Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm cây bần chua (sonneratia caseolaris(l ) engl ) ở vườn ươm vùng cát huyện quảng điền, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 34

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Xu thế công nghiệp hóa – hiện đại hóa đã mang lại cho cuộc sống của con
người sự sung túc về vật chất tuy nhiên kèm theo đó là sự suy thoái môi trường
nghiêm trọng. Thiên tai bảo lũ xuất hiện ngày càng nhiều cả về số lượng và chất
lượng. Ý thức được điều này công cuộc khắc phục, bảo vệ môi trường càng ngày
càng được chú trọng. Rừng ngập mặn nói chung và cây Bần Chua nói riêng với
những tác dụng to lớn của mình trong phòng hộ, cải thiện môi trường, duy trì đa
dạng sinh học.vv..Đã được quan tâm đầu tư nhằm phát triển và bảo tồn. Trong
những năm gần đây nhu cầu giống cây Bần Chua rất lớn tuy nhiên do kỹ thuật
gieo ươm cây Bần chua còn hạn chế dẫn đến một số vùng không đáp ứng đủ nhu
cầu về giống. Do vậy trong bài khóa luận tốt nghiệp này tôi muốn “Nghiên cứu
kỹ thuật gieo ươm cây Bần chua (Sonneratia caseolaris(L.) Engl.) ở vườn
ươm vùng cát huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ”. Nhằm góp phần
hoàn thiện kỹ thuật gieo ươm cây Bần chua hiệu quả và cung cấp nguồn giống
phục vụ gây trồng thử nghiệm tại khu vực phía Bắc phá Tam Giang. Đồng thời
để tìm hiểu sự tác động của rừng Bần đến đời sống của người dân chúng tôi
cũng tiến hành điều tra tình hình khai thác gây trồng của người dân đối với rừng
Bần tại xã Quảng Hải, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Với các mục tiêu đánh giá mức độ thành công khi gieo ươm cây Bần
Chua ở nơi có môi trường khác với nơi sinh sống của loài. Xác định các nhân tố
gây hại đến cây Bần chua khi gieo ươm ở vùng sinh thái đất cát và biện pháp
phòng chống. Xác định mức ảnh hưởng của chế độ tưới nước và giá thể đến sinh
trưởng và phát triển của cây Bần chua ở giai đoạn vườn ươm. Đề xuất bổ sung
kỹ thuật sản xuất giống cây Bần chua để phục vụ hoạt động trồng rừng ngập
mặn và đánh giá được thực trạng khai thác sử dụng, gây trồng và ý thức bảo vệ
rừng Bần của người dân tại xã Quảng Hải, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
Chúng tôi đã tiến hành đề tài bằng phương pháp: Thu thập các tài liệu thứ cấp có
liên quan tới vấn đề nghiên cứu, thừa kế các tài liệu khác như báo cáo khoa học,
các đề tài liên quan. Bố trí các thí nghiệm đồng nhất nhưng khác nhau về các
yếu tố nghiên cứu như giá thể, chế độ tưới, phương pháp tưới nhằm tìm ra các
công thức tốt nhất cho việc gieo ươm cây Bần Chua. Đồng thời Phỏng vấn

nhiên tình hình gây trồng ở đây chưa được chú trọng quan tâm đầu tư đúng
mức.
Đề tài vẫn còn nhiều thiếu sót và một vài yếu tố quan trọng vẩn chưa thể
nghiên cứu chuyên sâu nên chúng tôi có một số kiến nghị như sau: Trong quá
trình thí nghiệm ở vườn ươm tại Quảng Điền chúng tôi nhận thấy loài Bần chua
khá thích hợp với các giá thể có bổ sung một lượng biochar nhất định. Tuy nhiên
trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chưa thể bố trí thí nghiệm để tìm
ra lượng biochar tốt nhất. Vì vậy cần có những nghiên cứu chuyên sâu hơn
nhằm tìm ra loại giá thể có lượng biochar thích hợp. Trong phạm vi nghiên cứu
của đề tài chúng tôi thí nghiệm ảnh hưởng của loại nước tưới đến sinh trưởng
của cây con. Với loại nước tưới là nước ngọt tự nhiêm tại chổ có bổ sung hàm
lượng muối chúng tôi đã lựa chọn tỷ lệ muối là 10 ‰. Tuy nhiên hàm lượng


muối khác nhau sẽ ảnh hưởng khác nhau đến sự sinh trưởng của cây con. Vì vậy
cần có những nghiêm cứu chuyên sâu hơn nhằm tìm ra hàm lượng muối thích
hợp cho cây trong giai đoạn gieo ươm. Nên có thêm những nghiên cứu chuyên
sâu hơn về chế độ che bóng cho cây con.
Về phần điều tra phỏng vấn chúng tôi có một số kiến nghị như sau: Trong
quá trình điều tra chúng tôi nhận thấy trữ lượng Bần Chua tại xã Quảng Hải là
khá lớn tuy nhiên vẫn chưa có các biện pháp quản lý chặt chẻ nhằm bảo vệ rừng.
Để cây Bần chua phát triển lâu dài cần có những chính sách quản lý phù hợp.
Là một xã nằm giữa lòng sông Gianh, tuy nhiên cây Bần Chua chỉ phân
bố ở một số vùng. Vì vậy hằng năm ở đây vẫn hứng chịu nhiều thiệt hại do bảo
lũ. Theo điều tra của chúng tôi có sự khác biệt rõ rệt về thiệt hại của những vùng
có rung và không có rừng Bần. Việc nhân giống, xúc tiến tái sinh và trồng thêm
cây Bần tại địa phương là rất cần thiết.


PHẦN I: MỞ ĐẦU

RNM tại Thừa Thiên Huế không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ
vùng ven bờ, hạn chế ảnh hưởng bất lợi của lụt, bão mà còn góp phần tạo ra
những sinh cảnh đẹp bên phá Tam Giang - Cầu Hai và góp phần làm phong phú
đa dạng sinh học thủy vực.
1


Trước thực tế này việc trồng rừng để khôi phục và phát triển thêm RNM ở
Việt Nam cũng như tại Thừa Thiên Huế là việc làm cần thiết và cấp bách.Trong
những năm gần đây được sự giúp đỡ của một số tổ chức quốc tế và sự quan tâm
của chính phủ Việt Nam, sự tham gia tích cực có hiệu quả của các chuyên gia về
RNM đã lựa chọn được nhiều loài cây trồng RNM thích hợp sinh trưởng tốt, vừa
có tác dụng bảo vệ đê biển, cải thiện và tạo môi trường sống tốt cho các loài
thủy sản có giá trị. Trong đó cây Bần chua là một trong những loài có giá trị về
kinh tế lẫn phòng hộ.
Bần chua có tên khoa học là Sonneratia caseolaris, là loài cây nằm trong
hệ sinh thái rừng ngập ven biển. So với một số lòai cây ngập mặn ven biển khác
Bần chua Sonneratia có những đòi hỏi khác biệt về môi trường sống. Chúng
thường mọc thành những quần thụ lớn ở những vùng cửa sông ngập có một mùa
nước ngọt trong năm. Cũng có khi mọc chung với những lòai cây khác như:
Trang, Sú, Giá… sự phong phú của quần thụ này phụ thuộc vào độ mặn của
nước biển và mức độ dao động của thủy triều. Bần được xem như lòai cây rất
quan trọng cho việc phòng hộ chống xói lở ở vùng bãi biển cửa sông do có
nhiều đặc điểm sinh thái ưu việt. Trong những năm gần đây nhu cầu giống cây
Bần chua rất lớn tuy nhiên do kỹ thuật gieo ươm cây Bần chua còn hạn chế dẫn
đến một số vùng không đáp ứng đủ nhu cầu về giống. Do vậy trong bài khóa
luận tốt nghiệp này tôi muốn “Nghiên cứu kỹ thuật gieo ươm cây Bần chua
(Sonneratia caseolaris(L.) Engl.) ở vườn ươm vùng cát huyện Quảng Điền,
tỉnh Thừa Thiên Huế”. Nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật gieo ươm cây Bần
chua hiệu quả và cung cấp nguồn giống phục vụ gây trồng thử nghiệm tại khu

lăng (Lythraceae). Tên khoa học của chi này còn là Blatti do James Edward
Smith đặt, nhưng Sonneratia có độ ưu tiên cao hơn. Chúng là các loài cây thân
gỗ sinh sống trong các cánh rừng tràm đước ven biển.
Chi Sonneratia chứa khoảng 14-16 loài, trong đó loài quan trọng là cây Bần
Chua (Sonneratia caseolaris (L.) Engl.) và cây Bần ổi (Sonneratia alba).[11]
2.1.2. Phân bố
Là một loài cây rừng ngập mặn nên sự phân bố của cây Bần Chua gắn liền
với sự phân bố của rừng ngập mặn trên thế giới. Rừng ngập mặn có vai trò rất to
lớn trong việc đảm bảo cân bằng sinh thái cho vùng đất ngập nước ven biển
đồng thời đảm bảo ổn định của đới bờ biển. Bần là một cây đi tiên phong trước,
khi môi trường bùn mặn như ở cửa sông thường ngập nước mới bắt đầu thành
lập, giử vai trò ổn định môi trường nhờ hệ thống rể trải rộng liên kết để giử bùn
được liên tục bồi đấp[8]. Đối với nghiên cứu Phan Nguyên Hồng, (1987) RNM
phân bố chủ yếu ở vùng xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu.

3


Theo ông Achim Steier (1987) cho biết hiện nay có khoảng 150.000
km RNM được tìm thấy tại 123 nước trên thế giới. Khu vực tập trung RNM lớn
nhất thế giới là Indonesia chiếm 21%, Brazil có 9% và Úc là 7%. Tuy nhiên theo
một nghiên cứu của Hutechings và Seager (1987) cho rằng diện tích rừng ngập
mặn trên thế giới là 15.429.000 ha, trong đó 6.246.000 ha nằm ở Châu Á nhiệt
đới và Châu Đại Dương, 5.781.000 ha nằm ở vùng Châu Mỹ nhiệt đới cá
3.402.000 ha thuộc Châu Phi.
Dựa vào việc tính toán trên bản đồ và công nghệ viễn thám ( Spalding và
cộng sự, (1997) lại thống kê thấy diện tích vùng ngập mặn trên thế giới là
181.077 km2 và được phân bố theo bảng 2.1.
Bảng 2.1. Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới
Vùng

Trên phạm vi toàn cầu, Wash (1974) cho rằng sự phân bố của địa lý của
RNM chia làm hai khu vực chính là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương bao
gồm Nhật Bản, Philipin, Ấn Độ, Đông Nam Ắ, bờ biển Hồng Hải, Đông Phi và khu
vực 2 là Tây Phi và Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi ở Đại Tây Dương.
Cây Bần là loài cây rừng ngập mặn nhiệt đới, có nguyên sản ở vùng Nam
Á và Đông Nam Á, được phát tán rộng khắp Châu Á , Châu Phi và Châu Đại
dương.
Cụ thể chúng có nguồn gốc từ Bangladesh, Sri Lanka, Nam Á Châu, Phi
Luật Tân và Úc Châu. Tại Ấn độ những rừng ngập nước chạy dọc theo bờ biển
của bán đảo Ấn độ và trong đảo Andaman và Nicobar. Ở Tích Lan, được gặp
trong vùng Tây Nam.
Hiện nay các nước có nhiều cây Bần mọc hoang và được trồng như: Châu Phi,
Sri- Lanka, Mianma, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Philippin, Indonesia, Timor,
Đảo Hải Nam (Trung Quốc), Đông Bắc Australia và một số nước ở Châu Đại dương
như Niughnia, New Guinea, Solomon Islands, New Hebrides…(Little, 1983)[15].

4


Ghi chú :

Khu vực có cây Bần Chua

Hình 2.1. Một số vùng phân bố của Bần Chua trên thế giới.[15]
2.2. Ở Việt Nam
Tên:
• Tên khoa học: Sonneratia caseolaris (L.) Engl.
• Tên gọi khác: Bần sẻ, Bần dĩa (Nam Bộ), Thủy liễu.
2.2.1. Phân bố
Ở Việt Nam cây Bần mọc hoang và được trồng ở rừng ngập mặn ven biển

sông. Trên các lạch là quần thể sú và Ô rô...vv..Các quần thể này ở dạng cây bụi
và thấp cằn cỗi.
3/. Khu vực III: Ven biển trung bộ từ mũi Lạch Tường đến mũi Vũng Tàu.
Khu vực này được chia làm 3 tiểu khu.
• Tiểu khu 1: Từ Lạch Trường đến mũi Ròn.
Ở đây quần thể cây Bần Chua chiếm ưu thế xuất hiện ở trong cửa sông,
dọc theo sông, chiều cao trung bình 6-8m. Tầng dưới là Ô rô, sú, Ráng, Giá…
phía nam tỉnh Hà Tĩnh, ở phía trong cửa sông xuất hiện quần thể Mắm, Đâng,
Sú, Vẹt dù và quần thể Bần Chua chiếm ưu thế.
• Tiểu khu 2: Từ Ròn đến mũi đèo Hải Vân.
• Tiểu khu 3: Từ đèo Hải Vân đến mũi Vũng Tàu.
4/. Khu vực IV: Ven biển Nam Bộ. Khu vực này được chia làm 4 tiểu khu.
• Tiểu khu 1: Từ mũi Vũng Tàu đến cửa sông Soài Rạp. (ven biển Đông Nam Bộ).
• Tiểu khu 2: Từ cửa sông Soài Rạp đến cửa sông Mỹ Thanh ( ven đồng
Bằng sông Cửu Long).
• Tiểu khu 3: Từ cửa sông Mỹ Thanh đến cửa sông Bảy Háp ( ven biển
Tây Nam bán đảo Cà Mau).
• Tiểu khu 4: Từ cửa sông Bảy Háp ( mũi Bà Quan) đến mũi Nãi, Hà
Tiên ( ven biển phía Tây bán đảo Cà Mau) [7]
2.3. Đặc điểm hình thái
• Thân: Bần Chua thuộc loài thân gổ đại mộc, có nhiều cành. Cây gỗ
cao 10-15m, có khi cao tới 25m. Cành non màu đỏ, 4 cạnh, có đốt phình to. Gổ
xốp, bở, vỏ thân chứa nhiều tanin.
• Rễ: Rễ gốc to, khỏe, mọc sâu trong đất bùn. Từ rễ mọc ra nhiều rễ
thở, bất hay Cạt bần (Nam Bộ) thành từng khóm quanh gốc.
• Lá: Lá đơn, mọc đối, dày, giòn, hơi mọng nước, hình bầu dục hoặc
trái xoan ngược hay trái xoan thuôn, thon hẹp thành cuống ở góc, cụt hay tròn ở
chóp, dai, dài 5-10cm, rộng 35-45mm. Cuống và một phần gân chính màu đỏ,
gân giữa nổi rõ ở cả 2 mặt, cuống dài 0,5 - 1,5cm.
• Hoa: Cụm hoa ở đầu cành, có 2-3 hoa, rộng 5cm, có cuống hoa ngắn.

- Nhóm chịu mặn cao (10-35 ‰) gồm một số loài mắm, đâng, đưng,dà
quánh, vẹt trụ…
- Nhóm chịu độ mặn cao trung bình: (15-30‰) có đước,vẹt,tách, vẹt
dù,sú…
- Nhóm chịu mặn tương đối thấp (7-20‰) có trang, vẹt, tách, ô rô, quao
nước , cốc kèn…
• Loại có biên độ muối hẹp gồm:
- Nhóm cây mọng nước , chịu độ mặn cao (20-33‰) có bần trắng , bần ổi
- Nhóm cây thảo mọng nước chịu mặn cao (25-30‰) có muốn biển, sam
biển, hến hải nam
- Nhóm cây nước lợ điển hình (có độ mặn 5-15‰ hoặc thấp hơn )gồm
dừa nước, bần chua, mái dầm…
- Nhóm cây nước lợ sống trên cạn, độ mặn thấp (1-10‰) từ nội địa phát
tán ra vùng nước lợ [5]
7


- Như vậy cây Bần Chua là loài thích hợp với vùng nước lợ, khả năng
chịu mặn tương đối kém hơn so với các loại cây ngập mặn khác như đước, mắm,
vẹt..vv…
2.5.1. Nhiệt độ
Cây Bần Chua phân bố phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận xích đạo
nên môi trường không khí, nhiệt độ có những yếu tố đặc trưng. Ở những nơi có
biên độ nhiệt thích hợp và ít giao động, cây Bần Chua có điều kiện sinh trưởng
và phát triển tốt, cho nên khi phát tán, hạt giống có điều kiện nảy mầm tối ưu
nhất. Ngược lại ở những nơi có biên độ nhiệt giao động lớn thì quá trình sinh
trưởng sẽ diễn ra chậm cho nên cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phân bố
của cây Bần Chua.
Các loài cây ngập mặn thường phong phú và kích thước lớn nhất ở vùng
xích đạo và nhiệt đới ẩm. Cận xích đạo là những nơi có nhiệt độ không khí cao,

bùn, cát thô lẫn sỏi đá, bùn ở cửa sông bờ biển, đất than bùn. Tuy nhiên RNM
phát triển rộng nhất trên thể nền bùn sét có mùn bã hữu cơ . Loại đất này thường
gặp dọc bờ biển, tam giác châu thổ, các cửa sông hình phểu và vịnh kín sóng.
Sự phân bố các loài ngập mặn có liên quan rất nhiều đến hàm lượng O 2,
SO2, độ mặn của thể nền. Nói chung cây ngập mặn sinh trưởng tốt ở môi trường
còn thoáng khí, loài cây có rể thở như bần vẫn có khả năng thích nghi với môi
trường yếm khí.
2.5.4. Địa hình
RNM phát triển ở vùng bờ biển nông,ít sóng ,gió như trong vịnh các cửa
sông hình phểu, sau các mũi đất, eo biển hẹp hoặc dọc bờ biển có các đảo che
chắn ở ngoài.
Cây Bần mọc ở đầm lầy nước lợ thành các quần thụ gần thuần loài hoặc
hỗn giao với các loài Trang, Sú, Mấn, Cóc. Ở Đồng Bằng sông cửu long thường
mọc ven các kênh rạch hay xen lẫn trong những đám dừa nước [7].
2.5.5. Tác động của đòng nước Đại dương
Nghiên cứu những đặc điểm của thủy triều liên quan đến sự sinh trưởng
và phát triển của rừng ngập mặn Việt Nam và một số nước Đông Nam Á. Phan
Nguyên Hồng (1991) có nhận xét khi điều kiện khí hậu và đất không có sự khác
nhau lớn, thì vùng có chế độ bán nhập triều cây sinh trưởng tốt hơn vùng có chế
độ nhật triều.
Biên độ triều ảnh hưởng rỏ rệt đến sự phân bố của cây, các lưu vực có
biên độ triều thấp như miền trung trung bộ và tây bắc bán đảo Cà Mau (0,5-1m)
khả năng vận chuyển và trầm tích nguồn giống kém, do đó cây phân bố ở phạm
vi rất hẹp. Chỉ nơi có biên độ triều cao trung bình 2-3m, địa hình bằng phẳng thì
cây phân bố sâu rộng vào đất cao.
2.6. Giá trị của cây Bần Chua
2.6.1. Giá trị phòng hộ và bảo vệ môi trường
Với đường bờ biển dài, xói mòn luôn là vấn đề nghiêm trọng ở Việt Nam.
Ở những vùng đầu nguồn , đất dốc, đặc biệt là vùng đới bờ ven biển nơi chịu tác
động mạnh mẽ của triều cường, gió, bảo hằng năm. Là một loại cây ngập mặn

đọng trầm tích độc tố, cố định chất dinh dưỡng, hạn chế hiện tượng phú dưỡng.
Tạo cảnh quan, môi trường tốt thuận lợi cho các loại hình du lịch, nghĩ
dưỡng. Làm lá chắn tốt cho nhiệm vụ bảo vệ an ninh, quốc phòng.
2.6.2. Sản xuất sinh khối và duy trì đa dạng sinh học
Mở rộng diện tích đất liền và đất canh tác. Ở các cửa sông lớn RNM có
thể cố định phù sa để mỗi năm lấn dần ra biển, diện tích đất phía trong được rửa
mặn và phèn chuyển dần thành đất canh tác.
Chủng loại các loài sinh vật tăng nhờ có nơi cư trú, nơi sinh sản và nguồn
thức ăn dồi dào.
2.6.3. Giá trị kinh tế
• Giá trị thực phẩm
Các bộ phận của cây bần được dùng làm rau. Lá non và búp hoa cây Bần
được dùng làm rau sống.Quả Bần non (bần chát) và quả Bần già (bần chua) đượng
dùng làm rau. Quả bần chát và bần chua được xắt mỏng để dùng làm rau ghém, dùng
riêng hoặc trộn với các loại rau tập tàn khác. Đặc biệt là ăn với mắm cá sặc, mắm cá
linh, mắm ruốc..vv... Quả bần chín rục dầm trong đĩa nước mắm, sẽ có món nước
mắm bần vừa ngon và vừa hấp dẫn, cách chế biến rất đơn giản, chỉ cầm dầm nát quả
bần trong nước mắm, thêm gia vị như bột ngọt, ớt, đường. Quả bần chín được làm
10


chất chua để nấu canh chua, nấu lẫu chua. Ở Philippines nông dân ven biển dùng
quả bần chín để lên men ủ thành một loại giấm chua từ quả bần (Crabapple vinegar)
để dùng nấu ăn trong gia đình.
Ngoài ra quả Bần chín được chế thành chất phụ gia thực phẩm. Một chất
thạch trong suốt có thể được chế biến từ trái Bần có chứa chất pectine để làm
chất kết dính.
Ở Đông Phi, lá được sử dụng như thức ăn gia súc lạc đà (Field, 1995).
• Làm dược liệu
Theo Đông y: Quả Bần có vị chua của phó mát, tính mát.Có tác dụng tiêu

11


Bần chua cũng được sử dụng làm củi , nó tạo ra rất nhiều nhiệt, tro và
muối. [19]
2.6.4. Giá trị văn hóa
Cây Bần Chua đã gắn liền với cuộc sống bà con nam bộ. Hình thành nên
một vùng văn hóa sông nước đậm đà bản sắc dân tộc. Cây Bần Chua thấp
thoáng trong những câu hò ru con hay ca giao tục ngữ. Đã đi vào ký ức tuổi thơ
của con người nơi đây những ký ức đẹp không thể phai mờ.
Bà con Nam bộ đã dành cho cây bần một tâm tình ưu ái. Trong các câu ca dao,
họ mượn hình ảnh cây bần để thổ lộ tấm lòng của mình với nhiều cung bậc cảm
xúc khác nhau, từ đó tạo nên nhận thức thẩm mỹ khá mới lạ về loài cây này:
“Muốn ăn mắm sặc bần chua
Chờ mùa nước nổi ăn cho đã thèm”.
Xuất phát từ cái tên nghe quá đói khổ “Bần” mà người Nam bộ đã đặt
câu đố về nó:
“Giống chi toàn là giống đực
Thiếu tứ bề cam cực chung thân?”
Từ kiếp bình sinh “thiếu tứ bề” ấy mà tác giả bình dân đã mượn trái bần
để nói lên số phận hẩm hiu của người phụ nữ:
“Thân em như trái bần trôi
Sóng dập gió dồi biết tắp vào đâu?”.
Cây bần còn là cái để người ta so sánh sự sang hèn:
“Không thương em hổng có cần
Trầm hương khó kiếm chớ đước bần thiếu chi”.[14]
Cây bần còn là biểu vật của sự nhớ thương, là mật hiệu của tình yêu:
“Chiều chiều xuống bến ba lần
Trông em không thấy thấy bần xơ rơ”
“Lẻ đôi em chịu lẻ đôi

thủy sản đã tăng thêm 1,1 triệu ha vào năm 2003. Diện tích đất trồng lúa ở Đồng
Bằng Sông Cửu long tăng từ 2,062 triệu ha (1976) lên 3,815 tiệu ha (2004)
thông qua hoạt động khai hoang từ đồng cỏ và rừng ngập nước.
Lỡ đất và vùi lấp do sóng biển, thay đổi chế độ thủy triều, khai thác gỗ
củi, đốt than thiếu kế hoạch, thiếu kiểm soát, sâu hại.
Ô nhiễm môi trường biển và ven bờ bởi các loại chất thải (công nghiệp,
nông nghiệp và sinh hoạt ) và sự cố tràn dầu.
Công tác quản lý tài nguyên còn nhiều bất cập, hệ thống quản lý còn chưa
hoàn thiện, chức năng nhiệm vụ còn chưa rõ ràng, chồng chéo thiếu sự phối hợp.
Nhận thức của người dân dịa phương về tác dụng phòng hộ của loài bần
còn hạn chế nên chưa tận dụng dược nguồn lực bảo vệ của người dân địa phương.
2.8. Một số nghiên cứu về cây Bần Chua tại Việt Nam

13


Theo luận văn thạc sỷ khoa học nông nghiệp của Châu Hoàn Vinh với đề
tài là “ Nghiên cứu hiện trạng và kỹ thuật nhân giống một số loài cây rừng ngập
mặn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” thì cây Bần Chua có khả năng tái sinh bằng chồi
khá tốt. Sau khi nghiên cứu tác giả đã tìm ra được 4 công thức cho tỷ lệ hom
ra rễ tốt nhất là:
+ Công thức: 100% đất tầng B và IBA 500ppm.
+ Công thức: 100 % đất tầng B và IBA 1000ppm.
+ Công thức: 50% đất tầng B + 50% bùn ngập mặn và IPA 500ppm.
+ Công thức: 50% đất tầng B + 50% bùn ngập mặn và IPA 500ppm.
Và rút ra được kết luận:
- Giá thể và nồng độ chất kích thích sinh trưởng IBA không tác động đến
số lượng chồi của hom cây Bần chua.
- Công thức giá thể 25% đất tầng B + 75 % bùn ngập mặn và 100% Bùn
ngập mặn cho chiều cao hom cây Bần Chua lớn nhất.

- Giá thể: nền đất các và các loại giá thể sẵn có tại dịa điểm nghiên cứu.
- Phân bón: các loại phân bón thông dụng như phân chuồng hoai, biochar,
NPK, phân vi sinh..vv.. đang được sử dụng tại vùng cát huyện Quảng Điền.
- Nước tưới: ngước ngầm khai thác từ giếng khoan tưới trực tiếp qua ống tưới
nhựa mềm hay từ bể chứa trung gian nhờ hệ thống phun sương bán tự động.
3.2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Lĩnh vực nghiên cứu: Chọn và sản xuất giống cây rừng ngập mặn.
- Địa điểm/ địa bàn nghiên cứu: Đề tài được tiến hành tại vườn ươm của
Cơ sở liên kết nghiên cứu tài nguyên vùng cát thuộc thôn Cổ Tháp, xã Quảng
Lợi, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Thời gian nghiên cứu: 5/1/2015 – 5/2015
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1.Khảo sát một số đặc điểm khu vực nghiên cứu
+ Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu.
- Vị trí địa lý, địa hình
- Đất đai
- Khí hậu, Thủy văn.
+ Đặc điểm của vườn ươm nơi triển khai đề tài.
- Vị trí, địa hình
- Đất đai
- Nguồn nước.
- Các yếu tố môi trường có liên quan khác
15


3.3.2. Nghiên cứu phẩm chất gieo ươm của hạt giống Bần chua
- Độ thuần lô hạt
- Kích thước hạt.
- Trọng lượng 1000 hạt.
- Tỷ lệ nảy mầm

hạt khỏi các tạp chất tiến hành cân lại với độ chính xác 0,01 g. Độ thuần của lô
hạt giống được tính theo công thức:

- Xác định chỉ tiêu trọng lượng của 1000 hạt : đếm 1000 hạt cây với 3 lần
lặp sau đó tiến hành cân lại 1000 hạt với độ chính xác 0,01 g. Lấy số trung bình
của ba lần cân.

Ld1: trọng lượng của 1000 hạt trong lần đếm 1
Ld2: trọng lượng của 1000 hạt trong lần đếm 2
Ld3: trọng lượng của 1000 hạt trong lần đếm 3
+ Nghiên cứu khả năng nảy mầm của hạt giống:
Hạt giống trước khi đem gieo được xử lý bằng nước nóng, ngâm hạt vào
nước nóng ở các mức nhiệt khác nhau ( 400C; 600C) trong 4 giờ. Sau đó, vớt tiến
hành gieo vào luống đã chuẩn bị sẵn để kiểm tra khả năng nảy mầm của hạt
giống. Mỗi biện pháp xử lý được thực hiện với 1000 hạt giống với 3 lần lặp.
+ Xác định tỉ lệ nảy mầm (G%):
Tỉ lệ nảy mầm được tính theo công thức:

3.4.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của loại nước tưới và thành phần ruột bầu đến
sinh trưởng của cây con ở giai đoạn vườn ươm
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của loại nước tưới đến sinh trưởng của cây con
ở giai đoạn vườn ươm.
Ảnh hưởng của loại nước tưới đến sinh trưởng của cây Bần Chua ở giai
đoạn vườn ươm được thực hiện với 2 công thức:
• (1) Đối chứng (tưới bằng nước ngọt tự nhiên tại chổ)
• (2) Tưới bằng nước ngọt tự nhiên khai thác tại chỗ có bổ sung hàm
lượng muối.
17



= Hn+1 - Hn
Hn+1: chiều cao đo lần thứ n+1
Hn: chiều cao đo lần thứ n
3.5.1. Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả các số liệu đo đếm về sinh trưởng đường kính, chiều cao của cây
Bần chua ở các giai đoạn tuổi khác nhau trên các công thức thí nghiệm được xử
lý bằng phương pháp thống kê. Việc phân tích và đánh giá kết quả thí nghiệm
được xử lý thông qua phần mềm Stagraphic 3.0 và phần mềm Excel trong bộ
Office 2013.
3.5.2. Phương pháp phỏng vấn điều tra
Phỏng vấn người dân địa phương: hệ thống câu hỏi được soạn sẵn tập
trung vào việc thu thập các số liệu về vai trò của cây Bần Chua đối với đời sống
của người dân, thực trạng gây trồng và sử dụng, quản lý và bảo vệ cây Bần Chua.

19


PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Quảng Điền.
4.1.1 Điều kiện tự nhiên.
4.1.1.1. Vị trí địa lí.
QuảngĐiền là một huyện phía Bắc tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố
Huế khoảng 10-15km, Phía Đông và Nam giáp huyện Hương Trà, phía Tây và
Tây-Bắc giáp huyện Phong Điền, phía Bắc và Đông-Bắc giáp biển Đông. Với
giới hạn đó, Quảng Điền nằm gọn trong khoảng 16030’58” - 16040’13” vĩ độ
Bắc và 107021’38” - 107034’ kinh độ Đông.
Toàn huyện được tổ chức theo 11 đơn vị hành chính, trong đó có 1 thị
trấn và 10 xã, đó là: Thị trấn Sịa và 10 xã gồm: Quảng Thái, Quảng Lợi, Quảng
Ngạn, Quảng Công, Quảng Phước, Quảng An, Quảng Thành, Quảng Vinh,
Quảng Phú, Quảng Thọ.Phía nam huyện Quảng Điền có sông Bồ chảy ngang

Tổng diện tích của huyện là 16,07 km 2. Hình thành 3 vùng:vùng trọng
điểm lúa lưa vực sông Bồ, vùng đất cát nội đồng và vùng đầm phá ven biển.
Tổng chiều dài bờ biển 12 km và vùng đầm phá có diện tích 4,414 ha. Đất nông
nghiệp 5.996,6 ha, diện tích đất lâm nghiệp 2.368 ha.
Quảng Điền là một vùng đất thấp trũng, vựa lúa của tỉnh, chiếm diện tích
hơn 8684ha. Đây là địa bàn quần tụ dân cư rất sớm, đời sống cư dân chủ yếu là
kinh tế nông nghiệp như các xã Quảng Thọ, Quảng Phước, Quảng Phú, Quảng
An, Quảng Thành,...
Vùng cát nội đồng, diện tích 4718ha, đại bộ phận đất cua phèn, úng ngập
về mùa mưa, khô hạn mùa nắng. Đời sống dân cư chủ yếu là nông nghiệp, kết
hợp một số cây công nghiệp như Quảng Lợi, Quảng Thái...Vùng cát biển , đầm
phá, diện tích 2292ha, đất trơ trọi, đại bộ phận là đất cát trắng, nghèo dinh
dưỡng. Đời sống dân cư chủ yếu là ngư nghiệp. Vùng này còn đang trỗi dậy việc
triển khai kinh tế nuôi trồng hải sản (nuôi tôm, cua xuất khẩu...).
Khu vực nghiên cứu bao gồm ba loại đất chính
• Đất cát bạc trắng: là loại đất cát trong phạm vi từ mặt đất tới độ sâu 125
cm có tầng bạc trắng E (albic) có độ dày ít nhất 50 cm. Từ mặt đất đến độ sâu 10
cm không có tính gley hay tính vôi. Đất cát bạc trắng được xem là loại đất có
nhiều hạn chế nhất so với các đơn vị đất cát khác: nghèo kiệt hữu cơ và dưỡng
chất, thành phần cơ giới thô chiếm tuyệt đối, khả năng trao đổi cation rất thấp
dẫn đến khả năng giữ ẩm và giữ màu rất kém, tầng nước ngầm sâu, dễ bị khô
hạn. Ngoài ra tầng mặt của đất cát bặc trắng có phản ứng môi trường đất rất
chua và hầu như không có vật liệu mịn. Do đó loại đất này ít có khả năng phát
triển cây nông nghiệp.
• Đất cồn cát chưa phát triển: Đất cát chưa phát triển (AR.pr) được hình
thành trên các bãi đụn cát mới được hình thành, hoặc luôn di chuyển bởi gió và
nước, cột đất chưa kịp phân bị, thường chưa có thảm phủ thực vật hoặc chỉ mới
phát triển môt thời gian ngắn rồi biến mất do sự di chuyển của tầng đất mặt. ở
vùng ven biển Thừa Thiên Huế, phần lớn đất cát chưa phát triển có địa hình cao,
21

Phòng Giáo dục phối hợp với trung tâm khoa học kỹ thuật hướng nghiệp huyện
để huy động học sinh trên địa bàn huyện tham gia học nghề và tổ chức thi nghề
cho các em.
Nhìn chung công tác giáo dục luôn được các cấp, các ngành quan tâm .
Đến thời điểm hiện nay , tình hình đội ngũ , cơ sỡ vật chất, trang thiết bị cho dạy
học đáp ứng tôt yêu cầu giáo dục huyện.
22


Trích đoạn Tưới bằng nước ngọt tự nhiên tại chổ (CTT2). Tác hại: Cây còi cọc, phát trển kém. Tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo tồn đến từng người dân địa phương. DANH MỤC CHÚ GIẢI CỤM TỪ VIẾT TẮT
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status