Quan hệ Hoa kỳ - Trung quốc sau sự kiện 11- 9-2001 và tác động đến quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
∞∞

Bùi Thị Bích Hường QUAN HỆ HOA KỲ - TRUNG QUỐC SAU SỰ KIỆN
11/9/2001 VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ QUỐC TẾ Ở
ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

3

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8

CHƯƠNG 1 12

QUAN HỆ HOA KỲ - TRUNG QUỐC SAU SỰ KIỆN 11/9/2001: BỐI CẢNH
QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU PHÁT TRIỂN 12

1.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 12

1.1.1 Sự biến đổi cục diện thế giới sau Chiến tranh Lạnh 12

1.1.2 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ 12

1.1.3 Quá trình toàn cầu hoá, kinh tế tri thức 13

1.1.4 Đặc điểm tình hình khu vực Đông Nam Á 15

1.2. Yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Hoa Kỳ và Trung Quốc 17

1.2.1 Với Hoa Kỳ 17

1.2.2 Với Trung Quốc 22

1.3 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và Trung Quốc 27


2.3.2 Hai nước trở thành đồng minh của nhau 76

2.3.3 Hai nước vừa hợp tác vừa cạnh tranh 77

4

CHƯƠNG 3 81

TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ HOA KỲ - TRUNG QUỐC ĐẾN QUAN HỆ
QUỐC TẾ Ở ĐÔNG NAM Á 81

3.1 Tương quan và vị thế quyền lực Hoa Kỳ - Trung Quốc ở Đông Nam Á 82

3.1.1 Về kinh tế 82

3.1.2 Về quân sự 83

3.1.3 Về chính trị - ngoại giao và văn hoá 83

3.2 Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc và tác động đến Đông Nam Á 86

3.2.1 Tác động đến tình hình an ninh – chính trị ở Đông Nam Á 86

3.2.2 Tác động đến quan hệ kinh tế - thương mại ở Đông Nam Á 87

3.3 Đối sách của ASEAN trước chuyển biến quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc 90


Bùi Thị Bích Hường

6

BẢNG KÊ CÁC TỪ VIẾT TẮT

AC
ASEAN Community
Cộng đồng các nước ASEAN
ACFTA
ASEAN-China Free Trade Area
Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc
AEC
ASEAN Economic Community
Cộng đồng kinh tế ASEAN
AEM
ASEAN Economic Ministers
Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN
AIA
ASEAN Investment Area
Khu vực đầu tư ASEAN
AFTA

Asean Free Trade Area
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
AIPO
ASEAN Inter-Parliamentary Organization

Liên minh nghị viện ASEAN
AMM

CHXHCN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
CNTB Chủ nghĩa tư bản
COC
Code of Conduct
Bộ Quy tắc ứng xử ở biển Đông
ĐNA Đông Nam Á
DOC
Conduct of Parties
Tuyên bố quy tắc ứng xử biển Đông
EU
European Union
Liên minh châu Âu
FTA
Free Trade Agreement
Hiệp định thương mại tự do
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm trong nước
HĐBA Hội đồng bảo an
IMF
International Monetary Fund
Quỹ Tiền tệ quốc tế
LHQ Liên Hợp Quốc
MDGs
Millennium Development Goals
Các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ
NATO
North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây dương
PMC

Những chuyển biến này phản ánh lợi ích và ý đồ chiến lược của hai nước đều muốn
lợi dụng cuộc khủng bố vào nước Mỹ để mưu lợi riêng cho mình. Vì vậy, việc nghiên
cứu mối quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc đã và đang diễn biến như thế nào sau sự kiện
11/9/2001 là đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết bởi mối quan hệ này chắc
chắn có tác động đến khu vực Đông Nam Á nói chung, đến Việt Nam nói riêng, với
các mức độ, các tính chất khác nhau trên từng lĩnh vực cụ thể. Từ lý do trên, tác giả
chọn đề tài "Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc sau sự kiện 11/9/2001 và những tác
động đến Quan hệ Quốc tế ở Đông Nam Á" để viết luận văn thạc sỹ chuyên ngành
Quan hệ Quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có khá nhiều công trình trong và ngoài nước đề cập đến các khía cạnh khác
nhau thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, những bài viết về quan hệ Hoa Kỳ - Trung
Quốc trên các lĩnh vực khác nhau, hoặc đề cập một cách tổng thể đến quan hệ của họ.
Đáng chú ý là các cuốn sách: Nước Mỹ nửa thế kỷ - Chính sách đối ngoại của Hoa
Kỳ trong và sau chiến tranh lạnh của Thomas J. McCormick, Nxb Chính trị Quốc gia

9

xuất bản năm 2004; cuốn Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau Chiến tranh Lạnh do
Randall B. Ripley và James M. Lindsay chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản
năm 2002; cuốn Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ - Động cơ của sự lựa chọn trong thế
kỷ XXI của Bruce W. Jentleson, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2004… là
những công trình nghiên cứu sâu sắc về Hoa Kỳ và về các chính sách, các quan hệ
đối ngoại của Hoa Kỳ. Còn những công trình nghiên cứu về Trung Quốc cũng được
đề cập đến trong nhiều ấn phẩm chuyên ngành như các Tạp chí Quan hệ quốc tế hiện
đại; Tạp chí Kinh tế và chính trị thế giới; Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế…
của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, các bài viết về các mối quan hệ quốc tế nói
chung, quan hệ giữa các nước lớn, quan hệ Trung Quốc - Hoa Kỳ nói riêng.
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu QHQT trong các ấn phẩm chuyên ngành như
Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế của Bộ Ngoại giao; các Tạp chí của Viện Khoa học xã

Nghiên cứu quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc sau sự kiện 11/9/2001 đến 2011
trên một số lĩnh vực chủ yếu kinh tế - chính trị - an ninh…
4.2 Về thời gian:
Trọng tâm nghiên cứu về quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc từ năm 2001 đến nay
(2011).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận Marxist về thời đại và
quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc về hoà bình và cùng tồn tại hoà bình giữa các
nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau, về vấn đề lợi ích quốc gia dân tộc trong
QHQT. Các quan điểm của ĐCS Việt Nam đánh giá về tình hình thế giới và khu vực,
về cục diện QHQT, về xu hướng vận động và phát triển của thời đại.
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là lịch sử, logic, dự báo, phân tích và tổng
hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh…
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trên cơ sở phân tích về quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc từ sau sự kiện 11/9,
đưa ra những dự báo về chiều hướng vận động của quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc và
những tác động của nó đối với quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á.
7. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và
giảng dạy những nội dung về quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc và đường lối đối ngoại
của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

11
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung
nghiên cứu của đề tài bao gồm 3 chương sau:
Chương 1: Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc sau sự kiện 11/9/2001: Bối cảnh
quốc tế và yêu cầu phát triển.

hệ của từng quốc gia và thậm chí là cả một khu vực. Quan hệ Hoa Kỳ - Trung Quốc
và những tác động đến quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á là một ví dụ.
1.1.2 Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
Những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thế giới lại một lần nữa bước vào
kỷ nguyên của cuộc Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại mà đặc trưng của nó
là làm xuất hiện và phát triển bùng nổ công nghệ cao (với bốn trụ cột là công nghệ
vật liệu, công nghệ năng lượng, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin). Các
công nghệ này không những đã tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến sự phát triển kinh tế
– xã hội của toàn thế giới mà còn làm thay đổi một cách cơ bản lực lượng sản xuất,
thậm chí cả các quan hệ xã hội và quan hệ quốc tế.

13
Trong lĩnh vực kinh tế, do tác động của cách mạng khoa học và công nghệ,
tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2000 đã vượt quá mức tăng trưởng kinh tế của toàn
bộ thế kỷ XIX, hàng hoá và dịch vụ trên toàn cầu tăng 7 lần kể từ năm 1950, là con số
kỷ lục so với bất kỳ thời kỳ nào trước đây. Chỉ riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, mức
tăng sản lượng cây lương thực từ 1,1 tấn/ha (năm 1950) lên 2,8 tấn/ha (năm 2000) đã
vượt quá con số mà loài người đã từng đạt được qua suốt 11.000 năm lịch sử.
Dưới sự tác động của sự phát triển KH&CN, tốc độ thay đổi hiện nay nhanh
tới mức đang làm lịch sử tăng tốc độ, đã khiến các quốc gia và các tổ chức và định
chế quốc tế lớn khó có thể quản lý chúng một cách hiệu quả. Khi sự thay đổi diễn ra
với tốc độ nhanh hơn, con người và xã hội sẽ chuyển từ tình trạng ít có biến động
trước đây sang một tình thế liên tục bị xáo trộn. Tình trạng xáo trộn này không phải
chỉ để đối phó với bản thân sự tăng trưởng, mà còn với những hậu quả do sự tăng
trưởng đó gây ra. Một câu hỏi trọng yếu đặt ra là, liệu sự thay đổi đang ngày càng
tăng nhanh này, mà hiện đã trở thành một đặc trưng của thời đại, đã bắt đầu vượt quá
khả năng mà các quốc gia và các tổ chức và định chế quốc tế có thể đương đầu hay
chưa? Dù thế nào đi chăng nữa thì sự thay đổi chắc chắn sẽ là một điều đặc biệt khó
khăn đối với những quốc gia nào, tổ chức và định chế quốc tế nào đang phải đối phó
với những vấn đề về quan hệ quốc tế, hoặc các vấn đề có tính toàn cầu mà cần phải

gia trên thế giới.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu trong lịch sử loài người. Toàn cầu hoá đem
thế giới lại gần hơn thông qua việc trao đổi hàng hoá và các sản phẩm, thông tin, kiến
thức và văn hóa. Thực tế dấu hiệu toàn cầu hoá đã xuất hiện từ khi loài người bắt đầu
quá trình phát triển kinh tế, khi người ta mang hàng hoá từ làng này bán sang làng
khác, nước này sang nước khác. Nhưng trong suốt vài thập kỷ qua, tốc độ hội nhập
toàn cầu đã trở nên nhanh và sâu sắc hơn rất nhiều do có những tiến bộ chưa từng
thấy trong công nghệ, truyền thông, khoa học, giao thông vận tải và công nghiệp, đặc
biệt là sự phát triển của Internet và sự bùng nổ của các phương tiện thông tin đại
chúng. Loài người hàng ngày được tiếp cận với nhiều nguồn thông tin và do đó, có
thêm nhiều dịp trao đổi tiếp xúc với nhau, đẩy mạnh sự giao lưu về mọi mặt từ kinh
tế mậu dịch, đầu tư, du lịch đến văn hoá nghệ thuật. Làn sóng di dân từ nước này
sang nước khác cũng góp phần mở rộng hơn nữa sự giao lưu trực tiếp và mạnh mẽ cả
về đời sống vật chất và tinh thần của nhiều dân tộc. Dưới tác động của toàn cầu hóa
và tự do hóa thương mại, Trái Đất dường như đang nhỏ lại. Dòng chảy của hàng hóa,
tiền vốn, kỹ thuật, nhân công và kèm theo đấy là cả quyền lực từ nước này xâm nhập
sang nước khác dễ dàng hơn và mức độ ngày càng cao hơn. Không một quốc gia nào
có thể độc lập giải quyết những vấn đề của mình (như phát triển kinh tế, khoa học

15
công nghệ, bảo vệ môi sinh ) và cũng không có sai lầm trên quy mô quốc gia nào
không ảnh hưởng đến đời sống chung của toàn nhân loại. Sự phát triển của khoa học
và kỹ thuật cũng làm chuyển biến các mối quan hệ quốc tế bởi đã đến lúc các quan hệ
quốc tế phát triển tới mức không một quốc gia nào dù lớn hay nhỏ, dù thuộc hệ thống
kinh tế xã hội nào có thể tồn tại và phát triển mà không khỏi phụ thuộc vào nhau.
Tuy nhiên, cũng phải nói thêm rằng, quá trình toàn cầu hoá và phát triển tăng
vọt của loài người đã khiến nhân loại phải đương đầu với rất nhiều sự đe doạ và thách
thức. Có thể quan sát thấy tốc độ của lịch sử cũng đang tăng nhanh khi những nhu
cầu tăng vọt của con người chạm vào những giới hạn tự nhiên của Trái đất. Các quốc
gia đang phải mất nhiều thời gian hơn để giải quyết những hậu quả của các vấn đề

kiện thuận lợi để đẩy mạnh hợp tác vì mục tiêu phát triển. Xu hướng gia tăng cạnh
tranh quyền lực của các nước lớn và sự biến đổi một cách linh hoạt phương thức tập
hợp lực lượng tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương (CA-TBD) hiện nay ảnh hưởng
sâu sắc đến cục diện hợp tác khu vực Đông Nam Á. Tuy chưa xác lập các cơ cấu hợp
tác thể chế hoá cao, mang tính siêu quốc gia giống như mô hình EU, nhưng các nước
ASEAN đã tìm kiếm cho mình nhiều phương thức hợp tác đa dạng trong quy mô toàn
khu vực hay tiểu khu vực, từ song phương đến đa phương.
Đối với các nước ASEAN, duy trì sự ổn định mà trước hết là ổn định chính trị
được ưu tiên hàng đầu. Trong lĩnh vực an ninh chính trị, các nước ASEAN đã ký hiệp
ước tăng cường hợp tác chống khủng bố, được đánh giá là bước đi hướng tới sự liên
kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong khu vực. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần
thứ 17 diễn ra tại Hà Nội, Việt Nam từ ngày 28 – 30/10/2010, với sự tham gia của 18
nhà Lãnh đạo các nước ASEAN và các đối tác, Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Ngoại
trưởng Nga và Mỹ với tư cách là khách mời đặc biệt của hội nghị, các nhà lãnh đạo
ASEAN đã tập trung thảo luận về ba trọng tâm hành động. Thứ nhất, tiếp tục đẩy
nhanh việc xây dựng cộng đồng ASEAN, tăng cường liên kết khu vực và triển khai
hiệu quả hiến chương ASEAN; thứ hai, thống nhất được những quyết định quan trọng
nhằm thúc đẩy và nâng quan hệ với các đối tác lên một tầm cao mới. Từ đó, nhiều kế
hoạch hành động sẽ được thông qua giữa ASEAN với các đối tác cho giai đoạn mới
2011-2015. Thứ ba, bàn thảo và đề ra nhiều biện pháp hợp tác nhằm nâng cao năng
lực ứng phó với các thách thức đang nổi lên như phục hồi và phát triển bền vững sau
khủng hoảng, ứng phó biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, suy thoái môi trường.
Kết quả hội nghị ASEAN 17 được xem là một sự kiện mang tính bước ngoặt
trong việc chuyển ASEAN thành một tổ chức thực sự, gắn kết hơn, hoạt động hữu
hiệu hơn theo một khung quy tắc đã được xác lập. Hơn nữa, chính sự hợp tác có hiệu
quả giữa ASEAN với các bên đối tác sẽ góp phần tạo dựng hoà bình, ổn định vững

17
chắc cho khu vực. Nhờ vậy, các nước ở đây đã đạt được nhiều thành tựu khả quan về
phát triển kinh tế - xã hội cũng như giữ vững an ninh chính trị. Bằng nỗ lực tập thể,


18
chính trị, quân sự và kinh tế, đã tạo điều kiện cho Hoa Kỳ trở thành siêu cường thế
giới duy nhất. Về cơ bản, môi trường quốc tế trở nên thuận lợi hơn cho việc thực hiện
tham vọng lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ. Với ưu thế nổi trội về so sánh lực lượng
trên nhiều mặt, lại được khích lệ bởi thắng lợi trong chiến tranh vùng Vịnh, giới
hoạch định chính sách hy vọng Hoa Kỳ có thể áp đặt ý chí của mình trong việc giải
quyết các vấn đề quốc tế. Dễ dàng nhận thấy rằng, nước Nga đang trong giai đoạn
chuyển đổi khó khăn, phải mất nhiều năm nữa mới có thể thực sự thách thức vị trí của
Mỹ. Trung Quốc tuy đang trên đà phát triển mạnh mẽ nhưng xét về sức mạnh tổng
hợp cũng phải nhiều thập niên nữa mới có thể đối chọi ngang ngửa với Mỹ. Nhật Bản
là trung tâm kinh tế thế giới nhưng vẫn là một cường quốc chưa toàn diện. Liên minh
châu Âu là một trung tâm kinh tế phát triển nhưng đang trên đường trở thành một
thực thể chính trị, an ninh thống nhất còn gặp không ít trắc trở, khó khăn… Trong
tình hình đó, chính quyền Hoa Kỳ nhấn mạnh sự cần thiết phải chớp thời cơ để điều
chỉnh lại chiến lược an ninh quốc gia, xây dựng “trật tự thế giới” sau Chiến tranh
Lạnh.
Trên thực tế, từ sau chiến tranh Lạnh đến những năm cuối cùng của thế kỷ
XX, Hoa Kỳ đã thực sự phát triển toàn diện, dẫn đầu thế giới về hầu hết các lĩnh vực.
Tuy nhiên, những năm đầu thế kỷ XXI, Hoa Kỳ lại đang đứng trước những vấn đề,
những nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia cả từ bên trong lẫn bên ngoài nước. Sự kiện
11/9/2001 đã thực sự giáng vào chính quyền Hoa Kỳ một cú sốc nặng nề. Với tổng
thiệt hại kinh tế của Mỹ và các nước khác lên đến khoảng 40 tỷ USD và gần 3000
người thiệt mạng, sự kiện này đã gây chấn động thị trường toàn cầu của Mỹ và thế
giới. Nhưng không chỉ sự kiện 11/9 làm thức tỉnh cả nước Mỹ về giấc mộng bá quyền
mà những khó khăn về kinh tế do hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới toàn
cầu xảy ra từ cuối năm 2008 đến nay chưa thực sự phục hồi, đang khiến nước Mỹ
đứng trước những thách thức rất lớn cả từ trong nước lẫn dư luận quốc tế.
Ở trong nước, chính quyền Hoa Kỳ phải đối mặt với những chất vấn về các
biện pháp đảm bảo an ninh, về ngân sách quốc phòng đã chi tiêu như thế nào trong

phòng của Hoa Kỳ bị dàn trải, làm giảm khả năng giải quyết các vấn đề chính trị - an
ninh, kinh tế - xã hội đang đặt ra trong nội bộ nước Mỹ và trong quan hệ quốc tế. Hơn
nữa, sự răn đe quân sự của Hoa Kỳ cũng bị thách thức bởi sự phục hồi sức mạnh quân
sự của Nga, sự phát triển nhanh tiềm lực quân sự của Trung Quốc, Ấn Độ và ngay cả
sự nâng cấp sức mạnh quân sự của Nhật Bản, cũng như bị thách thức bởi cuộc chạy
đua vũ trang, nhất là vũ khí hạt nhân của các quốc gia ngang ngạnh thuộc “trục ma
quỷ” như Iran, Bắc Triều Tiên… Trên thực tế Hoa Kỳ đã chưa có một biện pháp nào

20
tỏ ra hữu hiệu nếu như không muốn nói là bất lực trước các cuộc thử hạt nhân và bắn
tên lửa đạn đạo của Bắc Triều Tiên, Iran và Pakistan, bối rối trước sự phản công quân
sự mạnh mẽ của Nga tại Gruzia. Thêm vào đó, cuộc chiến chống khủng bố do Hoa
Kỳ phát động đã buộc nước này mở thêm nhiều “mặt trận”, trong đó có việc tái lập và
mở thêm một số căn cứ quân sự mới tại Đông Nam Á, Trung Á, lập mới Bộ chỉ huy
quân sự châu Phi, cho hoạt động trở lại Hạm đội IV ở vùng biển Caribe thuộc châu
Mỹ - Latin… Cái giá phải trả không chỉ là hao tốn tiền bạc mà còn làm cho Hoa Kỳ,
từ nước hoà bình trở thành đối tượng bị nhiều người lên án và là mục tiêu tấn công
của nhiều thế lực cũng như đối thủ cạnh tranh. Cũng chính sự sa lầy của chính quyền
Bush trong cuộc chiến ở Iraq đã là nguyên nhân chủ yếu làm cho Đảng Cộng hoà thất
bại trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 2008. Tuy Đảng Dân chủ của Tổng thống
Obama lên nắm quyền từ đầu năm 2009 nhưng vẫn không làm giảm đi những bất
đồng trong chính giới về vai trò, vị thế quốc tế của Mỹ, về định hướng chiến lược
toàn cầu của Mỹ, quay về chủ nghĩa biệt lập hay tiếp tục theo đuổi chủ nghĩa mới? Xã
hội Mỹ trở nên thiếu thống nhất hơn, uy tín của chính phủ và của cá nhân Tổng thống
mới cầm quyền là Obama vẫn chưa thể được cải thiện, chưa thể mang lại cho người
dân Mỹ những niềm tin và niềm tự hào như trước đây. Thậm chí, nguy cơ khủng bố
vẫn luôn là nỗi ám ảnh với nhân dân Mỹ.
Về chính trị, trên trường quốc tế, cũng có một loạt các nhân tố đang tác động,
cản trở hoặc gây khó khăn cho việc thực hiện chiến lược “lãnh đạo thế giới” của Mỹ.
Không khí chống Mỹ tiếp tục tăng lên ở nhiều nơi - nhất là trong thế giới Hồi giáo.

Kỳ đã và đang không thể thắng; song cũng không ai muốn thấy một Iraq đổ vỡ, trở
thành cái nôi của những hỗn loạn mới bất tận tầm cỡ toàn cầu; cũng không nước nào
kể cả các cường quốc - muốn Mỹ chịu thất bại hoàn toàn. Nói một cách khác, thế giới
chưa sẵn sàng cho một trật tự mới không có siêu cường Mỹ. Hội nghị các ngoại
trưởng Mỹ và các nước khu vực Trung Đông họp đầu tháng 5/2007 tại Sharm el-
Sheikh (Ai Cập) là một biểu hiện cho trạng thái nghịch lý này. Mục đích chính của
hội nghị là hỗ trợ Iraq, song thực chất là thăm dò và tạo ra khả năng các nước láng
giềng - trước hết là Iran và Syri - sẽ cùng phối hợp với các nước Arab và Mỹ giải
quyết vấn đề Iraq, có sự tham gia của những nước hữu quan khác. Nghĩa là trên thực
tế họ đang tìm cách tránh cho Mỹ một thất bại tuyệt đối.
Về lĩnh vực khoa học, thời chiến tranh Lạnh, tiến độ khoa học kỹ thuật và
công nghệ Hoa Kỳ đi trước nhiều nước phát triển 30 – 40 năm, nhưng ngày nay,
khoảng cách này chỉ còn khoảng 20 năm, thậm chí có thể ngắn hơn như những tiến
bộ mới của Trung Quốc trong công nghệ vũ trụ.

1
Theo hiệp ước này, đến cuối năm 2011, Hoa Kỳ phải rút hết quân khỏi Iraq.

22
Tất cả tình hình trong nước và quốc tế kể trên đã tác động tới việc hoạch định,
thực thi, điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Mỹ hiện nay. Yêu cầu củng cố vị trí siêu
cường trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá trở thành đòi hỏi bức
bách nhất, là ưu tiên số một và là nhân tố hàng đầu chi phối chiến lược, chính sách
đối ngoại Hoa Kỳ.
1.2.2 Với Trung Quốc
Kể từ năm 1978 đến nay, thực lực của Trung Quốc đã có sự thay đổi rất nhanh.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, đứng trước vực thẳm của khủng hoảng chính trị - xã
hội, sau gần ba thập niên cải cách, mở cửa, sức mạnh từng mặt nói riêng, sức mạnh
quốc gia tổng hợp nói chung của Trung Quốc đã được nâng lên tầm cao mới về chất.
Về kinh tế, hơn 20 năm nay, nền kinh tế Trung Quốc luôn đạt mức tăng trưởng

Một trong các kênh đầu tư của Trung Quốc ra nước ngoài là dùng vốn mua lại
các công ty hàng đầu thế giới, nhất là trong lĩnh vực năng lượng và khoáng sản ở các
nước, khu vực giàu tài nguyên như Australia, châu Phi, các nước Trung Á, Trung Cận
Đông và khu vực Đông Nam Á. Không chỉ đầu tư ra nước ngoài, Trung Quốc cũng là
nước tiếp nhận lượng đầu tư nước ngoài cao nhất thế giới. Với số vốn FDI khá khiêm
tốn năm 1983 là 916 triệu USD thì đến năm 2008 đạt mức kỷ lục trên 863 tỷ USD,
tăng bình quân hàng năm trên 20%. Điều này biến Trung Quốc thành “công xưởng
của thế giới” giống như nước Anh hồi thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII hay thị trường
hấp dẫn đầu tư như Hoa Kỳ thế kỷ XIX. Hiện nay Trung Quốc đã đứng trong hàng
ngũ các nước đứng đầu thế giới về sản xuất thép, than đá, xi măng, máy thu hình,
máy tính cá nhân, điện thoại di động, đồng hồ, xe đạp và đang tiến tới chỉ số tuyệt đối
về ô tô, đồng thời là nước đứng đầu thế giới về sản xuất bông, tơ tằm nguyên liệu, các
cây cho dầu, thịt, sữa và trứng chiếm tới 20% sản lượng ngũ cốc của cả thế giới. Theo
số liệu thống kê của WTO, sản phẩm mang nhãn hiệu “Made in China” trong thập
niên đầu thế kỷ XXI chiếm 1/7 hàng hoá trên thế giới (trong đó có 70% đồ chơi, 55%
máy ảnh, 29% máy thu hình, 24% máy giặt và 16% tủ lạnh bán ra của thế giới) và
đóng góp trên 15% tăng trưởng của thế giới trong những năm gần đây. Điều là hoàn
toàn trái ngược với một nước Trung Hoa nghèo nàn, lạc hậu đối với thế giới cách đây
khoảng 20 năm trước.
Nói về tiềm lực kinh tế của Trung Quốc cần phải cộng thêm Ma Cao và Hồng
Kông, đặc biệt là Hồng Kông, vốn được Đặng Tiểu Bình coi là “con gà đẻ trứng
vàng”. Sau khi sáp nhập hai vùng lãnh thổ này vào Trung Hoa đại lục, tổng GDP của
Trung Quốc đã tăng thêm 20%, giá trị xuất khẩu tăng thêm 40%. Ngoài ra, phải tính
đến một cộng đồng người Hoa rất đông đảo ở nước ngoài (khoảng 100 triệu người)
với khá nhiều tỷ phú, nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực khác

1
Nguồn: Trung Quốc tích cực “thâu tóm” nguồn tài nguyên thế giới,
http://petrovietnam.info/energy/index.php?/trung-quoc-tich-cuc-thau-tom-nguon-tai-nguyen-the-gioi.vietnamep


. Hiện
nay, Trung Quốc đã làm chủ được công nghệ chế tạo máy bay hiện đại như Su-27, 30
và 34, tên lửa phòng không S-300 và đang đóng tàu sân bay (theo kế hoạch đến năm
2015, ít nhất Trung Quốc có hai tàu sân bay) và cũng là nước có nhiều tàu ngầm

1
Nguồn: Trung Quốc trên đường vươn tới siêu cường, http://vnexpress.net/gl/the-gioi/phan-
tich/2009/06/3ba10269/
2
Nguồn: Trung Quốc bạo chi ngân sách quốc phòng cho mục tiêu mới, http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/
3
“Sách trắng” dày 105 trang, trong đó nhấn mạnh đến lý do tăng ngân sách quốc phòng, đó là phản ứng lại
“Mỹ tăng cường sự chú ý có tính chiến lược can thiệp của Mỹ vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương , củng
cố hơn nữa liên minh quân sự, điều chỉnh việc triển khai quân, tăng khả năng quân sự và tiếp tục bán vũ khí
cho Đài Loan”

25
nguyên tử và tên lửa đạn đạo nhất ở châu Á
1
. Trước việc Hoa Kỳ tiếp tục bán vũ khí
cho Đài Loan, ngày 7/01/2010 Trung Quốc đã phóng thử thành công tên lửa đánh
chặn tầm trung bên trong lãnh thổ của mình như một lời cảnh báo. Trung Quốc cũng
đang tập trung phát triển vũ khí chiến lược và thực hiện chiến lược tiến ra biển Đông,
thường được gọi là “phát triển hải quân biển xanh”. Việc Trung Quốc điều tàu Khu
trục hạm tới vùng biển Somali cuối năm 2008, điều tàu chiến lớn chặn tàu do thám
Mỹ tại biển Đông tháng 3 và 6/2009, phô diễn các tàu ngầm nguyên tử và các chiến
hạm lớn, lập căn cứ quân sự khổng lồ tại đảo Hải Nam và lên kế hoạch xây dựng căn
cứ quân sự tại các vùng biển xa, trong đó có khu vực biển Đông, không chỉ thể hiện
sự trưởng thành nhanh chóng cả về quy mô và chất lượng của lực lượng hải quân
nước này mà còn chứng tỏ quyết tâm trở thành cường quốc hải dương trong tương lai


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status