`
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
LÂM THÁI BẢO NGÂN
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ TẠI THỊ
XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN XUÂN CHÂU
Huế, 04/2015
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................i
DANH MỤC CÁC BẢNG..............................................................................v
MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài.................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài......................................................................................3
2.1. Mục tiêu chung........................................................................................................3
2.2. Mục tiêu cụ thể........................................................................................................3
CHƯƠNG 2....................................................................................................28
THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA LAO ĐỘNG NỮ................................29
THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ................................29
2.1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội......................................................................29
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên..........................................................................................29
2.1.1.1. Vị trí địa lý..............................................................................................29
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
i
Luận văn tốt nghiệp
2.1.1.2. Khí hậu thời tiết.......................................................................................29
2.1.1.3. Hiện trạng sử dụng đất............................................................................30
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội...............................................................................31
2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế......................................................................................31
2. Dân số và lao động...........................................................................................33
3 Cơ sở hạ tầng.....................................................................................................33
2.1.3. Đánh giá chung về địa bàn nghiên cứu..........................................................35
2.1.3.1. Thuận lợi.................................................................................................35
2.1.3.2. Khó khăn.................................................................................................35
2.2. Tình hình việc làm của lao động nữ ở thị xã Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế....35
2.2.1. Quy mô của lao động nữ thị xã Hương Trà....................................................35
2.2.2 Cơ cấu lao động nữ thị xã Hương Trà.............................................................35
2.2.3 Thực trạng việc làm.........................................................................................35
2.2.4 Thực trạng giải quyết việc làm cho lao động nữ thị xã Hương Trà tỉnh Thừa
Thiên Huế.................................................................................................................36
2.2.4.1. Đánh giá về cuộc sống của lao động nữ tại thị xã Hương Trà...............36
2.2.4.2. Đào tạo nghề............................................................................................36
sự hỗ trợ của chính quyền địa phương và các đoàn thể chính trị xã hội..................37
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
ii
Luận văn tốt nghiệp
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................38
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
iii
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt
Nghĩa
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Uỷ ban nhân dân
Lực lượng lao động
TTLĐ
Thị trường lao động
PTKT
Phát triển kinh tế
CCLĐ
Cơ cấu lao động
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
iv
Luận văn tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tình hình đất đai thị xã Hương Trà tính đến 31/12/2013.........30
Bảng 2.2. Dân số phân theo giới tính và phân theo thành thị, nông thôn 33
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
v
cơ hội, mạnh mẽ khẳng định vị thế trong xã hội. Muốn vậy, phụ nữ hiện đại cần nỗ lực
nhiều hơn trong việc trau dồi, tích lũy tri thức cũng như vốn sống, vốn văn hóa. Có tri
thức, phụ nữ sẽ có bản lĩnh hơn và có nhiều cơ hội lựa chọn hơn trong cuộc sống. Cùng
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
1
Luận văn tốt nghiệp
với đó, việc tự tạo lập cho mình ý thức cầu tiến, độc lập trong suy nghĩ và hành động,
tự tin, sáng tạo, biết hoạch định kế hoạch, biết đối mặt với áp lực, biết chăm sóc bản
thân cũng là những đức tính cần thiết mà người phụ nữ hiện đại cần phải có.
Trong giai đoạn hiện nay, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác
phụ nữ, trong đó có nữ trí thức là một yêu cầu quan trọng của sự nghiệp phát triển
kinh tế, xã hội (KT, XH), là một mục tiêu quan trọng của công cuộc CNH, HĐH đất
nước.
Nhận thấy được vai trò quan trọng ấy của phụ nữ, Đảng và Nhà nước ta đã
thể chế hóa bằng các chính sách, đường lối và văn bản pháp luật nhằm tạo điều kiện
cho phụ nữ nói chung và lao động nữ nói riêng có việc làm, thu nhập ổn định trong
bối cảnh KT, XH hiện nay. Tuy vậy, trên thực tế việc thực hiện đã gặp không ít
những khó khăn, bấp cập dẫn đến hiệu quả mang lại không được như yêu cầu và
mong muốn.
Bên cạnh đó, thị xã Hương Trà là một thị xã mới thành lập, Đảng bộ thị xã
đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình kinh
tế trọng điểm thúc đẩy kinh tế phát triển, từng bước tạo lập được các yếu tố bảo
đảm phát triển nhanh và bền vững, nhờ đó vấn đề giải quyết việc làm cho lao động
cũng được quan tâm, chú trọng và được đầu tư. Tuy nhiên vấn đề việc làm nói
chung, lao động nữ nói riêng vẫn đang là vấn đề bức xúc, lao động nữ là một đối
tượng nhạy cảm, dễ tổn thương nhưng lại rất quan trọng, góp một phần không nhỏ
3. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Không gian: Địa bàn thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thời gian: Giai đoạn năm 2009 đến năm 2013 và đưa ra giải pháp đến năm 2020.
Nội dung: Đề tài không đi sâu nghiên cứu toàn bộ vấn đề việc làm nói chung
mà chỉ tập trung vào vấn đề “Việc làm cho lao động nữ thị xã Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế”.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Phương pháp luận là phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật
lịch sử nhìn nhận vấn đề trong quá trình phát triển của nó.
- Phương pháp thu thập thông tin:
•
Số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp.
Lấy thông tin, số liệu từ sách, báo, internet như: tạp chí Cộng sản, báo Pháp
luật, báo Thừa Thiên Huế.
Từ các văn bản, văn kiện Đại hội Đảng, báo cáo công tác của thị xã Hương
Trà, niên giám thống kê thị xã Hương Trà qua các năm nghiên cứu.
•
Số liệu sơ cấp: Sử dụng phương pháp chọn mẫu.
Thị xã Hương Trà gồm có bảy phường (Tứ Hạ, Hương Văn, Hương Xuân,
Hương Vân, Hương Chữ, Hương An, Hương Hồ), dự kiến mỗi phường chọn 30 lao
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
3
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC LÀM
VÀ VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NỮ
1.1 Những vấn đề chung về việc làm cho lao động nữ
Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là hành động tương tác
giữa con người với tự nhiên. Để được tham gia lao động tưởng chừng đơn giản
nhưng trong điều kiện kinh tế thị trường không phải ai cũng được đáp ứng và đáp
ứng một cách đầy đủ. Muốn được lao động, người lao động phải có việc làm để từ
đó tạo ra thu nhập nuôi sống mình và gia đình. Nhưng để có được việc làm nhất là
việc làm phù hợp với năng lực, trình độ và tay nghề đào tạo của mình thì không
phải người lao động nào cũng có thể tìm kiếm được một công việc phù hợp với
năng lực của bản thân. Bởi vì nguồn lao động xã hội và cơ hội việc làm không phải
lúc nào cũng tương thích với nhau, do đó luôn luôn tồn tại trong xã hội một bộ phận
người lao động thiếu việc làm và ngược lại nhiều chỗ việc làm còn bỏ trống. Vì vậy
để tạo ra một cơ cấu việc làm hợp lý, có hiệu quả cho dân cư trong xã hội thì nhà
nước cần có những chính sách giải quyết việc làm khoa học, được nghiên cứu đầy
đủ về khái niệm, bản chất, nguyên tắc, các dạng việc làm và ý nghĩa của nó để vận
dụng có sáng tạo trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế. Đó cũng là mục đích chính
mà tôi đề cập trong mục này.
1.1.1 . Lao động và phân loại lao động
1.1.1.1. Lao động và sức lao động
Lao động là một trong ba yếu tố tạo nên quá trình sản xuất và là yếu tố giữ
vai trò quyết định. Dù trong điều kiện khoa học kỹ thuật tiến bộ, sản xuất nông
nghiệp được tiến hành bằng máy móc cơ giới và tự động hóa thì quá trình sản xuất
vẫn phải được điều khiển bằng sức lao động của con người.
Theo C.Mác, lao động là điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc
vào bất kỳ hình thái KT - XH nào, là một sự tất yếu tự nhiên, vĩnh cửu làm môi giới
động, tác động vào đối tượng lao động, nhằm sản xuất ra các vật phẩm tiêu dùng
cho mình và cho xã hội.
1.1.1.2. Phân loại lao động
Từ thực tế sử dụng lao động và để tính toán được các chỉ tiêu cơ cấu lao
động theo tính chất lao động, theo ngành sản xuất, theo trình độ đào tạo… phải căn
cứ vào thời gian lao động đã sử dụng để quy ra số người lao động và năng suất lao
động nông nghiệp.
Phân loại lao động thường được kết hợp một số tiêu thức sau:
- Lao động trực tiếp sản xuất:
+ Trồng trọt
+ Chăn nuôi
+ Dịch vụ sản xuất
- Lao động gián tiếp sản xuất
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
6
Luận văn tốt nghiệp
+ Cán bộ chỉ đạo kỹ thuật
+ Cán bộ quản lý hành chính
Phân loại lao động như trên cho ta thấy mối quan hệ giữa lao động trực tiếp
sản xuất và gián tiếp sản xuất, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất trong từng địa
phương, từng doanh nghiệp.
Ngoài cách phân loại trên, tùy yêu cầu nghiên cứu có thể phân chia lao động
theo giới tính, độ tuổi để thấy được khả năng và huy động sức lao động của mỗi
thành viên trong gia đình vào sản xuất nông nghiệp.
1.1.2. Việc làm
+ Người làm công ăn lương.
+ Người làm việc trong hộ gia đình nhưng không hưởng lương.
+ Xã viên HTX.
+ Thành viên của lực lượng vũ trang.
Khi nghiên cứu về việc làm cần hiểu một số khái niệm có liên quan sau đây:
- Việc làm bền vững
Việc làm bền vững là sự sẵn có của việc làm trong điều kiện tự do, công bằng,
an ninh và nhân phẩm của con người. Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO, việc làm
bền vững liên quan đến cơ hội cho công việc sản xuất và cung cấp một thu nhập
công bằng, an ninh trong việc bảo vệ nơi làm việc và xã hội cho các gia đình, triển
vọng tốt hơn cho phát triển cá nhân và hội nhập xã hội, tự do cho mọi người thể
hiện mối quan tâm của họ, tổ chức và tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng
đến cuộc sống của họ và bình đẳng về cơ hội và điều trị cho tất cả phụ nữ
và nam giới.
- Việc làm đầy đủ
Khái niệm việc làm đầy đủ không thể chỉ giải thích theo một nghĩa mà nó
còn phụ thuộc vào tiêu chí và tính chất của vấn đề, được luận giải từ nhiều khía
cạnh khác nhau. Đầy đủ ở đây không có nghĩa là việc làm chung cho tất cả mọi
người, đảm bảo chỗ việc làm cho tất cả dân số có khả năng lao động.
Ở phương Tây người ta quan niệm việc làm đầy đủ là tình hình nền kinh tế,
mà trong đó tất cả những người mong muốn làm việc có việc làm với mức lương
thực tế khống chế. Trong quan niệm này thì việc làm đầy đủ được hiểu như khái
niệm “việc làm tối ưu”.
Trong điều kiện thị trường việc làm đầy đủ được hiểu là khả năng đối với
từng thành viên có khả năng lao động của xã hội tham gia vào hoạt động lao động
công ích.
- Việc làm phụ
Đó là việc làm thêm theo nhu cầu hoặc mong muốn của người lao động để
kiếm thêm thu nhập ở một công sở khác hoặc là ngay tại chính nơi mình đang làm
việc, việc làm phụ được xếp vào nhóm những công việc kiêm nhiệm cả ở những
Đó là loại hình việc làm gắn với những công việc theo thời vụ trong nông
nghiệp, xây dựng, khai thác rừng, trong các khu nghỉ, trong các ngành mía đường,
đánh bắt hải sản và nhiều ngành khác với công việc không đồng đều trong năm. Với
loại hình này, phần thời gian còn lại đáng kể trong năm người lao động không có
việc làm. Loại hình việc làm này rất phổ biến ở Việt Nam, có gần tới 70% lực lượng
lao động trong ngành nông nghiệp làm việc theo thời vụ với thời gian lao động từ
65-70%.
- Việc làm không tiêu chuẩn hoá
Hình thức này bao gồm rất nhiều loại hình. Một trong số đó là việc làm tại
nhà, khi người lao động nhận nhiên liệu, nguyên vật liệu, máy móc, công cụ từ công
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
9
Luận văn tốt nghiệp
ty rồi thường kỳ trao trả lại những thành phẩm.
1.1.3. Thất nghiệp
Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường, hiện tượng người lao
động không có công ăn việc làm - thất nghiệp là không tránh khỏi. Nó phản ánh
thực tế nan giải của mọi quốc gia có nền kinh tế thị trường, cho dù quốc gia đó ở
trình độ kém phát triển hay phát triển cao. Thất nghiệp đang trở thành vấn đề nóng
bỏng gây sức ép lớn về kinh tế và xã hội cho mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Theo quan niệm của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Thất nghiệp là tình
trạng tồn tại khi số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm
được việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành”
Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm,
có khả năng lao động hay nói cách khác là sẵn sàng làm việc và đang đi tìm việc
gian nào đó sẽ được gọi lại làm việc. Như vậy số người thất nghiệp là con số mang
tính thời điểm, nó luôn biến đổi không ngừng theo thời gian, nó vận động từ: Có
việc - thất nghiệp - có việc. Gọi là dòng luân chuyển thất nghiệp. Dòng thất nghiệp
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
10
Luận văn tốt nghiệp
có đầu vào là những người gia nhập đội quân thất nghiệp và đầu ra là những người
rời đội quân thất nghiệp, khi dòng vào lớn hơn dòng ra thì quy mô thất nghiệp tăng
lên và ngược lại quy mô thất nghiệp giảm xuống. Dòng thất nghiệp cân bằng thì quy
mô không đổi, tỷ lệ thất nghiệp tương đối ổn định. Dòng thất nghiệp phản ánh sự
biến động của thị trường lao động. Quy mô thất nghiệp gắn với khoảng thời gian
thất nghiệp trung bình. Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình là độ dài bình quân
thời gian thất nghiệp của toàn bộ số người thất nghiệp trong cùng một thời kỳ.
Khoảng thời gian thất nghiệp trung bình được tính bằng công thức sau:
∑N.t
∑N
là khoảng thời gian thất nghiệp trung bình
=
Trong đó:
N là số người thất nghiệp trong mỗi loại
t là thời gian thất nghiệp của mỗi loại
Nếu khoảng thời gian trung bình rút ngắn thì cường độ của dòng vận chuyển
thất nghiệp tăng lên, thị trường lao động biến động mạnh, việc tìm kiếm sắp xếp
người lao động trước nguy cơ thất nghiệp (đào tạo, đào tạo lại…). Bên cạnh đó, nên
có chính sách trợ cấp cho người bị thất nghiệp.
1.1.4. Đặc điểm của nguồn lao động nữ
Đặc điểm của lao động nữ
Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã
hội. Cùng với nam giới, phụ nữ cũng đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
xây dựng và phát triển đất nước. Ở nước ta, lao động nữ là nguồn lực to lớn góp
phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển
KT, XH. Vì vậy, cùng với những chính sách kinh tế đúng đắn, Đảng và Nhà nước
đã thực hiện một hệ thống chính sách xã hội công bằng và tiến bộ, hướng vào mục
tiêu phát triển con người, tạo điều kiện cho tất cả mọi người, kể cả nam và nữ đều
có thể đóng góp sức mình vào sự nghiệp chung. Thực tế cũng khẳng định, tiềm
năng lao động nữ đã được phát huy và vị thế của người phụ nữ được nâng cao trong
xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, lao động nữ cũng đang gặp nhiều khó
khăn, thách thức, đặc biệt trong lĩnh vực lao động, việc làm ở cả khu vực kinh tế
chính thức và phi chính thức. Phụ nữ đã có mặt trên tất cả các lĩnh vực: chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, có sự khác biệt về đặc điểm tâm sinh lý giữa
lao động nam và lao động nữ nên đối với lao động nữ, khi đề cập, chúng ta phải
xem xét đến các đặc thù cơ bản của họ là giới và giới tính.
-
Xét về phương diện giới tính.
Phụ nữ thường hạn chế về thể lực so với nam giới và có thiên chức mang
thai, sinh con, nuôi con: Trong điều kiện kinh tế thị trường, vấn đề này luôn được
coi là "hạn chế của phụ nữ" với tư cách người đi tìm việc.
-
Xét trên phương diện giới.
Nam rất phổ biến nên học có vai trò nhất định đối với kinh tế gia đình, đảm bảo chi
tiêu, tích lũy tài chính cho gia đình.
Tuy có vai trò quan trọng như vậy trong gia đình nhưng vai trò ấy có lúc lại
bị lãng quên hoặc không được đánh giá đúng mức. Hiện nay, các phúc lợi xã hội
dành cho phụ nữ vẫn chưa tốt và bản thân họ cũng chưa nhận được sự hỗ trợ cần
thiết của các thành viên trong gia đình cũng như xã hội. Vì vậy, gia đình và xã hội
phải có sự ghi nhận đúng mức và tạo ra những dịch vụ gia đình tốt hơn tạo điều
kiện cho phụ nữ được giải phóng và có thời gian hơn để đóng góp cho xã hội.
-
Vai trò của phụ nữ đối với xã hội.
Thứ nhất, phụ nữ là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những
người lao động trong xã hội.
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
13
Luận văn tốt nghiệp
Bằng lao động sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội,
làm phong phú cuộc sống con người. Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu
của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Với truyền thống đó, phụ nữ Việt Nam
tiếp tục vượt qua mọi thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã
hội, duy trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia
quản lý nhà nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình
đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động
đối ngoại nhân dân…
bình đẳng về giới đã gây cản trở cho phát triển và ảnh hưởng tiêu cực đến tất cả các
thành viên trong gia đình và xã hội.
Khi ở vào thời kỳ mới, để khẳng định và phát huy vai trò của mình, phụ nữ
Việt Nam có nhiều mặt thuận lợi do sự phát triển kinh tế (PTKT) mang lại, nhưng
đồng thời với nó là những thử thách họ cần phải vượt qua. Đảng và Nhà nước ta
luôn có những chính sách khuyến khích, ưu tiên đối với lực lượng lao động nữ, có
như vậy người phụ nữ mới có thể khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp phát
triển lâu dài, bền vững của đất nước.
1.2. Những nhân tố ảnh huởng đến việc làm đối với lao động nữ
Có rất nhiều nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến việc làm của người phụ nữ.
Trong phạm vi đề tài tôi xin đề cập đến một số nhân tố có tác động mạnh mẽ đến
việc làm của người phụ nữ như sau:
1.2.1 Nhân tố tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là cơ sở quan trọng ban đầu cho phát triển sản xuất.
Những vùng miền, địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi, phong phú, đa dạng
sẽ dễ dàng hơn cho việc phát triển các ngành nghề, các cơ sở sản xuất, kinh doanh,
từ đó tạo điều kiện việc làm cho lao động nói riêng và lao động trong nền kinh tế
nói chung. Các nhân tố thuộc về tự nhiên cơ bản tác động đến việc làm của phụ nữ
như thổ nhưỡng, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu,… Tùy đặc điểm tự nhiên của từng
vùng miền sẽ tác động đến hoạt động SX, KD của người lao động. Các chủ thể sản
xuất và người lao động cần nắm bắt lợi thế so sánh của điều kiện tự nhiên hoặc dự
đoán nguy cơ rủi ro trong các hoạt động của mình nhằm có những định hướng và
giải pháp đúng đắn cho kế hoạch lao động của mình, mang lại hiệu quả kinh tế.
Nhiệm vụ của mỗi địa phương là phát huy mặt thuận, hạn chế mặt không
thuận của điều kiện tự nhiên chi phối nền sản xuất, trên cơ sở đó hoạch định chính
sách phát triển đúng đắn, bền vững nhằm mục tiêu quan trọng là phát triển con
người - chủ thể và động lực chủ yếu của nền sản xuất và mọi hoạt động xã hội.
1.2.2. Nhân tố kinh tế - xã hội
Trình độ học vấn, chuyên môn
Giáo dục - đào tạo đóng vai trò quan trọng đối với vị trí và triển vọng tương
quý của con người, tạo cho con người khả năng lao động để tạo công việc và thu
nhập cho bản thân. Sức khỏe cũng là yêu cầu cơ bản nhất đối với người lao động.
Do đặc điểm sinh lí nên sức khỏe thường là hạn chế đối với lao động nữ, điều đó
ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng công việc cũng như tìm kiếm việc làm phù hợp
đối với lao động nữ.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của lao động nữ, từ điều kiện chăm
sóc nghỉ ngơi, vấn đề sức khỏe sinh sản, chế độ dinh dưỡng trong gia đình, đến
những điều kiện làm việc và môi trường sinh sống, nếu được cải thiện tốt sẽ có tác
động tích cực đến quá trình lao động, cống hiến của lao động nữ.
Nhu cầu của người lao động
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
16
Luận văn tốt nghiệp
Bên cạnh hai nhân tố trên thì nhu cầu và thái độ của người lao động cũng là
nhân tố quyết định đến việc làm của người lao động. Đối với lao động nữ, do đặc điểm
tâm sinh lí nên khả năng cống hiến trong lao động thường hạn chế, điều này đã ảnh
hưởng đến khả năng thích nghi và lao động ở những ngành nghề có tính đặc thù.
Để có việc làm và thu nhập phải xuất phát từ nhu cầu chính đáng của người
lao động, nhu cầu cũng quyết định đến việc phân bổ lực lượng lao động (LLLĐ) xã
hội, thể hiện nguyện vọng việc làm, thu nhập và tính chất của lao động. Người lao
động có nhu cầu và thái độ tích cực với công việc họ sẽ tự mở ra cho mình cơ hội
tìm kiếm việc làm cũng như là cơ sở để nhà tuyển dụng hay xã hội phân bổ, sắp xếp
công việc cho họ.
1.2.3. Các nhân tố thuộc về xã hội
Ảnh hưởng của tâm lý xã hội
những thách thức này về cơ bản xuất phát một cách khách quan cùng với sự vận
động và biến đổi sâu sắc của nông thôn thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về giải quyết việc làm
Để vấn đề giải quyết việc làm cho lao động nữ có hiệu quả yêu cầu tất yếu là
Đảng và Nhà nước ta phải có chủ trương và chính sách phù hợp, đúng đắn nhằm
khuyến khích đội ngũ người lao động hăng hái, tích cực hơn trong hoạt động SX,
KD mang lại thu nhập cho bản thân và hiệu quả xã hội.
Trên thực tế, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, đường lối thiết thực, hiệu
quả nhằm phát huy tối đa nội lực, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển đổi
CCLĐ, đáp ứng yêu cầu của quá trình CNH, HĐH tạo nhiều việc làm cho người lao
động, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị, tăng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động,…
đặc biệt là lao động nông thôn. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã nêu
quan điểm: “Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy nhân tố con
người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng
chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân…”
Trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế ngày nay, việc làm nói chung và việc
làm cho lao động nữ nói riêng đang là vấn đề được Đảng và nhà nước ta đặc biệt
quan tâm, vậy nên ngoài việc áp dụng các chính sách vốn tiền, vốn vật chất đồng
thời phải coi chính sách vốn con người là mặt trận hàng đầu. Có như vậy lao động
nữ phát huy được vai trò và khả năng của mình trong việc xây dựng và phát triển
bản thân, gia đình và xã hội.
1.2.4 Chính sách của Nhà nước về hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao động nữ
Trong văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX Đảng ta đã đề ra quan điểm:
“Bằng nhiều biện pháp, tạo ra nhiều việc làm, làm tăng quỹ thời gian lao động được
sử dụng, nhất là trong nông nghiệp, nông thôn. Các thành phần kinh tế mở rộng các
ngành nghề, các cơ sở sản xuất, dịch vụ có khả năng sử dụng nhiều lao động…”.
Giải quyết việc làm cho lao động nữ là vấn đề đang nhận được sự quan tâm
của không chỉ bản thân lao động nữ mà còn của toàn xã hội. Nhận thấy tính đặc thù
vai trò của lao động nữ đối với gia đình và xã hội, Việt Nam đã có những quan
điểm, chính sách cụ thể nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nữ trong
của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế… cùng một số chính sách về
hỗ trợ giải quyết việc làm cho lao đào tạo thì chỉ đặt ra nhằm mục đích nâng cao tay
nghề, chuyên môn lao động nữ đang đảm nhiệm. Các quy định về ưu đãi doanh
nghiệp, đơn vị sử dụng nhiều lao động nữ còn ít nhiều có sự bất cập làm hạn chế ý
nghĩa của các quy định pháp luật. Cần phải xem xét đối với vấn đề quy định chế tài
xử phạt đối với các doanh nghiệp vi phạm các quy định nói trên. Bởi lẽ, hiện nay
chế tài áp dụng đối với lĩnh vực lao động là quá nhẹ, không đảm bảo tính răn đe,
HVTH: Lâm Thái Bảo Ngân – Lớp K14 KTCT
19