TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUÊ
Khoa Cơ khí - Công nghê
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu khả năng kháng nấm mốc Aspergillus flavus DC213
ở lạc bởi chế phẩm vi khuẩn đối kháng Pseudomonas putida 199B
Sinh viên thực hiên
: Nguyễn Thị Hồng
Lớp
: Công nghê thực phẩm 44
Thời gian thực tập
: 27/10/2014 – 28/2/2015
Địa điểm thực tập
: Phòng thí nghiêm khoa Cơ khí – Công nghê
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Hiền Trang
Bộ môn
: Quản lý chất lượng thực phẩm
: AFB2
Aflatoxin G1
: AFG1
Aflatoxin G2
: AFG2
Aspergillus flavus
: A. flavus
Aspergillus niger
: A. niger
Aspergillus parasiticcus
: A. parasiticcus
Chất kháng sinh
: CKS
2,4- diacetyphloroglucinol
: 2,4- DAPG,
: P. monteilii
Pseudomonas mosselii
: P. mosselii
Pseudomonas oryzihabitans
: P. oryzihabitans
Pseudomonas parafulva
: P. parafulva
Pseudomonas plecoglossicida
: P. plecoglossicida
Pseudomonas putida
: P. putida
MỤC LỤC
Lời cảm ơn............................................................................................................ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT..................................................................iii
DANH MỤC CÁC BẢNG.................................................................................viii
DANH MỤC CÁC HÌNH....................................................................................ix
PHẦN 1: MỞ ĐẦU...............................................................................................1
3.3.1.2. Phương pháp cấy chuyền P. putida 199B..............................14
3.3.2. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh và giữ giống nấm mốc A. flavus
DC213 và vi khuẩn P. putida199B..............................................................15
3.3.2.1. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh và giữ giống nấm mốc A.
flavus DC213.........................................................................................15
3.3.2.2. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh và giữ giống vi khuẩn P.
putida 199B............................................................................................15
3.3.3. Phương pháp xác định hoạt tính kháng nấm mốc A. flavus DC213. 15
3.3.4. Phương pháp đo sinh khối.................................................................16
3.3.5. Phương pháp bố trí thí nghiệm..........................................................16
3.3.5.1. Ảnh hưởng của các điều kiện thu nhận dịch chiết đến khả
năng kháng nấm mốc A. flavus DC213...............................................16
3.3.5.2. Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida 199B
đến khả năng kháng nấm mốc A. flavusDC213..................................18
3.3.6. Phương pháp phân tích khả năng sinh độc tố Aflatoxin của chủng A.
flavus DC213 bởi vi khuẩn đối kháng P. putida 199B................................19
3.3.7. Phương pháp xử lý số liệu.................................................................21
PHẦN 4: KÊT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.............................................................22
4.1. Khảo sát ảnh hưởng của các điều kiện thu nhận dịch chiết vi khuẩn P.
putida 199B đến khả năng kháng nấm mốc A. flavus DC213........................22
4.1.1. Ảnh hưởng của điều kiện nhiệt độ.....................................................22
4.1.2. Ảnh hưởng của điều kiện pH.............................................................25
4.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện thời gian...................................................27
4.1.4. Ảnh hưởng của tốc độ lắc..................................................................31
4.2. Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida199B đến
khả năng kháng nấm mốc A. flavusDC213.....................................................34
4.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết đến kích thước của đường kính
tảng nấm......................................................................................................34
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.2. Nồng độ tương ứng với dung dịch aflatoxin chuẩn.............................20
Bảng 4.1. Đường kính tản nấm A. flavus DC213 sau khi kháng bởi.................22
dịch chiết vi khuẩn P. putida199B theo nhiêt độ...............................................22
Bảng 4.2. Đường kính tản nấm A. flavus DC213 sau khi kháng bởi dịch chiết. 25
vi khuẩn P. putida 199B theo pH.......................................................................25
Bảng 4.3. Đường kính tản nấm A. flavus DC213 sau khi kháng bởi dịch chiết. 28
vi khuẩn P. putida 199B theo thời gian..............................................................28
Bảng 4.4. Đường kính tản nấm A. flavus DC213 sau khi kháng bởi dịch chiết. 31
vi khuẩn P. putida199B theo tốc độ lắc...............................................................31
Bảng 4.5. Đường kính tảng nấm A. flavus DC213 sau khi kháng bởi dịch chiết
.............................................................................................................................34
vi khuẩn P. putida 199B theo nồng độ................................................................34
Bảng 4.6. Kết quả ức chế A. flavus DC213 của dịch chiết..................................38
vi khuẩn P. putida199B theo nồng độ................................................................38
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Hình ảnh về nấm mốc A. flavus [47].....................................................3
Hình 2.2. Hình ảnh về A. flavus [44].....................................................................3
Hình 2.3. Đặc điểm cấu tạo của A. flavus [10]......................................................4
Hình 2.4. Một số loại thực phẩm bị nhiễm A. flavus [37].....................................5
Hình 2.5. Công thức cấu tạo của Aflatoxin B1, B2, G1, G2 [46]..........................7
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiên khả năng ức chế A. flavus của dịch chiết.................22
vi khuẩn P. putida 199B khi thay đổi nhiêt độ..................................................22
Hình 4.2. Kết quả kháng A. flavus DC213 sau 2 ngày của dịch chiết................24
vi khuẩn P. putida 199B khi thay đổi nhiêt độ...................................................24
Hình 4.3. Kết quả kháng A. flavus DC213 sau 3 ngày của dịch chiế.................24
vi khuẩn P. putida 199B khi thay đổi nhiêt độ..................................................24
Hình 4.18. Kết quả kháng A. flavus DC213 sau 2 ngày của dịch chiết..............37
vi khuẩn P. putida199B khi thay đổi nồng độ...................................................37
Hình 4.19. Kết quả kháng A. flavus DC213 sau 3 ngày của dịch chiết..............37
vi khuẩn P. putida199B khi thay đổi nồng độ....................................................37
Hình 4.20. Kết quả kháng A. flavus DC213 sau 3 ngày của dịch chiết..............37
vi khuẩn P. putida199B khi thay đổi nồng độ....................................................37
Hình 4.21. Biểu đồ thể hiên khả năng thu nhận sinh khối của A. flavus DC312
khi thay đổi nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida199B....................................38
Hình 4.22. Khả năng thu nhận sinh khối của A. flavus DC312 khi thay đổi nồng
độ dịch chiết vi khuẩn P. putida 199B................................................................39
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Aspergillus flavus (A. flavus) được xem là loài vi sinh vật được phân bố
khắp mọi nơi: dưới đất, trên các chất hữu cơ, và các loại hạt, nhất là các hạt có
dầu. Nấm mốc độc A. flavus gặp nhiều ở các loại lương thực, thực phẩm khác
nhau, nhưng các loại hạt có dầu (đặc biệt là lạc) thích hợp nhất cho sự phát triển
của nó, và cũng ở lạc độc tố Aflatoxin hình thành mạnh nhất. Loài A. flavus rất
dễ nhận biết bởi màu vàng hơi lục và dạng ít nhiều vón cục của tán [13].
Độc tố aflatoxin do A. flavus tạo ra là độc tố cao, gây ung thư, suy giảm hệ
thống miễn dịch, chậm phát triển và có thể gây tử vong ở người, vật nuôi [29].
Các độc tố bao gồm B1, B2, G1, G2, M1 và M2 [33]. Aflatoxins được quy định
trong phần tỷ (ppb), dao động với mức tối đa cho phép khác nhau và mục đích sử
dụng của hàng hóa. Số lượng cho phép trong thực phẩm Mỹ dao động từ 0,5 ppb
đến 20 ppb. Chủng A. flavus được phân lập từ nhóm thực vật khác nhau có thể
sản xuất số lượng Aflatoxin khác nhau và các loại nấm thường trú tại các khu vực
khác nhau thường khác nhau về tiềm năng sản xuất trung bình aflatoxin [29].
Hiện nay, việc nghiên cứu mức độ nhiễm nấm mốc và độc tố nấm trên
lương thực, thực phẩm là vấn đề quan trọng nhằm bảo vệ sức khoẻ con người và
2. Mục tiêu của đề tài
- Ức chế sự phát triển của nấm A. flavus trong điều kiện invitro từ đó áp
dụng vào việc bảo quản lạc sau thu hoạch.
- Làm giảm khả năng sinh độc tố Aflatoxin của chủng A. flavus ở lạc sau
thu hoạch nói riêng và các sản phẩm nông sản nói chung.
2
PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU
2.1. Tổng quan về nấm mốc A. flavus
A. flavus thuộc:
+ Giới: Fungi.
+ Ngành: Ascomycota.
+ Lớp: Eurotiomycetes.
+ Bộ: Eurotiales.
+ Họ: Trichocomaceae.
+ Giống: Aspergillus.
+ Loài: A. flavus
Hình 2.1. Hình ảnh về nấm mốc A. flavus [47].
2.1.1. Hình thái
Loài A. flavus rất dễ nhận biết bởi màu vàng hơi lục và dạng ít nhiều vón cục
của tán. Ở đỉnh các cuống bào tử đính mọc thẳng đứng, có vách sần sùi, hình thành
những đầu mang bào tử đính có dạng gần hình cầu đến thuôn dài. Các thể chai hoặc
đính trực tiếp vào đầu mang bào tử đính (thể bình một lớp) hoặc qua một lớp thể
trung gian (thể bình hai lớp), đôi khi cả 2 kiểu đồng thời tồn tại [13].
Các bào tử có kích thước khá lớn (đường kính từ 5-7 µm) hình cầu,
vàng nâu đến hơi lục, hơi sần sùi. Còn ở loài Aspergillus parasiticcus
(A. parasiticcus) thì cuống bào tử đính nhẵn và thể bình một lớp [13].
Nấm mốc A. flavus gặp nhiều ở các loại lương thực, thực phẩm khác nhau,
nhưng các loại hạt có dầu (đặc biệt là lạc) thích hợp nhất cho sự phát triển của
nó, và cũng ở lạc độc tố Aflatoxin hình thành mạnh nhất. Người ta nghiên cứu
hơn 1000 mẫu lạc thí nghiệm thì thấy lạc hạt có 3,3% số củ là rất độc - 1kg chứa
4
trên 0,25mg Aflatoxin B1 (độc tố chủ yếu của A. flavus) và 21,7% số củ độc
vừa, 75% số củ không độc. Còn trên khô lạc: 42% số mẫu là rất độc, 49,3% độc
vừa và chỉ có 8,7% là không độc. Như vậy chất độc tích lũy lại trong khô lạc là
do sự chế biến, hoặc do A. flavusphát triển mạnh lên [13].
Hình 2.4. Một số loại thực phẩm bị nhiễm A. flavus [37]
Gạo và lạc là nguồn lương thực, thực phẩm rất cần thiết và quan trong đối
với con người. Song nếu gạo và lạc không đảm bảo an toàn thì đây lại là nguồn
lây nhiễm cho con người những căn bệnh hiểm nghèo, đặc biệt là ung thư gan.
Đứng trên góc độ an toàn thực phẩm, các nhà khoa học đều cho rằng tác nhân
gây ngộ độc thực phẩm lớn nhất trong gạo và lạc là nấm mốc [16], [17].
Lạc và các sản phẩm từ lạc là nơi phát triển ưa thích nhất của A. flavus.
Không phải chỉ có duy nhất loài này, nhiều loài nấm khác thường đi kèm với nó,
trong số này một số lớn loài cũng được xem là độc với súc vật như loài
Fusarium trong đó có Fusarium monoliforme (F. monoliforme), loài Rhizopus,
loài Penicillium citrinum (Pe. Citrinum), Pe. purpurogenum...[13].
Lạc có chứa 7,4% là nước, protein: 28%, lipid: 44,5%, glucid: 15% và
nhiều chất khác. Các nhà khoa học cũng đã phân lập được ở trong lạc có một
loài nấm độc A. flavus và thấy rằng các trường hợp ngộ độc trước đây đều liên
quan đến nấm mốc độc đó. Nấm mốc độc này cũng có gặp ở trong một số ngũ
cốc khác nhưng với lạc có thể là môi trường thuận lợi nhất cho nó phát triển.
Nấm mốc khi xâm nhập vào trong lạc chúng phát triển làm cho lạc bị mốc xanh
hoặc mốc vàng. Đặc biệt nấm mốc này sinh ra độc tố Aflatoxin [13], [16].
chúng sẽ nảy mầm với tỷ lệ 7%, nếu nâng nhiệt độ nhanh, tỷ lệ nảy mầm sẽ là 75%.
Tuy chịu được nhiệt độ rất thấp nhưng bào tử cũng không bị chết ở nhiệt độ
cao tới 530C. Ngược lại, chúng rất mẫn cảm với các biến đổi độ ẩm. Độ ẩm thích
hợp cho A. flavus phát triển là 80 - 85%, chúng bị chết sau một tháng ở độ ẩm
75%, trong khi đó thì 40% số bào tử vẫn sống được 6 tháng ở độ ẩm 85%.
Nếu sự tăng trưởng của A. flavus thấp nhất ở môi trường có pH =3,9 thì nó
lại tối ưu ở pH = 5,5 [10].
2.1.5. Độc tố Aflatoxin do A. flavus sản sinh
6
Aflatoxin là tên đã được dùng để gọi một hỗn hợp độc tố do A. flavus sinh
ra trước khi bản chất phức tạp của mỗi hợp chất được biết rõ. Thực ra, A. flavus
chủ yếu sản sinh ra Aflatoxin B1 và các Aflatoxin khác có bản chất hóa học
tương tự gọi là Aflatoxin G1, B2, G2 [32]. Trong khi hầu hết các chủng
A.parasiticus đều sinh độc tố thì ở A. flavus sự sản sinh độc tố Aflatoxin thay
đổi theo từng chủng. Mặt khác, nó còn phụ thuộc vào điều kiện xung quanh, sự
sản sinh Aflatoxin là kết quả của sự tác động qua lại giữa genotype của chủng
đó và điều kiện phát triển của nó [13].
2.1.5.1. Công thức cấu tạo và một số tính chất lý hoá của
Aflatoxin
Công thức phân tử của 4 loại Aflatoxin (AFB1, AFB2, AFG1, AFG2):
• AFB1 : C17H12O6
• AFB2 : C17H14O6
• AFG1 : C17H12O7
• AFG2 : C17H14O7
Hình 2.5. Công thức cấu tạo của Aflatoxin B1, B2, G1, G2 [46]
Trong đó, AFB2 và AFG2 là dẫn xuất dihydroxy của B1 và G1 (Victoria,
2001: Nabil Saad, 2004).
• Tiêu giảm sự tổng hợp RNA và ức chế RNA truyền tin.
• Xuất hiện những hình thái hạt nhân.
• Giảm bớt sự tổng hợp protein.
2.2. Tổng quan về vi khuẩn P. putida
2.2.1. Đặc điểm chung của vi khuẩn P. putida
"Pseudomonas" là một thuật ngữ chung cho một nhóm đa dạng của các vi
khuẩn có hình thái và sinh lý giống như các thành viên của chi Pseudomonas.
8
Gram âm, hình que, không hình thành bào tử, thường di động dể dàng với một hoặc
nhiều roi cực, chuyển hóa hiếu khí, và di động hơn bởi một roi cực duy nhất [26].
P. putida thuộc [42]:
- Giới: Eubacteria
- Loài: P. putida
- Chi: Pseudomonas
- Họ: Pseudomonadaceae
- Bộ: Pseudomonadales
- Lớp: Gammaproteobacteria
- Ngành: Proteobacteria
P. putida gồm có 8 nhóm, bao gồm: P. cremoricolorata, P. fulva, P.
monteilii, P. mosselii, P. oryzihabitans, P. parafulva, P. plecoglossicida, P. putida
[45].
P. putida là loài vi khuẩn Gram âm, nó thích nghi với môi trường trong đất,
thủy sản và trong vùng rễ cây (Timmis, 2002; Dos Santos và cộng sự, 2004)
[21]. P. putida là loại vi khuẩn phát triển nhanh chóng, được phân lập từ hầu hết
các loại ở đất ôn đới và nước, đặc biệt là từ đất bị ô nhiễm [26].
Nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng 25 - 30 0C, pH cho sinh trưởng 4 - 8, chịu
NaCl: 1 - 5% [3].
Một số loại chủng như P. alcaligenes, P. aurantiaca, P. aureofaciens, P.
được xác định là putisolvin của nó có khả năng ức chế sự sinh trưởng của nấm ở
điều kiện in vitro [4].
Ngoài ra, theo tác giả Tran và đồng tác giả (2008) [4], thì 5 chủng vi khuẩn
P. putida (150A, 269A, 199B, 267C và 214 D) và chất hoạt hoá bề mặt
(biofurfactant) được xác định là putisolvin của chúng có khả năng phân giải bào
tử động (zoospores) của nấm P. capsici và P. infestans và đây được xem là một
trong các cơ chế của vi khuẩn này trong hạn chế bệnh do nấm Phytophthora gây
ra. Vì vậy, các chủng này có khả năng hạn chế bệnh chết nhanh hồ tiêu ở giai
đoạn vườn ươm, hai chủng vi khuẩn có hiệu quả nhất là 150A và 214D (Tran et
al., 2008). Tuy nhiên ở nghiên cứu này, các chủng vi khuẩn này không có khả
năng phân giải bào tử phân sinh của nấm A. niger, nhưng chất putisolvin của
chúng có khả năng ức chế sự sinh trưởng của nấm ở điều kiện in vitro (số liệu
10
chưa công bố). Trong đó putisolvin của 2 chủng 214D và SS101 cũng thể hiện
phả năng ức chế sự sinh trưởng của sợi nấm A. niger mạnh nhất. Vì vậy, cơ chế
hạn chế bệnh HRGMĐ của 2 chủng 214D và SS101 có thể là tác động trực tiếp
do sự tồn tại của vi khuẩn phía ngoài thân gốc 30 ngày sau gieo đạt khá cao 4,96
CFU/g (214D) và 6,51 CFU/g (SS101) (Bảng 6) còn nấm A. niger xâm nhập và
gây hại từ bộ phận gốc thân của cây lạc. Chính vì sự tồn tại của vi khuẩn ở phía
ngoài gốc thân có tác dụng trực tiếp ngăn cản sự xâm nhập của nấm A. niger [4].
Theo nghiên cứu của Sunish và cộng sự (2005) [23], thì P. chlororaphis
PCL1391 và P. aeruginosa PA01 có khả năng tạo ra PCN. Hoạt động kiểm soát
sinh học của PCN đã được tìm thấy là cao hơn 10 lần so với PCA trong pH
trung tính (Chin-A-Woeng và cộng sự, 1998).
2.2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
2.2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, các nghiên cứu trước đây trên đối tượng nấm mốc A. flavus
chỉ tập trung vào mức độ nhiễm nấm mốc và sự sản sinh Aflatoxin.
khuẩn P. fluorescens đối kháng với nấm Sclerotium rolfsii gây bệnh trên cây cà
chua” cũng đã thành công trong quá trình thực hện [35].
Ngoài ra, Trần Ngọc Lân và cộng sự (2013), nghiên cứu về miêu tả loài
Tricoderma atroviride Karst (T. atroviride Karst) và ứng dụng trong phòng trừ
sinh học nấm mốc A. flavus hại nông sản. Kết quả nghiên cứu 18 chủng T.
atroviride thu thập từ ba tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh với A. flavus cho thấy:
8 chủng đối kháng rất cao (44,44%) và 3 chủng đối kháng cao (16,67%), còn lại là
đối kháng thấp (chiếm 38,89%) [6].
2.2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trên thế giới hiện nay, các đối tượng nấm mốc và vi khuẩn Pseudomonas
đã được nghiên cứu khá lâu và rộng rãi, điển hình như:
Trong những năm đầu sáu mươi, ngộ độc thức ăn chăn nuôi do ăn đậu
phộng bị ô nhiễm dẫn đến cái chết của hơn 100.000 gà tây bị hoại tử gan cấp
tính, Blout (1961); Sargeant và cộng sự (1961); Nesbitt và cộng sự (1962). Van
der Heijden và cộng sự (1962), đã xác định được độc tố sản xuất nấm là A.
flavusvà các độc tố đặt tên là Aflatoxin B1, B2, G1, G2 [32].
Jee và Kim (1987), nghiên cứu sự đối kháng giữa vi khuẩn và nấm
đối với mầm bệnh héo rũ dưa leo. Những chủng chính đã được chọn lọc là
12
P. fluorescens, P. putida và Serratia sp, nấm đối kháng thì có Giocladium sp, T.
harzianum và T. viridae. Trong môi trường agar lỏng, vi khuẩn đối kháng ức chế
sự nảy mầm của bào tử F. oxysporum, cucumerium từ 26-45% [43].
Kell (1992), chia vi khuẩn Pseudomonas thành 2 nhóm dựa trên số hợp
chất kháng khuẩn tạo ra. Nhóm 1 gồm những dòng vi khuẩn phân lập từ thuốc
lá, cà chua, dưa chuột, bông vải tạo ra các chất kháng sinh: DAPG, HCN,
pyoluteprin. Nhóm thứ 2 gồm vi khuẩn tạo DAPG, HCN [43].
Theo Rindran và Vidhyaekaran (1996), những loài vi khuẩn P. fluorescens
phát huỳnh quang phân lập từ vùng rễ cũng kìm hãm sự phát triển của nấm
- Ảnh hưởng của tốc độ lắc
3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida 199B
đến khả năng kháng nấm mốc A. flavus DC213
- Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida199B đến kích thước
của đường kính tảng nấm A. flavus DC213
- Ảnh hưởng của nồng độ dịch chiết vi khuẩn P. putida199B đến khả năng
thu nhận sinh khối của nấm mốc A. flavus DC213
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp cấy chuyền nấm mốc A. flavus DC213 và vi khuẩn
P. putida 199B
3.3.1.1. Phương pháp cấy chuyền nấm mốc A. flavus DC213
Ống giống của nấm mốc A. flavus DC213 sau khi được lấy ra từ tủ lạnh sẽ
được dùng để cấy chuyền. Môi trường được sử dụng để cấy chuyền là PDA ½.
Dùng que cấy lấy bào tử từ ống giống chuyển sang đĩa pepti, quan sát đĩa pepti
sau 24 - 48 giờ. Cấy chuyền cho đến khi xuất hiện khóm nấm đồng nhất, mang
đặc điểm của A. flavus (màu xanh lục hoặc vàng lục) thì dừng lại [9].
3.3.1.2. Phương pháp cấy chuyền P. putida 199B
14
Môi trường để cấy chuyền vi khuẩn P. putida 199B là môi trường
pseudomonas agar. Ống giống của vi khuẩn P. putida 199B sau khi cất giữ trong
tủ lạnh sẽ được lấy ra để cấy chuyền. Dùng que cấy đầu tròn để lấy khuẩn lạc từ
ống giống chuyển sang đĩa pepti. Tiến hành quan sát đĩa pepti sau 24-48 giờ.
Cấy chuyền vi khuẩn cho đến khi xuất hiện những khuẩn lạc mọc riêng rẽ và
mang đặc điểm của vi khuẩn P. putida thì dừng lại [9].
3.3.2. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh và giữ giống nấm mốc A. flavus DC213
và vi khuẩn P. putida199B
3.3.2.1. Phương pháp nuôi cấy tăng sinh và giữ giống nấm mốc
A. flavus DC213