Giám sát huyết thanh học và xác định một số yếu tố nguy cơ gây bệnh lở mồm long móng trên địa bàn huyện quảng ninh, tỉnh quảng bình - Pdf 34

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1.

Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nằm ở vùng nhiệt đới có độ ẩm cao rất phù hợp với
sự phát triển của nhiều loại vi sinh vật và chính vì thế con người và động vật dễ
dàng bị mắc các bệnh truyền nhiễm. Hằng năm, các bệnh truyền nhiễm ở vật
nuôi, đặc biệt là bệnh lở mồm long móng, bệnh tụ huyết trùng, bệnh Newcastle
và bệnh do Salmonella gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi nước ta.
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây
lan mạnh, nhanh và rộng của các loài động vật móng guốc chẻ đôi (trâu, bò, lợn,
dê, cừu). Bệnh LMLM gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp
đến các hoạt động thương mại, đặc biệt là việc buôn bán gia súc và sản phẩm
động vật; bệnh được Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) xếp đầu danh mục bảng A
các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở gia súc [1], [6].
Bệnh LMLM gây ra bởi loài virus thuộc họ Picornaviridae, giống
Aphthovirus. Virus có 7 chủng là chủng A, O, C, SAT1, SAT2, SAT3 và Asia1
nhưng có chủng phụ được phân biệt bằng miễn dịch học và huyết thanh học,
chúng có độc lực khác nhau [5], [7]. Thời gian gần đây, có nhiều bằng chứng
cho thấy rằng có thể trong nguồn virus LMLM gây bệnh ở Việt Nam đã xuất
hiện các chủng/serotype/ topotype mới làm phức tạp hóa chương trình khống
chế bằng vaccine và khoanh vùng dịch tễ học, cần chẩn đoán, xét nghiệm kịp
thời để khống chế [9].
Quảng Ninh là một huyện của tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp huyện Lệ
Thủy, phía Bắc giáp thành phố Đồng Hới, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây
là dãy Trường Sơn, giáp biên giới Lào. Sông ngòi chính chảy qua huyện này chủ
yếu là sông Long Đại, một chi lưu của sông Nhật Lệ. Huyện Quảng Ninh có
tuyến quốc lộ 1A chạy qua, đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc-Nam chạy qua
khu vực trung du của huyện. Trung tâm huyện nằm cách 12 km về phía nam
của sân bay Đồng Hới. Địa hình Quảng Ninh hẹp và dốc từ phía Tây sang phía


Mục tiêu
- Xác định được sự lưu hành của virus LMLM thông qua phát hiện kháng
thể 3ABC ở trâu, bò nuôi tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Xác định một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch LMLM ở
trâu, bò trên địa bàn nghiên cứu.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể, cùng những luận chứng khoa học
về sự lưu hành của virus LMLM ở trâu, bò trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh
Quảng Bình.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài đánh giá đúng tình hình dịch bệnh, mức
độ lưu hành virus LMLM trên địa bàn nghiên cứu, làm cơ sở cho các nhà chăn
nuôi, cơ quan quản lý nhà nước về thú y đưa ra giải pháp, xây dựng kế hoạch
phòng chống dịch hiệu quả.

2


PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quát về bệnh LMLM
2.1.1. Giới thiệu chung về bệnh LMLM
Bệnh lở mồm long móng có nhiều tên gọi khác nhau:
-

Foot and mouth disease (tiếng Anh)

-

Aphtae Epizooticae (tiếng La tinh)

Lần đầu tiên trên thế giới bệnh LMLM được Fracstorius phát hiện và mô
tả ở Italia vào năm 1514, sau đó bệnh lan sang nhiều nước ở châu Âu. Virus
3


LMLM được hai nhà khoa học Đức là Loefler và Frosch phân lập lầu đầu tiên
vào năm 1897 [39]. Cho đến năm 1922, hai nhà khoa học Pháp Vallée và Carée
lần đầu tiên phát hiện ra sự tồn tại của hai type virus gây bệnh LMLM ở bò được
gọi là type O (phân lập được tại vùng Oisée – Pháp) và type A (phân lập được
tại vùng Ardène – Pháp) có trong đàn bò nhập từ Đức. Năm 1926, hai nhà khoa
học Đức là Waldmann và Trautwein đã phân lập được 3 type virus LMLM và
đặt tên là A, B, C [2]. Nhưng sau đó các nhà khoa học thấy rằng hai type A và B
có đặc tính giống với 2 type O và A mà hai nhà khoa học Pháp đã phân lập được
trước đó. Cho đến năm 1952, các nhà khoa học trên thế giới đã thống nhất gọi
các type là O, A, C [16]. Những type SAT1, SAT2, SAT3 (Southern African
Teritoties) tìm thấy ở Nam Phi và được giám định tại viện nghiên cứu Pirbright
(Anh) trên các bệnh phẩm bò ở miền Nam và Bắc Rhodesia. Các type này chủ
yếu có trên lục địa Châu Phi (Nam, Trung và Đông Phi, Saudan, Ai cập…) phổ
biến nhất là các type SAT1. Cuối cùng, type Asia 1 do Brooksby và Rogere
(1957) tìm thấy ở Pakistan, đây là type hay gây bệnh phổ biến ở lục địa Châu Á
(cận Đông, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Trung Quốc, Lào, Hồng Kông…) [2].
2.2. Tình hình dịch bệnh LMLM trong nước và trên thế giới
2.2.1. Tình hình dịch bệnh LMLM ở trên thế giới
Bệnh LMLM đã xuất hiện ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Mỹ La
tinh và Châu Âu. Điển hình là trong những năm 1981-1985, dịch xuất hiện ở 80
nước, gây nên tổn thất lớn cho nền kinh tế của những nước này [45]. Năm 1997,
dịch xảy ra ở lợn trên toàn lãnh thổ Đài Loan, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và
để lại hậu quả xấu cho ngành chăn nuôi lợn trong nhiều năm. Các nước Nhật
Bản và Hàn Quốc là những nước từ lâu không có bệnh LMLM nhưng đến năm
2000 đã xuất hiện bệnh này [12]. Tại Châu Âu năm 2001, dịch đầu tiên xảy ra ở

chủng loại virus LMLM của họ cho Ấn Độ [40].
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước láng giềng, có chung đường biên
giới rất dài, là nước thường xuyên có bệnh LMLM, việc buôn bán trao đổi
hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhất là việc buôn bán vận chuyển
trái phép động vật và sản phẩm động vật là nguyên nhân lây lan dịch bệnh
giữa hai nước [50].
Ở khu vực Đông Nam Á, một số nước có dịch như Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanmar, Philippines, Malaysia và Viêt Nam đã chịu những thiệt hại rất
lớn do dịch gây ra. Ở Thái Lan, khi bị dịch này, chính phủ đã chi mỗi năm hàng
triệu USD để khống chế dịch. Ngoài ra, Liên Hợp Quốc còn hỗ trợ thêm 36 triệu
USD để thành lập Trung tâm chẩn đoán LMLM để định chủng virus, nghiên cứu
dịch tễ và sản xuất vaccine. Thái Lan đã có 7/9 vùng kinh tế đã sạch bệnh và ở 7
vùng này vẫn xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật và nông sản đi nhiều nước
với số lượng lớn. Indonesia đã thanh toán được bệnh này từ năm 1983,
Phillippines đã được Tổ chức Thú ý Thế giới OIE công nhận an toàn ở vùng
Mindanao, Visay và Luzon [41].
Theo báo cáo tình hình dịch bệnh LMLM hàng tháng trên thế giới của tổ
chức FAO vào tháng 6 năm 2013, từ năm 2010 đến 2013 sự lưu hành của virus
LMLM được chia làm 7 vùng (pool) tùy thuộc vào đặc điểm của virus. Các
5


nước thuộc vùng Đông Nam Á và Trung Quốc thuộc vùng 1 (pool 1). Virus
LMLM có 07 serotype : O, A, Asia 1, SAT 1, SAT 2, SAT3 và C, từ 2004
không phát hiện được serotype C. Virus LMLM lưu hành tại vùng 1 và vùng 2
là O, A và Asia 1, nhưng đặc điểm của các virus này là khác nhau giữa hai vùng
[48].
Virus LMLM type A/ASIA Sea - 97 đã lưu hành trong khu vực giữa
Đông Á vào năm 2012 - 2013. Phân tích di truyền của loại virus LMLM type A
(A GDMM -CHA - 2013- S ( LVRI )) thu thập vào tháng 3 năm 2013 từ gia súc

tỉnh, thành phố với tổng số 7519 gia súc mắc bệnh, 416 con phải tiêu hủy. Trong
số gia súc mắc bệnh gồm: Trâu 2993 con, bò 4085 con và lợn 494 con. Dịch
LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ (Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa
Thiên Huế, Quảng Trị), Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên (Quảng Nam,
Quảng Ngãi, Phú Yên, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông); các tỉnh miền núi phía
Bắc (Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Sơn
La, Lạng Sơn). Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất
có 90 ổ dịch xuất hiện trong tháng, sau đó ổ dịch đã giảm trong các tháng tiếp
theo [15].
Dịch LMLM đã xảy ra trên diện rộng tại một số tỉnh: Đăk Lăk (15 xã của
9 huyện/thị với 583 con bò, 24 con trâu mắc bệnh), Kon Tum (35 xã của 7
huyện/thị với 701 con trâu, 747 con bò, 66 con lợn mắc bệnh), Nghệ An (21 xã
của 7 huyện/thị với 314 con trâu, 285 con bò, 121 con lợn mắc bệnh), Hà Giang
(23 xã của 5 huyện/thị với 51 con trâu và 318 con bò mắc bệnh), Quảng Ninh
(11 xã của 4 huyện với 201 con trâu mắc bệnh), Quảng Ngãi (10 xã của 4
huyện/thị với 249 con bò mắc bệnh). Đáng lưu ý là dịch LMLM đã tái phát và
dây dưa kéo dài tại một số tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Nghệ An, Hà Tĩnh, Tuyên
Quang, Phú Thọ, Sơn La, Quảng Ninh, Quảng Nam [15].
Kon Tum: Diễn ra từ ngày 9/1/2009 kéo dài đến tháng 3/2009. Trong đợt
này số xã có dịch là 34 xã thuộc 6 huyện với tổng số gia súc mắc bệnh là 1140
gia súc (401 con trâu, 673 con bò và 66 con lợn). Số gia súc chết và tiêu hủy là
185 con (12 con trâu, 72 con bò và 66 con lợn).
7


Gia Lai: Từ 27/4/2009 đến cuối tháng 5/2009, trong đợt dịch này có 1 xã
thuộc 1 huyện có dịch với 70 gia súc mắc bệnh. Từ 27/9/2009 đến cuối tháng
10/2009 có 3 xã thuộc 2 huyện có dịch với tổng gia súc mắc bệnh là 5 con trâu,
118 con bò.
Hà Tĩnh: Ngày 24/9/2009 dịch đã xảy ra ở 1 xã thuộc 1 huyện có dịch với

8


2.3.2. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của virus LMLM
Virus gây bệnh LMLM là loại virus nhỏ nhất thuộc họ Picornavirideae,
nhóm Aphthovirus, có kích thước 20-30 nm, có cấu trúc đa diện 30 mặt đều, hạt
virus chứa 30% acid nucleic, là một đoạn RNA. Vỏ capsid có 60 đơn vị gọi là
capsome, mỗi capsome có 4 loại protein (VP1, VP2, VP3, VP4) trong đó VP1
có vai trò quan trọng nhất trong việc gây bệnh, cũng như là loại kháng nguyên
chính tạo kháng thể chống lại virus gây bệnh LMLM [19]. Vì thế, người ta đã
tiến hành giải trình tự 1 phần hoặc toàn bộ gen mã hoá VP1 để phân chia chúng
thành các serotype và các subtype [37]. Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân
tạo ra các biến type, đặc biệt thông qua sự đa dạng của phân tử VP1. Hình thái
và cấu trúc của virus LMLM được trình bày ở hình 2.2.

A. Virus LMLM dưới kính
hiển vi điện tử

B. Mô hình cấu trúc
của hạt virion LMLM

D. Hạt virion của virus LMLM
(Nguồn:ology.w
isc.edu/virusworld/images/fmdv1qgc.jpg)

C. Cấu tạo kháng
nguyên

E. Cấu trúc kháng nguyên virus
LMLM

nay chưa phát hiện thêm type nào mới nhưng các chủng virus LMLM do có
genome là RNA nên liên tục có sự biến đổi tạo ra các subtype mới. Trước đây
các subtype thường được ký hiệu bằng số mũ như O 1, A32…thì nay người ta
thống nhất ký hiệu là O1, A32…[8]
2.3.4. Đặc tính kháng nguyên của virus LMLM
Virus có cấu trúc kháng nguyên một sợi, không có tính sinh kháng thể và
đặc tính kháng nguyên nhưng có vai trò trong gây nhiễm. Những protein tạo nên
capside có tính chất kháng nguyên và tạo nên kháng thể, gồm 4 loại: VP1, VP2,
VP3, VP4. VP1, VP2, VP3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối xứng (phân
tử 12S) còn VP4 là protein bên trong capside. VP1 ở ngoài cùng tham gia trong
việc cố định virus trên những tế bào và tạo nên một trong những yếu tố cấu trúc
sinh miễn dịch cơ bản. VP1 đóng vai trò quan trọng trong việc gây bệnh và là
kháng nguyên chính tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM [19].
10


Các type và subtype có kháng nguyên bề mặt khác nhau và chúng không
có miễn dịch chéo. Mặt khác, bản chất virus là ARN, với áp lực của hệ thống
miễn dịch, virus có thể biến đổi về vật chất di truyền lẫn kháng nguyên bề mặt
làm xuất hiện chủng mới [1].
2.3.5. Độc lực của virus LMLM
Độc lực biểu hiện mức độ cụ thể của tính gây bệnh. Đương nhiên, đại
lượng này không chỉ diễn tả hay đánh giá đặc tính của mầm bệnh nói chung mà
là đặc tính đối với loại cơ thể ký chủ cụ thể. Như vậy, độc lực còn nói lên khả
năng chống đỡ của ký chủ cụ thể đối với mầm bệnh xác định. Một mầm bệnh có
thể có độc lực cao đối với cá thể này hay loài này nhưng lại có độc lực thấp hoặc
không có độc lực đối với cá thể khác hay loài khác [11].
Đối với virus LMLM, mọi chủng virus đều được coi là cường độc, không
có chủng nhược độc. Về mặt lâm sàng, động vật nhiễm virus có thể biểu hiện
triệu chứng lâm sàng dưới nhiều mức độ khác nhau, từ nặng đến nhẹ hay thậm

các môi trường tế bào này, để tủ ấm 37ºC trong 24-72 giờ, virus sẽ làm huỷ hoại
tế bào nuôi [27].
2.3.7. Sức đề kháng của virus LMLM
Virus LMLM là loại không có vỏ bọc, do vậy chúng có sức đề kháng cao
đối với các dung môi hữu cơ (cồn, ete…). Điều này có ý nghĩa thực tiễn là
không nên dùng cồn để sát khuẩn vì virus LMLM không bị cồn phá hủy. Virus
bền vững trong khoảng 7- 7.7, nhanh chóng bị vô hoạt ở nhiệt độ cao hoặc thấp
(pH<2 hoặc pH>11). Virus mất hoàn toàn khả năng phơi nhiễm ở pH
Theo Lê Anh Phụng (2006), trong tự nhiên, hai con đường xâm nhập
chính của virus là đường hô hấp và đường tiêu hóa. Ngoài ra, virus còn xâm
nhập qua vết thương, qua đường sinh dục,…[3].
Ở đường hô hấp, sau khi virus phát triển ở vùng cuống họng, virus lan
sang vùng kế cận, vào hệ thống tuần hoàn và hệ lâm ba dẫn tới các tế bào, cơ
13


quan khắp cơ thể. Trong phòng thí nghiệm, người ta gây cảm nhiễm bằng cách
tiêm nội bì và có hiệu quả nhất. Bò và lợn, tiêm virus ở nội bì niêm mạc lưỡi.
Chuột lang thì tiêm vào nội bì gan bàn chân. Những đường tiêm bắp thịt, dưới
da, tĩnh mạch,… cho kết quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn [2].
2.4.4. Đường truyền lây
Bệnh có thể truyền trực tiếp giữ động vật ốm và động vật khỏe, lây truyền
qua phân, nước tiểu, dụng cụ chăn nuôi. Chó mèo, gia cầm không mắc bệnh
nhưng cũng là môi giới truyền mầm bệnh. Bệnh có thể lây truyền qua phương
tiện vận tải như xe máy, ô tô. Ngoài ra, động vật khỏi bệnh luôn là nguồn
gieo rắc mầm bệnh, do đó thời gian dịch bệnh kéo dài khó dập tắt ở một địa
phương [7].
Dịch lây lan mạnh là do việc buôn bán vận chuyển động vật, sản phẩm
động vật từ các nước láng giềng qua biên giới vào nước ta và giữa các vùng
miền trong cả nước. Việc giao lưu buôn bán càng được đẩy mạnh, các hoạt động
kiểm dịch động vật, kiểm soát giết mổ chưa đúng quy trình dịch bệnh càng có
điều kiện phát triển. Ngoài ra, bệnh còn phát do đưa động vật măc bệnh từ các ô
dịch về địa phương để nuôi hoặc giết mổ, qua thức ăn, nước uống.
Sự lây lan từ lợn sang bò hoặc từ bò sang bò thường qua đường không
khí. Virus có thể tồn tại trong không khí một thời gian dài. Tốc độ gió và hướng
gió là những yếu tố quan trọng trong việc lây lan mầm bệnh qua không khí.Theo
đường không khí, virus LMLM có thể phát tán với khoảng cách 60 km ở đất liền
và 200 km ở biển so với nơi xảy ra [44].

lờ đờ, uể oải, kém ăn, lông dựng, bứt rứt, khó chịu và run rẩy cơ. Khi đã tạo
mụn nước ở miệng, lưỡi, bờ và kẽ móng, con vật có biểu hiện lâm sàng đặc
trưng: Nhai nhóp nhép, run môi, chảy nước dãi liên tục như bọt xà phòng, run
chân và đi khập khiễng, đứng lên nằm xuống khó khăn. Khi các mụn nước vỡ ra
có màu vàng nhạt, thân nhiệt hạ xuống bình thường. Quan sát thấy mụn nước và
sau này là vết loét ở mõm, lưỡi, xoang miệng, núm vú và trên da giữa móng trên
và móng dưới của bàn chân [24].
Trâu bò cái thấy xuất hiện mụn nước ở núm vú, đầu vú làm vú bị sưng, da
tấy đỏ và đau. Ở bê nghé bệnh có thể nặng hơn, con vật sốt cao 41-43°C viêm
ruột, viêm phổi làm cho con vật khó thở chết. Ở nuôi trâu, bò sữa thì bệnh gây
thiệt hại hết sức nghiêm trọng, lượng sữa cạn dần [20].
Ở lợn: Con vật sốt cao 41-43°C, xuất hiện các mụn nhỏ ở miệng, bọng
nước, sau vỡ ra, có màu đỏ xám, có phủ lớp bựa, ở quang móng chân mọc các
mụn nước giống như ở miệng. Nếu là con cái thì mụn mọc quanh núm vú, bệnh
nặng thì loét dạ dày và nhiễm khuẩn kế phát.
Ở dê, cừu: Bệnh thường nhẹ, mụn mọc ở miệng rất nhỏ và biến mất rất
nhanh, có khi không rõ, mụn ở chân tương tự như bò.

15


Ở người: Người cũng có thể mắc bệnh do tiếp xúc với con vật bị bệnh và
biểu hiện triệu chứng: sốt, mụn mọc ở đầu ngón tay, bàn tay, cánh tay, có khi
một nửa trên người hay ở mặt, chân, đùi, vú, mụn ở người rất ngứa, gãi nhiều,
có khi mụn nhỏ li ti ở lợi, viêm miệng. Bệnh có thể kéo dài 10 ngày đến 3 tuần.
Trường hợp nặng, người có thể nôn mửa, tiêu chảy [7].
2.5.2. Bệnh tích
Bệnh ở đường tiêu hóa thì niêm mạc có mụn loét ở miệng, lợi, phía trong
má, mép chân răng, lưỡi, hầu, thực quản, dạ múi khế, dạ cỏ, ruột non, có khi có,
những mảng xuất huyết, thối nát, tụ huyết. Ở bộ máy hô hấp bệnh gây viêm khí

Chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM có thể thực hiện khi bệnh xảy ra tại khu
vực đã được xác định là có dịch LMLM. Hoặc căn cứ các đặc điểm dịch tễ như:
tốc độ lây lan nhanh, tỷ lệ mắc cao, tỷ lệ chết thấp, động vật móng guốc chẵn
đều mắc bệnh.
Bệnh LMLM có những triệu chứng rõ rệt dễ phân biệt với các bệnh khác
với những triệu chứng đặc trưng như con vật sốt cao, chảy nước bọt nhiều, có
biểu hiện què, có các mụn nước ở niêm mạc miệng, lợi, chân răng, lưỡi, kẽ
móng, gờ móng, ở vú. Những gia súc mới khỏi bệnh thì trên niêm mạc miệng,
lợi, chân răng, lưỡi, kẽ móng... có các vết sẹo. Đối với lợn da trắng, có thể xuất
hiện các vệt đen trên móng chân màu trắng, thông thường lợn mắc bệnh dễ bị tụt
móng chân hơn bò. Tuy nhiên việc chẩn đoán lâm sàng thường bị nhầm với các
bệnh khác như: viêm miệng mụn nước, bệnh mụn nước lợn, bệnh dịch tả trâu
bò, bệnh tiêu chảy do virus của bò, bệnh đậu bò. Khi trâu bò mắc bệnh, chẩn
đoán thông qua triệu chứng lâm sàng là tương đối chính xác, ở lợn thì cần phải
chẩn đoán phân biệt với các bệnh mụn nước [25].
17


2.6.2. Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Tại những nơi chưa bao giờ xảy ra dịch LMLM, triệu chứng lâm sàng
chỉ có tính chất định hướng trong chẩn đoán và nhất thiết phải dùng biện pháp
chẩn đoán bằng xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để khẳng định bệnh.
Bệnh phẩm thích hợp để phân lập virus LMLM là biểu mô và dịch tiết ở
các mụn nước chưa vỡ hoặc mới vỡ. Lượng tối thiểu phải từ 3-5g tổ chức tươi.
Để phát hiện kháng thể thì bệnh phẩm là máu những con nghi mắc bệnh
với lượng 3-5 ml, để máu đông chắt lấy huyết thanh. Bệnh phẩm phải được bảo
quản ở nhiệt độ lạnh.
Mẫu giám sát lưu hành virus là mẫu dịch hầu họng (Probang) bảo quản
trong dung dịch BHI, MEM:
2.6.2.1. Chẩn đoán virus học

cấy vào trong môi trường tổ chức lấy từ tuyến yên của bò hoặc của lợn, tế bào
thận bê hoặc thận cừu non hoặc các dòng tế bào có độ nhạy tương đương, khi tế
bào xuất hiện nhưng dấu hiệu bệnh tích tế bào thì lấy dịch làm phản ứng kết hợp
bổ thể [27].
2.6.2.4. Chẩn đoán bằng phản ứng ELISA
Đây là một phương pháp có độ nhạy và độ chính xác cao [33], [36],
[38], [42].
* Nguyên lý
Phản ứng ELISA dùng kháng thể hoặc kháng kháng thể gắn enzym cho
kết hợp trực tiếp hoặc gián tiếp với kháng nguyên, rồi cho cơ chất vào.
Nếu kháng thể tương ứng với kháng nguyên thì kháng thể hoặc kháng
kháng thể gắn enzym không bị rửa trôi, enzym sẽ phân giải cơ chất để tạo màu,
khi có màu trong quang phổ kế thì sẽ định lượng được mức độ phản ứng.
* Phân loại phản ứng ELISA
Phản ứng ELISA được phân thành ba loại chính như sau:
- Phản ứng ELISA trực tiếp (direct ELISA): Dùng kháng thể gắn enzym
để xác định kháng nguyên nghi cố định trên đĩa chuyên dụng.
- Phản ứng ELISA gián tiếp (indirect ELISA): Dùng kháng nguyên chuẩn
và kháng kháng thể gắn enzym để phát hiện kháng thể nghi.
- Phản ứng sandwich ELISA gồm 2 loại:
+ Phản ứng Sandwich ELISA trực tiếp (direct Sandwich ELISA): Kháng
nguyên chuẩn được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể gắn emzym.
+ Phản ứng Sandwich ELISA gián tiếp (indirect Sandwich ELISA):
Kháng nguyên chuẩn được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể nghi, sau đó
kháng thể nghi được nhận diện bằng kháng kháng thể loài gắn enzym.
19


* Ứng dụng phản ứng ELISA trong chẩn đoán bệnh LMLM
- Phản ứng ELISA phát hiện kháng nguyên virus LMLM

20


và cộng sự vào năm 1986. Độ nhạy của phản ứng LPB - ELISA tương đương
với phản ứng trung hòa virus nhưng lại không phải nuôi cấy tế bào trong xét
nghiệm. Do đó, đây là một phương pháp xét nghiệm hiệu quả, an toàn và ít tốn
kém hơn so với phương pháp trung hòa virus rất nhiều.
Kỹ thuật chẩn đoán này cho kết quả nhanh trong vòng 3-4 giờ, không phụ
thuộc môi trường mô, tỷ lệ phần trăm dương tính giả thấp. Do có thể sử dụng
kháng nguyên vô hoạt nên xét nghiệm được với số lượng chủng virus nhiều hơn.
Hiện nay, để thuận lợi cho việc chẩn đoán tại các phòng thí nghiệm, người
ta đã sản xuất các bộ kít chẩn đoán dựa trên kỹ thuật LPB - ELISA. Các thành
phần và nguyên liệu cho phản ứng vẫn có thể thực hiện được xét nghiệm dễ
dàng. Có hai loại bộ kít đã được sản xuất là bộ kít LPB - ELISA bao gồm bộ
kháng thể chuẩn để phát hiện 7 serotype virus và bộ kít LPB - ELISA phát hiện
3 hoặc 4 serotype virus LMLM.
Hiện bộ kít LPB - ELISA chẩn đoán đang được sử dụng tại Việt Nam
gồm bộ kháng thể chuẩn để phát hiện 4 serotype virus O, A, C và Asia1.
* Phương pháp NSP - ELISA (Non Structural Protein ELISA)
Những năm trước đây tổ chức Thú y thế giới (OIE) vẫn còn chưa có
hướng dẫn quy trình chính thức để phân biệt gia súc bị nhiễm virus (sau khi đã
lành bệnh) với gia súc đã tiêm phòng vaccine LMLM. Các phương pháp huyết
thanh học chính thức được hướng dẫn chỉ để định lượng kháng thể kháng
protein cấu trúc (Structural proteins – SP) của virus LMLM, nhưng không thể
phân biệt kháng thể tạo ra do gia súc nhiễm bệnh LMLM hay do tiêm phòng
vaccine.
Tìm các phương pháp huyết thanh học có thể phân biệt kháng thể có trong
huyết thanh của gia súc bị nhiễm virus LMLM với kháng thể có trong huyết
thanh của gia súc được tiêm phòng vaccine là trọng tâm nghiên cứu trong nhiều
thập niên qua.

ngày nhiễm virus ở trâu bò và 10 ngày ở dê cừu. Với việc phát hiện kháng thể
đặc hiệu kháng kháng nguyên không cấu trúc của virus LMLM, chúng ta có thể
xác định được động vật nhiễm virus LMLM với bất kỳ serotype nào, cả những
con chưa tiêm hay đã tiêm phòng vaccine, những con không có triệu trứng lâm
sàng, thậm chí cả ngay khi ổ dịch nổ ra 1 năm.
Phương pháp NSP-ELISA hoàn toàn nhạy khi sử dụng chẩn đoán cho một
đàn gia súc với số lượng lớn. Nhiều bộ kít chẩn đoán dựa trên kĩ thuật NSPELISA của các hãng khác nhau trên thế giới đã được sản xuất và sử dụng.
Nhưng đến 10/2001 sau nhiều nghiên cứu và thử nghiệm, Tổ chức thú y thế giới
(OIE) đã chính thức công nhận bốn bộ kít chẩn đoán có độ chính xác và đặc hiệu
cao trong chẩn đoán xác định gia súc nhiễm virus LMLM tự nhiên với kháng thể
trong huyết thanh của gia súc do tiêm phòng vaccine là: Chekit- FMD-3ABC
của Bommeli Diagnostics, FMDV NSP ELISA của UBI, Ceditest FMDV - NS
của Cedi Diagnostics, Priocheck®FMDV NS của Prionics.
22


- Phương pháp 3ABC - ELISA
Một trong những phương pháp chẩn đoán dựa vào việc xác định kháng
nguyên không cấu trúc được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đem lại hiệu quả
cao là phương pháp 3ABC-ELISA. Phương pháp chẩn đoán này nhằm xác định
kháng nguyên không cấu trúc 3ABC của virus LMLM. 3ABC được xác định là
một trong những kháng nguyên có khả năng kích thích gia súc sinh đáp ứng
miễn dịch cao nhất. Phương pháp 3ABC - ELISA được Bergmann cùng các
cộng sự nghiên cứu, đưa ra lần đầu tiên vào năm 1993 đã thu được nhiều thành
công khi ứng dụng rộng rãi ở Nam Mỹ.
Bộ kít thương mại được xây dựng dựa trên kĩ thuật 3ABC-ELISA được
sử dụng phổ biến trong các phòng thí nghiệm này là bộ Chekit–FMD-3ABC của
Bommeli Diagnostics – Thụy Sỹ. Bộ kít này có những ưu điểm:
+ Cho phép phát hiện kháng thể 3ABC ở bò và cừu bị nhiễm virus
LMLM với bất kỳ serotype nào sau 10-14 ngày và kéo dài 1 năm với độ chính

tín hiệu huỳnh quang tỷ lệ với sự gia tăng lượng DNA. Khi sử dụng máy
Realtime PCR, hệ thống ghi được tín hiệu huỳnh quang khi quá trình khuyếch
đại xảy ra. Ban đầu tín hiệu huỳnh quang còn ở tín hiệu nền ta không thể phát
hiện sự gia tăng tín hiệu cho dù có quá trình khuyếch đại và sản phẩm đã tăng
theo hàm mũ. Đến một thời điểm xác định, sản phẩm khuếch đại đã tạo ra đủ tín
hiệu huỳnh quang có thể phát hiện được. Chu kỳ này được gọi là chu kỳ ngưỡng
Ct (Cycle of threshold). Đây cũng là giá trị để đánh giá kết quả phản ứng.
Virus lở mồm long móng có vật chất di truyền là RNA nên trong phản
ứng Realtime PCR có thêm quá trình sao chép ngược từ RNA sang DNA gọi là
Reverse trancription nên phương pháp này gọi là Realtime RT- PCR.
Nguyên lý hoạt động của Probe
Có nhiều loại hóa chất phát huỳnh quang dựa trên primer và probe, hóa
chất được sử dụng trong phản ứng Realtime RT-PCR là Taqman Probe, Taqman
Probe được sử dụng như một trình tự oligonucleotide đặc hiệu, gắn chất huỳnh
quang gọi là mẫu dò Taqman Probe, cùng với các primer.
Taqman Probe gắn một chất huỳnh quang ở đầu 5’ và một chất hấp phụ
huỳnh quang ở đầu 3’. Khi còn nguyên vẹn, tín hiệu của chất phát huỳnh quang
bị hấp phụ do nó nằm gần chất hấp phụ. Trong giai đoạn kết hợp bắt gặp và kéo
dài DNA trong phản ứng khuếch đại, probe liên kết với trình tự đích và hoạt
động 5’- 3’ exonuclease đặc hiệu cho DNA mạch đôi của Taq sẽ cắt đứt đầu gắn
chất huỳnh quang. Kết quả chất huỳnh quang bị tách khỏi chất hấp phụ và tín
hiệu huỳnh quang phát ra tỷ lệ với lượng sản phẩm khuyếch đại trong mẫu [28].
2.7. Phòng và trị bệnh
2.7.1. Phòng bệnh
2.7.1.1. Vệ sinh phòng bệnh [25], [26]
Phải áp dụng triệt để các biện pháp vệ sinh và thực hiện nghiêm ngặt quy
định về phòng chống bệnh LMLM ở gia súc.

24


* Điều trị
Việc điều trị chủ yếu là chữa trị các triệu chứng (các vết thương ở miệng,
vùng rìa móng, giảm sốt…) và sử dụng các loại kháng sinh để ngăn ngừa phụ
nhiễm và các biến chứng xảy ra trên gia súc.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status