Tổng quan chung về Chính sách chống bán phá giá của Hoa Kỳ
1. Bán phá giá (dumping) và hành vi chống bán phá giá (anti-dumping):
- Bán phá giá (dumping)
Bán phá giá theo qui định khoản 800-801, chương 463 thuộc bộ Luật
Doanh Thu 1916 của Mỹ, được định nghĩa là hành vi nhập khẩu, hỗ trợ việc
nhập khẩu, bán hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Hoa Kì tại mức giá thấp
hơn đáng kể so với giá trị thực hoặc giá bán buôn của hàng hóa đó, tính tại
thời điểm xuất khẩu vào thị trường HOA Kỳ, hoặc tại thị trường chính của
nước sản xuất hoặc tại một nước thứ ba cũng nhập khẩu hàng hóa đó với điều
kiện, hành vi nói trên được thực hiện nhằm phá hủy hoặc phương hại một
ngành sản xuất của HOA Kỳ hoặc ngăn cản việc thành lập một ngành sản
xuất ở HOA Kỳ hoặc giành vị trí độc quyền buôn bán hàng hóa đó ở HOA
Kỳ.
- Các biện pháp chống bán phá giá (Anti-dumping) (AD)
Trong WTO, bán phá giá được xem là “hành vi cạnh tranh không lành
mạnh” của các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài đối với ngành sản xuất nội
địa nước nhập khẩu, nên để bảo vệ họ, chính quyền nước này có thể phản
công, thường là qua biện pháp đánh thuế, một loại thuế đặc biệt chỉ áp dụng
cho nước xuất khẩu món hàng bị coi là bán phá giá, hầu lập lại thế quân bình
trong cạnh tranh, tái lập lại sân chơi bình đẳng. Thuế ấy gọi là thuế chống bán
phá giá.Các biện pháp chống bán phá giá như vậy nhằm tái lập trật tự trong
cạnh tranh, đúng với tư duy của chủ nghĩa tự do kinh tế, nhưng cũng là công
cụ bảo vệ ngành sản xuất nội địa đối với hàng nhập.
2. Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp ước AD trong khuôn khổ GATT và
WTO
Hiệp ước AD của WTO có hiệu lực từ ngày 1.1.1995, gồm 3 phần chia
thành 18 điều lệ và hai phụ đính. Những điều lệ quan trọng nhất là Điều 2
(Xác định sự bán phá giá), Điều 3 ( Xác định sự tổn hại), Điều 4 (Định nghĩa
ngành sản xuất nội địa), Điều 5 (Khởi tố và điều tra), Điều 6 (Bằng chứng),
Điều 9 (Ấn định và thu thuế AD) và Điều 11 (Thời gian hiệu lực và việc xem
xét lại các thuế AD và cam kết về giá cả).
giá. Điều 11 qui định là các thuế AD có thể được áp dụng cho đến khi không
còn cần thiết để khắc phục sự bán phá giá đã gây ra tổn hại. Tuy thế, cơ quan
hữu trách phải xem xét lại sự cần thiết ấy, sau một thời gian vừa phải, và bãi
bỏ thuế AD nội trong vòng 5 năm trừ phi khẳng định, sau khi đã xem xét lại
2
tình hình, là làm thế thì sự bán phá giá và tổn hại sẽ tiếp diễn hoặc tái diễn.
3. Chính sách chống bán phá giá của Hoa Kỳ
a, Luật chống bán phá giá:
- Ra đời vào năm 1916
- Cơ quan thực thi: Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) và Uỷ ban Thương
mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC), trong đó Bộ Thương mại là một cơ quan thuộc
nội các của Tổng thống , được điều hành bởi yếu tố chính trị, chịu trách
nhiệm tiến hành điều tra chính thức các vụ việc về chống bán phá giá, trợ
cấp, đồng thời chịu trách nhiệm trong việc tính toán các mức độ phá giá, trợ
cấp khi một vụ kiện bắt đầu, còn Uỷ ban thương mại quốc tế Hoa Kỳ là cơ
quan liên bang bán tư pháp, độc lập, gồm có 6 Uỷ viên, cơ quan này chịu
trách nhiệm xác định liệu hàng hoá nhập khẩu có phải là nguyên nhân gây
thiệt hại cho ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ hay không.
- Điều kiện áp dụng: Luật chống bán phá của Hoa Kỳ quy định thuế
chống bán phá giá được áp dụng trong hai điều kiện sau: (1) Bộ Thương Mại
Hoa Kỳ (US Department of Commerce, viết tắt là DOC) phải xác định hàng
hóa nhập khẩu được bán ở mức “thấp hơn giá trị thông thường”; (2) Ủy Ban
Thương Mại Quốc Tế Hoa Kỳ (US International Trade Commission, viết tắt
là ITC) phải kết luận rằng hàng nhập khẩu “gây tổn hại nghiêm trọng” hoặc
“đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng” cho “ngành công nghiệp nội địa Hoa Kỳ”.
- Tiến độ thời gian thực hiện điều tra chống bán phá giá như sau:
Khởi xướng điều tra: 20 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện
Kết luận sơ bộ của ITC: 45 ngày kể từ ngày nhận đơn kiện
luật của WTO, do đó họ không yêu cầu nước bị kiện phải sửa đổi luật nhưng
vẫn yêu cầu các cơ quan hữu trách phải sửa đổi hay rút lại biện pháp cụ thể
của mình. Và như thế là đủ để bên nguyên coi như thắng kiện.
b, Luật thuế chống bán phá giá
-
Mục đích: nhằm ngăn chặn các nhà xuất khẩu nước ngoài bán phá giá,
tức là bán hàng với giá thấp hơn giá bán tại thị trường trong nước hoặc thấp
hơn chi phí để sản xuất ra sản phẩm đó, do vậy những “thiệt hại đáng kể”
hoặc “đe doạ gây thiệt hại” cho ngành công nghiệp nội địa phải được chỉ ra
trước khi áp dụng thuế chống bán phá giá.
- Điều kiện áp dụng: Thuế chống phá giá được áp dụng khi có đủ hai
4
điều kiện (1) DOC phải xác định hàng nước ngoài đang được bán phá giá
hoặc có thể sẽ được bán phá giá ở thị trường Hoa Kỳ, và (2) USITC phải xác
định hàng nhập khẩu được bán phá giá đang gây thiệt hại vật chất hoặc đe dọa
gây thiệt hại vật chất hoặc ngăn cản hình thành ngành công nghiệp tương tự
tại Hoa Kỳ.
- Thuế chống phá giá được áp dụng đối với hàng nhập khẩu khi nó được
xác định là hàng nước ngoài được bán “phá giá” vào Hoa Kỳ, hoặc sẽ bán phá
giá ở Hoa Kỳ với giá “thấp hơn giá trị thông thường”. Thấp hơn giá trị thông
thường có nghĩa là giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa
đó ở nước xuất xứ hoặc ở nước thứ 3 thay thế thích hợp.
- Các loại thuế AD: có ba loại mức thuế chống bán phá giá, đó là loại
mức thuế được tính toán của các công ty được lựa chọn (mức thuế dành cho
bị đơn bắt buộc); loại mức thuế bình quân gia quyền cho tất cả những doanh
nghiệp chứng minh không có sự kiểm soát của Chính phủ (mức thuế dành cho
việc sử dụng phương pháp này đã tạo ra biên độ phá giá lớn cho sản phẩm,
làm mức thuế bị đội lên, gây thiệt hại các doanh nghiệp xuất khẩu tôm của
Việt Nam. Mức thuế chống bán phá giá của Mỹ đối với hầu hết nhà xuất khẩu
tômViệt Nam được ấn định từ 4,13%- 25,76%. Theo AFP, Ban hội thẩm cho
rằng Mỹ đã “hành động không nhất quán với các điều khoản của Thỏa thuận
chống phá giá và GATT" - những thỏa thuận chính của WTO, và Mỹ nên đưa
các phương pháp tính phù hợp với hai thỏa thuận trên.
Phương pháp zeroing được Bộ Thương mại Mỹ sử dụng áp cho nhiều
loại hàng khác nhau, đã bị nhiều nước chỉ trích, cho rằng không công bằng.
Argentina, Brazil, Canada, Ecuador, Liên minh châu Âu, Nhật, Mexico, Hàn
Quốc và Thái Lan đều đã thắng trong các vụ kiện Mỹ liên quan tới zeroing ở
WTO, và vào tháng 1-2011 Mỹ hứa với các đối tác thương mại là nước này sẽ
thay đổi phương pháp. Tuy nhiên, vào tháng 3-2011 Ủy ban Thương mại
quốc tế Mỹ đã bỏ phiếu tiếp tục thuế nhập khẩu thêm năm năm nữa với tôm
từ Thái Lan - nhà cung cấp chính cho Mỹ, cũng như Trung Quốc, Việt Nam,
Brazil và Ấn Độ.
Trong phán quyết ngày 11-7, WTO cũng ủng hộ khiếu kiện chính thứ
hai của Việt Nam chống lại Mỹ với phán quyết nêu rõ Mỹ sử dụng kết quả
tính theo phương pháp quy về 0 để tính mức thuế suất chung trong các đợt rà
6
soát lần 2 và lần 3 là trái với quy định của WTO. Thuế suất toàn quốc mà Mỹ
và các nước áp đặt đối với các doanh nghiệp của các nước có nền kinh tế phi
thị trường như Việt Nam và Trung Quốc là mức thuế áp đặt chung cho các
doanh nghiệp không đạt các tiêu chuẩn về hoạt động theo kinh tế thị trường
mà các nước đề ra. Mức thuế này thường cao hơn rất nhiều so với cách tính
thông thường theo quy định của WTO, gây thiệt hại các doanh nghiệp xuất
khẩu. Ban hội thẩm cũng kết luận việc Mỹ sử dụng những dữ liệu có sẵn để
tính thuế suất toàn quốc trong các đợt rà soát lần 2 và lần 3 là trái với quy
xuất tại Mỹ; thậm chí nhiều hãng nhập khẩu cá của Mỹ sử dụng nhãn hiệu
"Delta fresh" làm cho người tiêu dùng nhầm tưởng cá được nuôi từ Đồng
bằng sông Mississippi.
“Catfish” là một từ tiếng Anh thông dụng chỉ hàng trăm loại cá. Theo
định nghĩa của từ điển Webster thì catfish là “bất kỳ loại cá nước ngọt nào có
da trơn, có ria gần miệng thuộc bộ Siluriformes”. Như vậy thì rõ ràng cá tra
và basa của Việt Nam là catfish. Cơ quản quản lý Thực phẩm và Dược phẩm
Hoa Kỳ (FDA) đã cho rằng hoàn toàn có thể sử dụng các tên như là “basa
catfish” cho sản phẩm của Việt Nam. Trên tất cả các bao bì của sản phẩm
thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đều ghi rõ dòng chữ tiếng Anh “Product of
Vietnam” hay “Made in Vietnam” và thực hiện việc ghi đầy đủ cả tên khoa
học lẫn tên thương mại theo đúng quy định của FDA. Tháng 5/2002, dự luật
phát triển nông nghiệp được Quốc hội Mỹ đưa ra và Tổng thống Mỹ phê
chuẩn quy định chỉ đặt tên, dán nhãn mác hoặc quảng cáo ''catfish'' cho các
loại cá da trơn họ Ictaluridae. Trong vòng 1-2 tháng sau khi có quy định sử
dụng các nhãn hiệu mới, sản lượng xuất khẩu cá tra và basa đông lạnh sang
Mỹ có giảm do các doanh nghiệp chế biến thủy sản của Việt Nam phải in lại
và thay nhãn hiệu mới nên phải tạm ngưng xuất hàng sang Mỹ.
Vụ tranh chấp tên gọi đã làm cho cá tra và basa trở nên nổi tiếng. Với
nhãn hiệu và chiến lược tiếp thị mới, sản lượng lẫn giá cá tra và basa philê
đông lạnh xuất sang Mỹ đều tăng. Ngày 28 tháng 6 năm 2002, Hiệp Hội chủ
8
trại nuôi cá da trơn Mỹ (CFA) đã đệ đơn kiện một số doanh nghiệp chế biến
thuỷ sản Việt Nam lên Bộ Thương mại Mỹ (DOC) và Ủy Ban Thương Mại
Quốc tế Mỹ (ITC) là các sản phẩm cá tra và basa philê đông lạnh được bán
thấp hơn giá trị hợp lý tại thị trường Mỹ, gây thiệt hại về vật chất cho sản xuất
nội địa. Trong đơn kiện, CFA đưa ra hai đề xuất áp dụng thuế chống phá giá
để DOC xem xét. Nếu Việt Nam được xác định không phải là một nước theo
doanh nghiệp được điều tra với kết quả: Agifish chịu thuế chống phá giá
61,88%, Cataco 41,06%, Nam Việt 53,96% và Vĩnh Hoàn 37,94%. Các doanh
nghiệp tự nguyện trả lời phiếu điều tra (bao gồm Afiex, Cafatex, Công ty xuất
nhập khẩu thủy sản Đà Nẵng, Mekonimex, QVD và Việt Hải) chịu mức thuế
bình quân trọng số là 49,16%. Cá basa và tra philê đông lạnh nhập khẩu từ tất
cả các doanh nghiệp khác của Việt Nam phải chịu thuế suất 63,88%. DOC sau
đó đã hiệu chỉnh lại kết quả tính toán của mình về mức độ bán phá giá, trong
đó thuế đối với Agifish được giảm xuống còn 31,45%; thuế đối với Nam Việt
giảm xuống 38,09%; và do vậy, thuế suất bình quân trọng số chỉ là 36,76%.
Các mức thuế suất khác vẫn được giữ nguyên.
Cuối cùng Uỷ ban thương mại Mỹ (USITC) đã đưa ra phán quyết cuối
cùng về vụ kiện cá basa. Theo đó, cơ quan này đã khẳng định các doanh
nghiệp VN bán cá basa vào thị trường Mỹ thấp hơn giá thành, gây tổn hại
ngành sản xuất cá da trơn của Mỹ và ấn định mức thuế suất bán phá giá rất
cao, từ 36,84 đến 63,88%. Cả 4 thành viên USITC dự họp đều bỏ phiếu thuận
theo đề nghị của Bộ Thương mại Mỹ và khẳng định, các bằng chứng về việc
cá filê đông lạnh của VN được bán phá giá là hợp lý, bất chấp sự phản đối
gay gắt từ các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam, nhiều Thượng nghị sỹ và báo
giới Mỹ.
Sau quá trình khởi kiện mà phần thua lại thuộc về các doanh nghiệp
Việt Nam đã tạo nên một khó khăn lớn. Đây là vụ kiện mang lại nhiều thiệt
hại cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu cá da trơn sang thị trường Hoa
Kỳ của nước ta.
10
So sánh với Vụ kiện Tôm năm 2012, để thấy rõ những bất lợi của các
doanh nghiệp nước ta trong vụ kiện này. Thứ nhất, do sự chuẩn bị không chu
đáo và kỹ lưỡng từ phía ta do đó không tạo được sự chủ động khi đối phó với
các phán quyết của tòa án Hoa Kỳ. Thứ 2, do sự am hiểu chưa đầy đủ về
WTO, khả năng này cũng tăng trưởng theo khả năng xuất khẩu của nước ta.
Hiện Hoa Kỳ là thị trường dẫn đầu trong 7 thị trường xuất khẩu tập trung
hàng hóa của Việt Nam ( Hoa Kỳ, Nhật, TQ, Úc, Sing, Đức, Anh). Các yếu tố
của ngành sản xuất của Việt Nam đc xem là rất dễ rơi vào các vụ khiện phá
giá một phần là do hoặt động sản xuất gia xông, xuất khẩu hàng nông sản thô,
ít qua chế biến còn chiếm tỷ trọng cao, nên giá cả hàng hóa thường rẻ hơn
Việt Nam cũng mất cân đối trên cán cân thương mại ở các thị trường chủ lực,
tại Hoa Kỳ, Việt Nam dáng xuất khẩu gấp 8 lần nhập khẩu.Thống kê kim
ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Hoa
Kỳ giai đoạn 2005 – 2009 (nguồn: Tổng cục hải quan)
Chỉ tiêu
2005
Tổng kim ngạch 5.905
xuất
khẩu
2006
2007
7.829 10.08
hàng
2008
2009
4.300
6.847 8.389
9.233
8.350
12.400
nhập khẩu hàng
hóa của Việt Nam
từ Hoa Kỳ (triệu
usd)
Cán cân thương 5.042
mại hàng hóa của
Việt Nam vs Hoa
Kỳ (xuất khẩunhập khẩu) (triệu
usd)
12
Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong
những năm gần đây bao gồm hàng dệt may, gỗ và sản phẩm từ gỗ, giày dép
các loại, dầu thô, hàng hải sản, máy vi tính sản phẩm linh kiện điện tử…. đây
đồng thời cũng là những mặt hàng có khả năng bị kiện cao nhất, điển hình là
vụ kiện cá da trơn năm 2002, tôm năm 2011.
2. Tránh bị vạ lây trong điều tra chống bán phá giá
Thông thường các bị kiện chống bán phá giá đc tiến hành trong cùng
tình trạng trợ giá xuất khẩu và bán phá giá. Từ năm 2006, EU đã nêu vấn đề
với Việt Nam sau khi nêu vấn đề với Trung Quốc. Từ năm 2008, Mỹ đã dùng
luật lệ này để kiện doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam và đòi trả đũa
bằng thuế nhập nội.
3. Làm gì để phòng tránh và đối phó vs nguy cơ bị kiện
Để phòng tránh nguy cơ bị kiện và đối phó vs các vụ kiện chống bán
phá giá, doanh nghiệp cácn đồng thời thực hiện các biện pháp mang tính
chính sách (để hạn chế, nhận biết, và ứng phó nguy cơ một cách kịp thời) và
các biện pháp kỹ thuật (để tính toán và chứng minh biên độ phá giá thấp nhất
có thể).
Thực tế, hầu như các vụ điều tra tại Hoa Kỳ đều xuất phát đơn kiện từ
các bên “liên quan”. Việc điều tra do DOC (Bộ thương mại) tự khởi xướng rất
hiếm khi xảy ra, trừ một số trường hợp nhạy cảm về chính trị (vd: các vụ kiện
về chống bán phá giá về gỗ mềm hoặc chất bán dẫn). vì thế việc ngăn chặn
chủ yếu tập trung vào ngăn chặn các “đơn kiện” của các bên liên quan.
Trong phần lớn các trường hợp, việc thuyết phục bên đi kiện rút đơn
kiện sau khi đơn kiện đã đc nộp là ko khả thi. Vì vậy sẽ tốt hơn nếu các doanh
nghiệp hiệp hội Việt Nam có được thông tin về khả năng bị kiên, nếu có, đối
với mặt hàng mình đang xuất khẩu để làm giảm nguy cơ (chẳng hạn, thay đổi
chiến lược kinh doanh) hoặc để thuyết phục bên đi kiện không đưa Việt Nam
vào danh sách các nước bị kiện trong vụ việc ( thông qua đàm phán trực tiếp
hoặc các hình thức vận động khác với bên đi kiện).
Về chiến lược kinh doanh: cần tính đến khả năng bị kiện khi xây dựng
chiến lược xuất khẩu để có kế hoạch chủ động phòng ngừa và xử lý khi không
phòng ngừa đc (vd: tăng cạnh tranh bằng chất lượng, giảm cạnh tranh bằng
14
giá…)
Phối hợp liên kết các doanh nghiệp cso cũng mặt hằng xuất khẩu để có
- Trong một số vụ kiện đối với hàng hóa Việt Nam tại Hoa Kỳ , nhiều
15
doanh nghiệp Việt Nam đã k chủ động tham gia tố tụng bởi cho rằng doanh
nghiệp ko bị nêu tên trong đơn kiện hoặc ko sx sp liên quan đi vào thị trường
HOA Kỳ vào gia đoạn điều tra… do đó cho rằng mình ko liên quan. Đây là
một quan điểm sai lầm bởi các vụ tranh chấp thương mại thuần túy giữa các
doanh nghiệp ( trong đó dn chỉ liên quan nếu có tên trong đơn kiện), một vụ
kiện chống bán phá giá là tranh chấp giữa toàn bộ ngành sx nội địa HOA Kỳ
vs tất cả các nhà sx, xuất khẩu mặt hàng liên quan từ nc bị kiện, kết quả điều
tra sẽ áp dụng đối với tất cả các đơn vị này, vì vậy doanh nghiệp cần chú ý
tham gia vụ kiện để chứng minh bảo vệ lợi ích của mình (nếu xác định clc
kinh doanh mặt hàng liên quan tại thị trường Hoa Kỳ và các thị trường khác)
- Việc tham gia của Doanh nghiệp cần đc định hướng cụ thể (tham gia ở
mức độ nào, theo cách nào) phù hợp vs hoàn cảnh, chiến lc kinh doanh và
nguồn lực của doanh nghiệp.
- Ngay cả khi có đơn kiện, về lý thuyết (trên thực tế khó xảy ra) các doanh
nghiệp vẫn có thể thuyết phục DOC bác bỏ đơn kiện, chấm dứt vụ việc:
Tiếp cận, vận động DOC ko khởi xướng điều tra
Gửi các khiếu nại đến DOC về việc đơn kiện và nguyên đơn không
thỏa mãn các điều kiện quy định
- Tuy nhiên việc này là hầu như ko có khả năng thực hiện, nên biện pháp
khả thi nhất là phát hiện sớm các dấu hiệu có thể dẫn tới vụ kiện chống bán
phá giá và :
Có biện pháp vừa chuyển hướng cạnh tranh( giảm bớt sự phát triển
quá nóng vào thị trường Hoa Kỳ hoặc điều chỉnh về giá ); và/hoặc:
Đàm phán vs bên nguyên đơn (tiềm tàng) để không nộp đơn (khi chưa
có đơn kiện) hoặc rút đơn kiện hoặc rút Việt Nam khỏi đơn kiện (khi đã
có đơn kiện)
7. Đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, tập trung nâng cao lợi thế và khả
năng về mặt chất lượng. tích cực tham gia vào các hoạt động của hiệp hội,
ngành hàng để hỗ trợ, bảo vệ nhau trc các thành viên riêng lẻ cạnh tranh giá
thấp ko lành mạnh và cố gắng đầu tư ra ngoài hoặc xây dựng chiến lược tham
gia vào chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu. điều tiết xuất khẩu của doanh nghiệp
khi phát hiện sản phẩm xuất khẩu đang tăng trường quá nóng. Tìm hiểu, phổ
biến kiến thức và đào tạo bài bản chống bán phá giá, tăng lượng nhân lực có
kind nghiệm đối phó vs các vụ kiện như thế này
III. Giải pháp
17
1. Các nhóm giải pháp từ phía nhà nước
- Chính phủ tích cực đẩy mạnh quá trình chuyển đổi nền kinh tế để sớm
được công nhận là nền kinh tế thị trường . Khi một nước bị coi là có
nền kinh tế phi thị trường thì các nhà xuất khẩu của nước đó sẽ gặp
phải sự bất lợi vô cùng lớn trong các cuộc điều tra chống bán phá giá
do ba nguyên nhân chính sau:
Thứ nhất, việc sử dụng giá và chi phí sản xuất tại nước thay
thế sẽ dẫn đến biên độ bán phá giá rất cao. Mức biên độ bán phá giá
cao này gần như là chắc chắn, vì các nhà sản xuất tại nước thay thế
đang cạnh tranh với các nhà xuất khẩu tại nước bị coi là nền kinh tế
phi thị trường và do đó, sẽ không có lợi cho họ trong việc giảm thiểu
việc tìm ra yếu tố bán phá giá của các nhà cạnh tranh của họ.
Thứ hai, việc sử dụng các số liệu của nước thay thế cũng dẫn
đến việc nhiều lợi thế so sánh của nước có nền kinh tế phi thị trường
không được xem xét trong quá trình điều tra và các doanh nghiệp
của nước này bị áp dụng một mức thuế chống bán phá giá mà lẽ ra,
có thể tránh được nếu được coi là một nước có nền kinh tế thị
trường .
“phi thị trường”. Điều này có nghĩa là, dù cho nước xuất khẩu bị coi
là nước có nền kinh tế phi thị trường thì các nhà sản xuất/xuất khẩu
của nước này vẫn có quyền yêu cầu được sử dụng các phương pháp
kinh tế thị trường nếu chứng minh được rằng, mình hoạt động trong
những điều kiện của nền kinh tế thị trường và không bị can thiệp quá
nhiều từ Chính phủ. Nếu cơ quan điều tra của nước nhập khẩu chấp
nhận thì việc tính toán biên độ phá giá của riêng các nhà sản
xuất/xuất khẩu này sẽ được dựa trên giá cả và chi phí sản xuất tại
chính nước xuất khẩu mà không cần sử dụng nước thay thế.
Tóm lại, quy chế nền kinh tế phi thị trường sẽ mang lại rất
nhiều bất lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam trong
các cuộc điều tra chống bán phá giá so với các doanh nghiệp thuộc
các nền kinh tế thị trường. Để hạn chế sự bất lợi này, trước mắt, các
19
doanh nghiệp là đối tượng của các cuộc điều tra chống bán phá giá
cần tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để chứng minh rằng, ngành
sản xuất của mình hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và
không chịu sự can thiệp của Chính phủ.
- Chính phủ cần có cơ chế giám sát hàng xuất khẩu
Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, biện pháp tự vệ, các
điều kiện kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…là những loại “rào cản” đã và
đang được các nước nhập khẩu sử dụng khá phổ biến trong khuôn
khổ các nguyên tắc của WTO. Một khi những rào cản này được dựng
lên, hoạt động xuất khẩu có thể bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng:
những mức thuế bổ sung có thể làm triệt tiêu khả năng cạnh tranh,
chi phí tuân thủ cao khiến giá bán hàng tăng, những hạn ngạch khắt
khe, thậm chí là những lệnh cấm nhập khẩu có thể dẫn tới nguy cơ
mất hẳn một thị trường nào đó.
thẩm quyền, các nhà sản xuất nội địa cần phải phối hợp với nhau để
tạo nguồn tài chính, thuê luật sư và chuẩn bị các thông tin cho việc
kiện. Trong hầu hết các trường hợp, những hoạt động này là công
khai. Vì khi các doanh nghiệp Việt Nam phát hiện các hoạt động
này, họ phải lập tức chuẩn bị cho một vụ kiện. Việc theo dõi báo chí
là một trong những cách hiệu quả khi các nhà xuất khẩu Việt Nam
không có đại diện thường trực ở nước ngoài.
Thứ ba, xây dựng mối quan hệ với các công ty luật và các công
ty vận động hành lang là một cách thức tốt cho doanh nghiệp Việt
Nam để biết về các công ty này cũng như biết về các dịch vụ mà họ
cung cấp.Việc lựa chọn các công ty luật là rất cần thiết trong các vụ
kiện chống bán phá giá, vì vai trò của luật sư là hết sức quan trọng.
Vì vậy thông thường các doanh nghiệp, đều thông qua nghiệp đoàn
hoặc hiệp hội cùng lựa chọn ( hoặc một số) công ty luật tư vấn, đại
diện cho mình trong vụ kiện trong các vụ kiện, thường thì trong các
vụ kiện tại nước ngoài, khi lựa chọn luật sư cho các vụ kiện chống
bán phá giá, các doanh nghiệp thường rất quan tâm đến khả năng sử
dụng các chuyên gia về kinh tế, phải có uy tín và kinh nghiệm trong
lĩnh vực chống bán phá giá của công ty luật cũng như khả năng sử
dụng tiếng Anh của họ (đặc biệt trong các vụ kiện ở nước ngoài) thì
21
mới có thể đáp ứng yêu cầu trong một vụ kiện ở tầm quốc gia.
- Vận động hành lang
Vụ kiên về chống bán phá giá sản phẩm philê cá da trơn và tôm
Việt Nam tại thị trường Hoa Kỳ được xem là bài học về sự phối hợp
các yếu tố kinh tế, chính trị cũng như sự liên kết chặt chẽ của các
doanh nghiệp liên quan với các tổ chức và đồng minh trong và ngoài
nước.Vận động hành lang đối với ngành lập pháp có hiệu quả hạn
quố c tế nó i chung và chố n g bá n phá giá nó i riêng có uy tí n và hiệ u
quả nhấ t là cơ chế giả i quyế t tranh chấ p củ a WTO. Đây cũ ng là mộ t
nhân tố chú ng ta phả i tí n h đế n trong quá trì nh giả i quyế t cá c tranh
chấ p liên quan tớ i chố n g bá n phá giá và có thể sử dụ ng cơ chế giả i
quyế t tranh chấ p có hiệ u quả củ a tổ chứ c nà y.
Cầ n nhanh chó n g tổ chứ c cá c khó a đà o tạ o về á p dụ ng thuế
chố n g bá n phá giá cho đông đả o cá c cá n bộ ngà n h. Nộ i dung củ a
cá c khó a đà o tạ o nà y sẽ bao gồ m nhữ n g vấ n đề kinh tế liên quan tớ i
bá n phá giá , nhữ n g quy đị n h về thuế chố n g bá n phá giá củ a WTO,
kinh nghiệ m á p dụ ng thuế chố n g bá n phá giá củ a mộ t số nướ c .
Đồng thời, trong phạm vi khả năng của mình Bộ thương mại có thể
hỗ trợ doanh nghiệp thông tin về các văn phòng luật sư nước ngoài
có kinh nghiệm về chống bán phá giá; giúp các doanh nghiệp bằng
việc tổng hợp các kinh nghiệm và bài học của các vụ kiện chống bán
phá giá trước đó.
Tổ chứ c cá c hộ i thả o hoặ c buổ i là m việ c vớ i cá c phò n g
thương mạ i , cá c hiệ p hộ i , cá c việ n nghiên cứ u, cá c doanh nghiệ p để
phổ biế n thông tin và giú p đố i tượ n g hiể u đầ y đủ về bả n chấ t củ a
cá c biệ n phá p bồ i thườ n g trong thương mạ i quố c tế . Cù ng vớ i cá c
nổ lự c tương tự cá c Hiệ p hôi doanh nghiệ p. Cá c việ n nghiên cứ u...,
bướ c đầ u có thể nó i rằ n g hoạ t độ n g tuyên truyề n về chố n g bá n phá
giá ở Việt Nam đã có nhữ n g hiệ u quả tí ch cự c. Vớ i nhữ ng nhậ n
thứ c đú n g về bả n chấ t củ a việ c chố n g bá n phá giá ( nhằ m đả m bả o
cho thương mạ i công bằ n g). Cả Chí nh Phủ và cá c doanh nghiệ p Việt
Nam dườ n g như đề u xem đây là cá c vấ n đề thuộ c về thương mạ i
đơn thuầ n ( không mang tí nh chí nh trị ) và có cá ch hà n h xử tương
ứ n g : chủ độ n g khở i kiệ n khi thấ y hà ng hó a nướ c ngoà i bá n phá giá
23
Hiện nay, bên khởi kiện bán phá giá ở nước ngoài thường lấy
danh nghĩa hiệp hội để đủ tư cách không dưới 50% sản phẩm toàn
quốc.Nếu bên hầu kiện chỉ là những doanh nghiệp riêng lẻ thì dễ sơ
hở và không kham nổi chi phí kiện tụng. Vì vậy việc đoàn kết với
các doanh nghiệp khác trong hiệp hội ngành nghề, hoặc trong các tổ
chức nhóm sản phẩm để theo đuổi vụ kiện là cần thiết và mang lại
nhiều lợi ích. Từ hai vụ kiện chống bán phá giá filê cá da trơn và vụ
kiện tôm ta rút ra bài học vai trò của các tổ chức hiệp hội là rất quan
trọng và cần thiết. Vì vậy cần tăng cường hoạt động của các tổ chức,
hiệp hội ngành hàng tham gia các vụ kiện bán phá giá.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, muốn đẩy mạnh xuất khẩu cần
phải củng cố vai trò của hiệp hội để sẵn sàng và chủ động giải quyết
các tranh chấp thương mại có thể phát sinh. Các hiệp hội ngành hàng
nên thiết lập cơ quan đại diện ở nước ngoài, trước hết là tập trung
vào các thị trường trọng điểm và tổ chức tốt việc nghiên cứu các
điều kiện thâm nhập thị trường nhằm mở rộng thị trường nhập khẩu
và nâng cao hiệu quả ngành hàng của mình.Hiệp hội cũng cần có sự
phối hợp chặt chẽ giữa đại diện hiệp hội với tham tán thương mại để
đạt được kết quả, xử lý và đánh giá thông tin một cách toàn diện.
Thông qua hiệp hội quy định hành vi thị trường của các nhà
xuất khẩu để bảo vệ lẫn nhau, không bị các doanh nghiệp nước nhập
khẩu bắt chẹt trên thương trường. Đồng thời thông qua hiệp hội
chuyên ngành để phối hợp giá cả trên thị trường thế giới, phòng ngừa
tính cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu,
đặc biệt là ngăn chặn các doanh nghiệp khác bán với giá quá rẻ tạo
nguy cơ gây ra bị kiện bán phá giá.
Hiệp hội cần tăng cường vai trò hỗ trợ tích cực cho các doanh
nghiệp xuất khẩu để giúp doanh nghiệp ngăn ngừa và ứng phó hiệu
quả với các biện pháp chống bán phá giá của đối tác thương mại.