưởng Giới Thạch đã ra thông báo chung đề ngày 1.12.1943 bày tỏ “sự lưu tâm đối
với tình cảnh nô dòch của người dân Triều Tiên và quyết tâm rằng Triều Tiên sẽ được tự do và độc lập vào lúc thích
hợp” [Dẫn lại theo 7, tr.243; 29, tr.202].
Lúc thích hợp đó là lúc nào? Tại Hội nghò Yalta (4 − 11.2.1945), Roosevelt đã phát biểu với Stalin về khả năng
thiết lập ở Triều Tiên chế độ giám hộ do Hoa Kì, Liên Xô và Trung Quốc cùng đảm trách. Ông xác đònh rõ rằng
đây tuyệt nhiên không phải là chế độ bảo hộ và nói rằng những nước được giao nhiệm vụ bảo trợ vừa nêu có nhiệm
vụ giúp người Triều Tiên để sau khoảng thời gian kéo dài 20 – 30 năm, họ có thể tự cai quản đất nước mình [11,
tr.131]. Còn Tuyên cáo Potsdam đề ngày 26.7.1945 đã khẳng đònh lại nội dung của Tuyên bố Cairo về quyết tâm
của các cường quốc thắng trận là sẽ trao trả độc lập cho Triều Tiên.
(14)

20


Theo đúng quy đònh của Hội nghò Potsdam, Liên Xô đã tiến quân vào Bắc Triều Tiên (cho

Về đường lối thành lập Chính phủ lâm thời, Mó đề nghò tiến hành bầu cử tự do ở mỗi miền để
thành lập các quốc hội lâm thời, và các quốc hội này sẽ cử ra Chính phủ lâm thời của toàn quốc.
Nhưng Liên Xô yêu cầu tổ chức một “Hội nghò Nhân dân” duy nhất cho cả nước, bao gồm các
đảng phái và tổ chức tán thành quyết nghò Moskva, với số lượng thành viên ngang nhau giữa hai
miền Nam − Bắc, để cử ra Chính phủ lâm thời...
Cuộc tranh cãi giữa hai bên Xô - Mó về các vấn đề trên diễn ra gay gắt, kéo dài và không đạt
được thỏa thuận nào. Vì vậy, từ ngày 5.8, UBLH đã đình chỉ hoạt động vô thời hạn. Như thế tức
là chế độ ủy trò của 4 cường quốc ở Triều Tiên chưa thể thiết lập. Thực ra ngay cả trước khi
UBLH hoạt động, mỗi bên Xô − Mó đều đã xúc tiến việc xây dựng mỗi miền theo đường lối
riêng của mình.
Ở miền Bắc, ngay từ tháng 2.1946, Liên Xô đã cho thành lập một chính quyền do đảng Lao
(18)

Dưới ách thống trò của Nhật Bản, đảng Cộng sản Triều Tiên bò đàn áp cực kì tàn bạo, hầu như mất hết các cơ sở
trong nước. Những thành phần cốt cán của Đảng phải lưu vong ở nước ngoài hoặc hoạt động bí mật trên vùng rừng
núi phía Bắc.

21


động (tức đảng Cộng sản được đổi tên ngày 10.10.1045) làm nòng cốt với người đứng đầu là Kim
Nhật Thành (Kim Il Sung). Chính quyền này đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất trong tháng
3(19). Việc quốc hữu hóa công nghiệp cũng được tiến hành để chuẩn bò xây dựng đất nước theo
đường lối kế hoạch hóa.
Ở miền Nam, ngày 14.2, người Mó đỡ đầu cho việc thành lập “Hội đồng đại diện cho nền dân
chủ Triều Tiên”(20) mà người đứng đầu là Lý Thừa Vãn (Syngman Rhee) − một chính khách độc
đoán, bảo thủ 70 tuổi, đã sống 37 năm ở nước Mó. Tướng Hodge và Lý Thừa Vãn khá hợp nhau
về tính cách, và họ không làm gì để cải thiện đời sống cho nhân dân Nam Triều Tiên. “Hội
đồng” của Lý Thừa Vãn được coi là cơ quan tư vấn và chấp hành mệnh lệnh của tư lệnh quân
đội chiếm đóng Mó. Tuy nhiên, ngay cả quyết đònh của tướng Hodge về việc tiến hành cải cách


Tính ra có khoảng 725.000 nông dân không có ruộng được chia phân nửa số đất ở miền Bắc. Hành động này đã
tạo ra chỗ dựa xã hội vững chắc cho chế độ ngay từ đầu.
(20)
Hội đồng này dựa vào các thành phần đòa chủ, tư sản và các phần tử bảo thủ khác, trong lúc những người theo xu
hướng tự do từ chối tham gia.
(21)
Mãi đến năm 1948, tức hai năm sau cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc, chính quyền quân sự Mó mới đem 29
vạn ha đất trước đây thuộc quyền sở hữu của người Nhật ra bán cho tá điền. Và cuộc cải cách đã dừng lại ở đây.
(22)
Riêng Ukraina từ chối tham gia Ủy ban.

22


– Quân đội Mó và quân đội Liên Xô còn được trú đóng tại Triều Tiên 90 ngày sau khi
Chính phủ Triều Tiên được thành lập, với lực lượng cảnh sát có đủ khả năng giữ gìn trật tự trò an.
Ngày 14.11, Ủy ban lâm thời của LHQ về Triều Tiên được chính thức thành lập và bắt đầu
hoạt động. Liên Xô không công nhận ủy ban này và không cho phép nó hoạt động ở Bắc Triều
Tiên. Ủy ban đành phải giới hạn phạm vi hoạt động ở miền Nam, nơi vẫn diễn ra sự chống đối
của những người cộng sản và một số đảng cánh tả. Ngày 10.5.1948, khi sự chống đối tạm lắng
xuống, Ủy ban đã chính thức tổ chức cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội Triều Tiên (nhưng chỉ
trong phạm vi miền Nam). Đảng cánh hữu của Lý Thừa Vãn giành được đa số ghế và đứng ra
thành lập Chính phủ. Ngày 12.7, Hiến pháp nước Cộng hòa Triều Tiên (tức Đại Hàn Dân quốc,
gọi tắt là Hàn Quốc) được thông qua và Lý Thừa Vãn trở thành tổng thống đầu tiên của nước
cộng hòa. Chính phủ Hàn Quốc đóng tại Hán Thành (Seoul), thủ đô lâu đời của nước Triều Tiên,
và tự coi mình là đại diện cho cả nước, nhưng chỉ kiểm soát Nam Triều Tiên với diện tích
98.400km2 và dân số khoảng 25 triệu vào lúc đó.
Ngày 12.12, Đại hội đồng LHQ bằng 41 phiếu thuận, 6 phiếu chống đã thông qua nghò quyết
thừa nhận Chính phủ Lý Thừa Vãn.

Nghóa là hợp pháp và được bầu tự do.
Thêm Canada rút khỏi Ủy ban này.

23


Tháng 12.1948, Liên Xô rút quân khỏi Bắc Triều Tiên sau khi đã trang bò và huấn luyện cho
các lực lượng du kích của đảng Cộng sản trở thành quân đội nhân dân Triều Tiên hùng mạnh.
Cuối tháng 6.1949, Hoa Kì cũng hoàn tất việc rút quân khỏi Nam Triều Tiên sau khi để lại
một phái đoàn quân sự Mó gồm 500 người để giúp huấn luyện cho quân đội Hàn Quốc.
Giống như hai nước Đức, sự thành lập hai nước Triều Tiên là kết quả của hai đường lối trái
ngược nhau giữa Mó và Liên Xô trong việc giải quyết vấn đề Triều Tiên sau chiến tranh. Điều
đó cho thấy sự nhất trí giữa các cường quốc Đồng minh sau chiến tranh không còn nữa, thay vào
đó là sự đối đầu của thế giới “hai cực” mà Triều Tiên cũng là một điểm nóng. Việc thành lập
hai nước Triều Tiên đã biến vó tuyến 38 từ chỗ là ranh giới phân chia khu vực đóng quân giữa
hai cường quốc, thành biên giới giữa hai quốc gia thù nghòch, và thành một trong các trận tuyến
của cuộc Chiến tranh lạnh.

24


Chương II
QUAN HỆ QUỐC TẾ ĐÔNG Á
TRONG CHIẾN TRANH LẠNH
(1950 − 12.1991)
I. CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN (6.1950 – 7.1953)
1. Nguyên nhân
Sau khi hai chính phủ riêng biệt được thành lập ở hai miền Bắc và Nam Triều Tiên, quân đội
Liên Xô và quân đội Hoa Kì đã lần lượt rút về nước trong năm 1949. Từ đây, hai miền Triều
Tiên phát triển theo hai con đường (xã hội chủ nghóa ở miền Bắc và tư bản chủ nghóa ở miền

Bắc Triều Tiên từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Phản ứng của Chính phủ Bình Nhưỡng có
thực là chỉ gồm toàn những nỗ lực hướng đến việc giải quyết tình trạng chia cắt đất nước và
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status