TÓM TẮT NỘI DUNG
Công ty TNHH Cảm Giáo là một công ty chuyên sản xuất đồ mộc trên địa
bàn tỉnh Quảng Trị, cũng như các công ty chế biến lâm sản khác mục tiêu mà
công ty hướng tới là tăng doanh thu và tăng nguồn thu nhập người lao động,
đồng thời đảm bảo an toàn người lao động và an toàn môi trường. Mọi hoạt
động sản xuất và sinh hoạt đều hướng tới con người và môi trường, nếu không
quan tâm đến yếu tố này thì công việc của người lao động cũng như hoạt động
của nhà máy sẽ ngừng trệ. Do tính chất sản xuất các sản phẩm đa dạng, phong
phú nên khối lượng, thành phần và tính chất các loại chất thải (khí thải, nước
thải và chất rắn thải) rất phức tạp và có nguy cơ gây ô nhiễm cao, đặc biệt là
nước thải từ quá trình ngâm tẩm với lưu lượng và nồng độ ô nhiễm cao, nước
thải sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động và môi trường xung quanh.
Với lượng chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất đồ mộc công ty Cảm
Giáo luôn chú trọng việc xử lý chất thải. Đề tài tìm hiểu các loại chất thải sinh ra
trong quá trình sản xuất đồ mộc, lượng chất thải sinh ra và tìm hiểu được mức
độ ảnh hưởng của các loại chất thải đối với con người và môi trường.
Để hiểu được những nội dung trên tôi đã tiến hành phỏng vấn cán bộ, công
nhân tham gia trực tiếp tại xưởng sản xuất và những người sống xung quanh khu
vực sản xuất để biết được những loại chất thải thường xuyên sinh ra trong quá
trình sản xuất đồ mộc. Việc tiến hành các thí nghiệm tại các vị trí khác nhau
trong các công đoạn cũng là cách thu thập số liệu chính trong đề tài này. Đồng
thời, tôi đã thu thập thông tin thông qua sách báo, internet…đây cũng là nguồn
thông tin có ích khi biết lựa chọn có chọn lọc.
Đề tài tìm hiểu vấn đề an toàn và môi trường do các loại chất thải sinh ra
trong quá trình sản xuất đồ mộc tại công ty trách nhiệm hữu hạn Cảm Giáo,
Vĩnh Linh, Quảng Trị .Trong quá trình sản xuất đồ mộc trải qua nhiều công
đoạn, mỗi công đoạn thải ra một loại chất thải khác nhau như loại chất thải: rắn,
lỏng, khí nhưng tồn tại trong suốt quá trình sản xuất là chất thải rắn(bụi) với các
mức độ khác nhau.
Qua quá trình tìm hiểu đề tài đã đo được lượng bụi tại các vị trí xẻ, chà
nhám, khâu đốt nguyên liệu cho khâu sấy với khoảng cách xa gần và cao thấp
một trong những nước đứng đầu về xuất khẩu gỗ và lâm sản trong khu vực. Với
xu thế phát triển như hiện nay, các xí nghiệp đang từng bước phát triển để đáp
ứng nhu cầu trong nước và thế giới. Các nhà máy chế biến nói chung và nhà
máy chế biến lâm sản nói riêng thì an toàn người lao động và an toàn môi trường
là nhân tố quan trọng không thể thiếu. Mọi hoạt động sản xuất và sinh hoạt đều
hướng tới con người và môi trường, nếu không quan tâm đến yếu tố này thì công
việc của người lao động cũng như hoạt động của nhà máy sẽ ngừng trệ.
Quảng Trị là một tỉnh có nền kinh tế kém phát triển nhưng trong những
năm gần đây nền kinh tế của tỉnh đang có xu hướng phát triển và thay đổi nhanh
chóng. Hiện nay, ngành chế biến gỗ là ngành công nghiệp mũi nhọn của Quảng
Trị, đóng góp to lớn trong giải quyết công ăn việc làm, phát triển kinh tế, xã hội
của tỉnh. Sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước nhà nước ta luôn gắn
liền phát triển kinh tế với công tác bảo vệ sức khỏe người lao động và môi
trường.Với điều kiện địa lý có nhiều rừng núi thuận lợi cho việc trồng rừng,
cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp gỗ. Với những điều kiện thuận lợi
trên nếu được đầu tư quy mô về vốn và dây chuyền thì ngành công nghiệp gỗ sẽ
ngày càng phát triển theo hướng hiện đại và đa dạng hơn. Hiện nay, trên địa bàn
tỉnh có hàng trăm doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này. Việc phát
triển công nghiệp nhanh chóng trên địa bàn huyện Vĩnh Linh trong thời gian qua
đã gây ra nhiều vấn đề về con người và môi trường đáng lo ngại. Trong đó nổi
trội là sự phát sinh các loại chất thải công nghiệp trong quá trình sản xuất.
Do tính chất sản xuất các sản phẩm đa dạng, phong phú nên khối lượng,
thành phần và tính chất các loại chất thải (khí thải, nước thải và chất rắn thải)
rất phức tạp và có nguy cơ gây ô nhiễm cao, đặc biệt là nước thải từ quá trình
ngâm tẩm với lưu lượng và nồng độ ô nhiễm cao, nước thải sẽ ảnh hưởng trực
tiếp đến người lao động và môi trường xung quanh. Với lượng chất thải sinh ra
trong quá trình sản xuất đồ mộc công ty Cảm Giáo luôn chú trọng việc xử lý
chất thải nhằm đảm bảo an toàn lao động và an toàn môi trường. Đa dạng về
mẫu mã kích thước, màu sắc kéo theo đó là lượng chất thải sinh ra càng nhiều
và với tính chất khác nhau nên cần áp dụng các biện pháp khác nhau với mức
Nghề sản xuất và chế biến đồ gỗ đã được hình thành, tồn tại và phát triển
lâu đời ở nước ta. Đây là ngành nghề có truyền thống đã hàng trăm ngàn năm,
gắn liền với tên nhiều làng nghề, phố nghề, được biểu hiện qua nhiều sản phẩm
tinh xảo và hoàn mỹ. Quá trình phát triển của các sản phẩm đồ gỗ truyền thống
luôn gắn với những thăng trầm trong lịch sử của xã hội Việt Nam. Những kỹ
năng, kinh nghiệm sản xuất được đúc rút, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác làm cho ngành nghề này ngày càng phong phú, đa dạng. Do vậy, nó đã
phát triển và đúc kết được những tinh hoa truyền thống của dân tộc.
Từ thế kỷ XI dưới thời nhà Lý việc xuất khẩu mặt hàng đồ gỗ cùng với
những mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác đã được thực hiện. Qua 11 thế kỷ các
phường thợ, làng nghề truyền thống đã trải qua nhiều bước thăng trầm, một số
làng nghề bị suy vong nhưng bên cạnh đó cũng có một số làng nghề mới xuất
hiện và phát triển. Hiện nay, chúng ta có khoảng hai trăm làng nghề làm đồ gỗ
trên mọi miền Tổ quốc. Những làng nghề như:Vạn Điểm, Chàng Sơn, Hữu
Bằng, Canh Đậu, Chuôn Ngọ (Hà Tây); Đồng Kỵ (Bắc Ninh); Vân Hà (Đông
Anh, Hà Nội); Trực Ninh (Nam Định)… đã từ lâu trở nên quen thuộc với những
người dân các tỉnh phía Bắc. Còn ở phía Nam các làng nghề mộc nổi tiếng thuộc
về các tỉnh Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam (Kim Bồng), Đà Nẵng, Khánh Hoà,
Đắc Lắc, Đồng Nai…
Thị trường xuất khẩu chủ yếu các sản phẩm đồ gỗ của Việt Nam giai đoạn
từ trước năm 1990 là khối các nước Đông Âu, Liên Xô theo những thoả thuận
song phương. Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi những biến động chính trị.
Từ sau năm 2000 thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và
nhiều nước ASEAN.
Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO), công nghiệp chế biến gỗ của Việt Nam càng thu hút sự
quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài, còn các nhà đầu tư trong nước thì
mạnh dạn mở rộng sản xuất với quy mô lớn, nên hoạt động đầu tư trong lĩnh vực
sản xuất và chế biến gỗ xuất khẩu đang tăng rất mạnh. Lực lượng doanh nghiệp
trong ngành chế biến gỗ hiện nay có khoảng 1800 doanh nghiệp, trong đó có
Đáng chú ý trong thời gian này xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam
thiếu vắng thị trường Hungari và Ucraina so với 11 tháng năm 2013.
Với đà tăng trưởng xuất khẩu 11 tháng qua, ước tính kim ngạch xuất khẩu
gỗ năm 2014 đạt khoảng 6,5 tỉ đô la Mỹ, tăng 15% so với năm 2013. Dự báo với
sự ấm lại của nền kinh tế các nước như Mỹ, EU, Nhật Bản… kim ngạch xuất
khẩu gỗ năm 2015 sẽ duy trì mức tăng trưởng 15%.
Nhu cầu gỗ thế giới cao, cộng với việc nhiều hiệp định thương mại đã và
đang chuẩn bị được ký kết, nếu tận dụng triệt để, năm 2015, kim ngạch xuất
khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam có thể đạt 7 tỷ USD.
6
Theo Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam, là một trong những
ngành có kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng khả quan trong năm 2014, năm 2015
hàng loạt những hiệp định thương mại tự do (FTA) đã và đang được đàm phán
ký kết như FTA Việt Nam - EU, TPP, Hiệp định Đối tác tự nguyện với Liên
minh châu Âu về thực thi lâm luật, quản trị và thương mại lâm sản
(VPA/FLEGT)… kỳ vọng sẽ mang lại sự tăng trưởng mạnh về kim ngạch xuất
khẩu cho ngành gỗ.
Cơ hội luôn đi kèm với thách thức, ngành gỗ Việt Nam cũng sẽ phải đối
mặt với không ít khó khăn. Đơn cử như khi FTA Việt Nam - EU và
VPA/FLEGT được ký kết, các sản phẩm gỗ Việt Nam phải được chứng minh có
nguồn gốc xuất xứ hợp pháp. Trong khi đó, Việt Nam mua gỗ nguyên liệu từ
nhiều quốc gia trên thế giới và không phải nước nào cũng có chứng chỉ hợp
pháp. Bên cạnh đó, khi phải chọn lựa nguồn gốc, xuất xứ của gỗ, chắc chắn giá
gỗ nguyên liệu sẽ tăng lên.
Thêm nữa là khi các hiệp định được ký kết, các sản phẩm gỗ của các nước
tiên tiến sẽ vào và cạnh tranh quyết liệt với gỗ Việt Nam. Bên cạnh đó, chi phí
sản xuất gỗ vẫn cao, đặc biệt là phí vận tải bằng tàu thủy. Đây là rào cản rất lớn
nhập khẩu sản phẩm gỗ.
Quy mô các nhà máy chế biến gỗ: từ năm 2000 hệ thống các nhà máy chế
biến gỗ có tốc độ tăng trưởng về số lượng và quy mô, hiện nay cả nước cơ sở
1500-1800 cơ sở sản xuất đồ mộc quy mô nhỏ với năng lực chế biến từ 150200m3gỗ/năm/cơ sở và 1200 doanh nghiệp có quy mô lớn với tổng công suất
chế biến 2triệu m3 gỗ/năm, trong đó có 41% là doanh nghiệp nhà nước và 59%
doanh nghiệp tư nhân của ngành công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam.
Nhà nước đã có những chính sách ưu tiên sau khi Việt Nam gia nhập WTO,
ngành chế biến gỗ xuất khẩu được giảm thuế nhập khẩu gỗ nguyên liệu cũng
như giảm thuế xuất khẩu sản phẩm hàng hoá vào thị trường các nước.
Nhà nước đã có định hướng chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam
đến năm 2020 về việc phát triển vùng nguyên liệu gỗ phục vụ cho ngành công
nghiệp chế biến gỗ.
Một trong những ưu điểm nổi bật khiến các doanh nghiệp nước ngoài đầu
tư vào và lợi thế của Việt Nam đó là nguồn nhân lực khá dồi dào, nhân công rẻ,
đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề, chịu khó học hỏi. Nhờ lao động có tay
nghề cao, các công ty của Việt Nam có thể hoàn thành đơn đặt hàng với thiết kế
tinh vi hơn mà không bị quá nhiều sự gia tăng của chi phí. Lợi thế về chi phí và
lao động cùng với ổn định kinh tế, xã hội, chính trị và vị trí địa lý thuận tiện sẽ
những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh
2.3.2. Khó khăn của ngành chế biến gỗ.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế và cơ hội kể trên, ngành chế biến gỗ
Việt Nam cũng đối mặt với nhiều khó khăn. Một trong những khó khăn lớn nhất
là sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Nguồn gỗ nguyên liệu chưa
đáp ứng được nhu cầu của các nhà sản xuất gỗ cả về khối lượng và chất lượng.
Vì vậy, phần lớn các nhà sản xuất đã phải nhập khẩu nguyên liệu từ các nước
8
khác, với mức tăng trưởng nhập khẩu trung bình lên tới 13,8%/năm trong giai
đoạn 2007-2013.
trạng có đơn hàng nhưng không có lợi nhuận hoặc lợi nhuận rất thấp. Đây sẽ là
một trở ngại lớn và đẩy lùi sự phát triển của công nghiệp chế biến gỗ nếu như
Việt Nam không có chiến lược tốt trong phát triển nguồn nguyên liệu.
2.4. Tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp
gây ra.
2.4.1. Trên thế giới.
Môi trường ngày càng bị đe dọa nặng nề bởi các loại chất thải từ các hoạt
động sản xuất công nghiệp. Các nước có nền công nghiệp càng phát triển đồng
nghĩa với môi trường sống ngày càng đe dọa, 10 khu vực ô nhiễm nhất thế giới
rơi vào 7 nước, trong đó ô nhiễm nhiều nhất có Ấn Độ, Nga và Trung Quốc.
Người sống trong những khu vực này thường phải gánh chịu nhiều vấn đề liên
quan đến sức khỏe, từ hen suyễn và các bệnh liên quan đến hô hấp, tới dị tật bẩm
sinh, chết trẻ. Đó là kết quả nghiên cứu của Viện Blacksmith ở New York, Mỹ.
Khí thải, bụi và chất thải từ các hoạt động công nghiệp là mối nguy hại
dành cho tất cả mọi sinh vật sống trên Trái Đất. Con người là người gây ra và
cũng là người phải gánh chịu hậu quả.
Qua một số nghiên cứu cho thấy, một trong các vấn đề nổi cộm của nạn ô
nhiễm toàn cầu hiện nay chính là tình trạng ô nhiễm môi trường từ các khu công
nghiệp do công tác thu gom, xử lý và đổ thải các loại rác công nghiệp yếu kém,
các khí đốt từ các nhà máy thải ra vượt quá mức cho phép, gây ô nhiễm nguồn
nước trầm trọng, chất lượng không khí bị suy giảm… Tại các nước đang phát
triển, chỉ 30-50% lượng rác thải được giải quyết. Thậm chí ở một số nước có
nền kinh tế đang phát triển, tốc độ tăng lượng rác thải còn lớn hơn tốc độ tăng
dân số. Tại Ấn Độ, chỉ 217/3119 thành phố có hệ thống cống thải; và sông Hằng
là một trong những con sông ô nhiễm nhất thế giới do hứng chịu chất thải từ 115
thành phố công nghiệp. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hiện đang có 1,2 tỷ
người sống trong môi trường ô nhiễm quá tiêu chuẩn vệ sinh hiện hành; 2 tỷ
người đang khát; hơn 2 tỷ người vẫn thiếu nước sạch và điều kiện sử dụng nước
vệ sinh. Nghiên cứu cũng cho thấy biến đổi khí hậu chịu 20% trách nhiệm đối
với việc thiếu nước sạch, trong khi sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế chịu
phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó.
Hiện nay, xu hướng chuyển dịch tư bản dẫn tới ô nhiễm môi trường nặng nề từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển thể hiện rõ thông qua FDI. Có
thể thấy cùng với những lợi ích do FDI mang lại, các nước đang phát triển phải
đối mặt với những thách thức, trong đó đặc biệt nghiêm trọng là nạn "xuất khẩu"
ô nhiễm môi trường từ các nước phát triển trên thế giới đang ngày càng gia tăng.
Trong quá trình thị trường của thời buổi hội nhập ngày càng yêu cầu phải thay
đổi tư duy quan niệm về sản xuất sạch và bảo vệ môi trường, thì vai trò của các
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có tầm quan trọng rất lớn trong quá trình tạo
lập tính bền vững môi trường của các dự án FDI(doanh nghiệp có vấn đầu tư
nước ngoài). Thông thường MNCs( công ty đa quốc gia) có công nghệ sạch, áp
dụng những chuẩn môi trường cao hơn so với yêu cầu của nước chủ nhà, do vậy
có khả năng góp phần vào quá trình phát triển bền vững môi trường của nước
chủ nhà. Tuy nhiên, có trường hợp MNCs đưa các dây chuyền sản xuất ô nhiễm,
hoặc chuyển giao các công nghệ lạc hậu tới nước chủ nhà, mà những công nghệ
này không được chấp nhận tại nước đầu tư. Việc “xuất khẩu” ô nhiễm đã mang
lại cho các MNCs một lợi thế cạnh tranh mới nhờ giảm chi phí sản xuất. Nguyên
nhân của tình trạng này là do chi phí để khắc phục ô nhiễm môi trường tại các
nước phát triển rất cao. Các doanh nghiệp của các nước này buộc phải tìm đến
giải pháp chuyển lĩnh vực sản xuất gây ô nhiễm của họ ra nước ngoài. Các nước
phát triển như: Đức, Áo, Bỉ, Đan Mạch... đang đánh thuế mạnh vào các ngành
gây ô nhiễm, trong khi đó các nước đang phát triển lại có mức thuế thấp hơn
nhiều do khát vốn. Vô hình chung, các nước nghèo này trở thành những nước
“nhập khẩu” ô nhiễm.
2.4.2. Trong nước.
Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay
là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh
hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự
phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại
nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường. Họ phải sống chung
với khói bụi, uống nước từ nguồn ô nhiễm chất thải công nghiệp... Từ đó, gây
13
bất bình, dẫn đến những phản ứng, đấu tranh quyết liệt của người dân đối với
những hoạt động gây ô nhiễm môi trường, có khi bùng phát thành các xung đột
xã hội gay gắt.
Cùng với sự ra đời ồ ạt các khu, cụm, điểm công nghiệp, các làng nghề thủ
công truyền thống cũng có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Việc phát triển
các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải
quyết việc làm ở các địa phương. Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt
động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô
nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than,
lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Theo
thống kê của Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có 2790 làng
nghề, trong đó có 240 làng nghề truyền thống, đang giải quyết việc làm cho
khoảng 11 triệu lao động, bao gồm cả lao động thường xuyên và lao động không
thường xuyên. Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các khu
vực tập trung phát triển nhất là đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ, Tây Bắc
Bộ, đồng bằng sông Cửu Long. Hoạt động gây ô nhiễm môi trường sinh thái tại
các làng nghề không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, sinh hoạt và sức
khoẻ của những người dân làng nghề mà còn ảnh hưởng đến cả những người
dân sống ở vùng lân cận, gây phản ứng quyết liệt của bộ phận dân cư này, làm
nảy sinh các xung đột xã hội gay gắt.
Hình 2.4. Các làng nghề tự phát gây ô nhiễm môi trường
2.5. Tình hình xử lí chất thải ngành chế biến gỗ trên thế giới.
14
Lý thuyết hệ chuyên gia cũng được áp dụng mở ra khả năng tự động hóa hoàn
toàn cho xử lý các loại chất thải.
2.6. Tình hình xử lí chất thải ngành chế biến gỗ trong nước.
Hiện nay có nhiều công nghệ để xử lý chất thải công nghiệp, mặc dù vậy
nhưng mỗi công nghệ chỉ có khả năng ứng dụng tốt trong một phạm vi nhất
định. Nhiều vùng kinh tế trọng điểm người ta kết hợp xử lý tập trung hai loại
chất thải công nghiệp và chất thải nguy hại bằng kết hợp nhiều loại quy trình
15
công nghệ khác nhau theo chiến lược quản lý chất thải quốc gia, nó phải được
xử lý tập trung theo một quy trình khép kín. Do điều kiện không cho phép nên
hiện tại một số địa phương phải tự vận động theo cách của mình, dẫn đến việc
mất cân đối, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và môi trường. Vì vậy
một số nhà khoa học đã tìm ra nhưng mô hình phù hợp như phân nhỏ hợp ly
thành từng cụm hoặc một hai tỉnh để đáp ứng nhu cầu quản lý thực tế.
Từ năm 2005, Liên Hợp Quốc đã phát hành bảng chỉ số bền vững môi
trường(ESI) cho bảy nhóm khu vực quốc gia trên thế giới. Bảng chỉ số bền vững
môi trường của các nước trong khu vực ASEAN vào thời điểm đó như sau:
Bảng 2.1: Chỉ số bền vững của môi trường của các nước trong khu vực ASEAN.
STT
1
2
3
4
5
6
7
8
•Tìm hiểu các loaị chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất đồ mộc ảnh
hưởng đến người lao động và môi trường.
•Đề ra biện pháp xử lý chất thải nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động
và môi trường.
3.1.2.Mục tiêu cụ thể.
•Tìm hiểu tình hình an toàn lao động, các vụ tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp xảy ra trong quá trình sản xuất đồ mộc.
•Tìm hiểu số lượng các loại chất thải trong từng khâu sản xuất gây ảnh
hưởng đến an toàn lao động.
•Tìm hiểu nguyên nhân sinh ra các loại chất thải trong quá trình sản xuất
đồ mộc.
•Đánh giá tác động các loại chất thải ảnh hưởng đến con người và môi
trường xung quanh.
•Đưa ra biện pháp xử lí chất thải nhằm đảm bảo an toàn cho người lao
động và môi trường .
3.2. Nội dung nghiên cứu.
3.2.1. Tìm hiểu tình hình chung của công ty.
3.2.1.1. Khái quát công ty, xí nghiệp
3.2.1.2.Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lí của công ty.
3.2.1.3.Thị trường tiêu thụ các sản phẩm của công ty.
3.2.2.Tìm hiểu nguồn nguyên liệu.
3.2.3.Khái quát về công nghệ và trang thiết bị.
3.2.4. Tìm hiểu từng loại chất thải trong từng khâu sản xuất.
3.2.4.1.Chất thải trong khâu xẻ nguyên liệu.
3.2.4.2. Chất thải trong khâu ngâm tẩm gỗ.
3.2.4.3. Chất thải trong khâu sấy.
17
3.2.4.4. Chất thải trong khâu gia công thô, gia công tinh.
Phương pháp kế thừa:
Kế thừa kết quả nghiên cứu trước đây trong vấn đề xử lý chất thải trong
quá trình sản xuất đồ mộc.
•Tìm hiểu dây chuyền công nghệ, phương pháp tổ chức và tiến hành sản
xuất tại nhà máy.
•Thu thập các sơ đồ kỹ thuật, các số liệu trong sản xuất nhà máy chế biến
nơi thực tập.
•Kế thừa kết quả nghiên cứu của các chuyên gia trong lĩnh vực đang tìm
hiểu, các đề tài tốt nghiệp của các anh chị khóa trước.
Phương pháp thực nghiệm.
•Tiến hành thí nghiệm, dựa vào cảm quan để quan sát, khứu giác để ngửi
đánh giá sơ bộ về nguồn nước thải trước khi thải ra môi trường và đối với nguồn
nước tự nhiên nơi nhà máy đổ nước thải ra.
•Quan sát lượng khói bụi thải ra môi trường làm không khí bị thay đổi màu sắc.
Phương pháp chuyên gia.
•Học hỏi, tìm hiểu qua các cán bộ kỹ thật, các công nhân đang trực tiếp
tham gia vào quá trình sản xuất.
•Tham khảo ý kiến của các thầy cô trong khoa, giáo viên trực tiếp hướng
dẫn, các anh chị khóa trên và các bạn trong lớp.
•Tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong ngành. Xem xét các nhận
định đánh giá của họ và rút ra những ý phù hợp với đề tài cuả mình.
Thu thập số liệu.
Để đề tài có những tài liệu phù hợp cho báo cáo tốt nghiệp tôi tiến hành thu
thập tài liệu trên các trang thông tin như:
•Phỏng vấn người lao động để có số liệu khách quan về sự ảnh hưởng.
•Tiến hành thí nghiệm tại xưởng sản xuất.
•Sách chuyên ngành sản xuất đồ mộc.
•Các luận văn tốt nghiệp, luận văn thạc sỹ, tiến sỹ có liên quan.
•Các tài liệu báo chí về xử lý chất thải.
•Qua tivi, Internet: đây là công thông tin tiện dụng phổ biến nhưng cần có
sản phẩm, mở rộng thị trường…
4.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty chia làm 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn từ năm 2000-2005.
Những ngày đầu mới đi vào hoạt động, Công ty đã đã phải đối mặt với
nhiều khó khăn, nhất là việc triển khai dự án đúng vào thời điểm nền kinh tế
bước vào thời kỳ suy giảm. Việc huy động vốn đã khó, trong khi đó thị trường
tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp, sản phẩm đồ mộc của nhà máy chưa xác định được
20
đầu ra ổn định. Nhân lực hầu hết đều được tuyển dụng mới, chưa có kinh
nghiệm và trình độ tay nghề cao. Song với sự tập trung lãnh đạo chỉ đạo sản
xuất kinh doanh, Công ty đã từng bước khắc phục khó khăn và đi vào sản xuất
ổn định.
Công ty chủ yếu sản xuất hàng nông lâm xuất khẩu và tiêu thụ nội địa như
hàng hóa thủ công mỹ nghệ, bàn ghế, tủ…Công ty dần dần đi vào hoạt động ổn
định mang lại lợi nhuận cao, giải quyết vấn đề việc làm cho nhiều công nhân.
Giai đoạn từ năm 2005 – nay.
Đây là thời kỳ khởi sắc của Công ty. Hoạt động sản xuất kinh doanh của
Công ty đã đi vào trạng thái an toàn và có lãi. Các sản phẩm mộc ngày càng
được ưa chuộng và đem lại nguồn lợi nhuận lớn cho công ty.
Nhà máy có công suất 3000m3 sản phẩm/năm với các sản phẩm thanh chi tiết
đồ mộc trên thực tế, nhà máy đã nâng công suất lên 6500m 3 sản phẩm/năm và
mang lại hiệu quả kinh tế lớn. Từ khi đi vào hoạt động đến hết năm 2014, nhà máy
đã sản xuất được trên 18000m3 sản phẩm. Tổng doanh thu ước đạt hơn 150 tỷ
đồng, trong đó, năm 2011 là 6,8 tỷ đồng, năm 2012 là hơn 17 tỷ đồng, năm 2013 là
hơn 31 tỷ đồng và năm 2014 là 39 tỷ đồng. Nhà máy đã tạo việc làm ổn định cho
trên 190 lao động với mức thu nhập bình quân 3,1 triệu đồng/ người/ tháng.
Với những chiến lược trong đầu tư sản xuất kinh doanh, Công ty TNHH
KẾ TOÁN
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
XƯỞNG 2
Hình 4.1. Sơ đồ tổ chức quản lí của công ty.
Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận:
a) Ban Tổng giám đốc.
•Tổng giám đốc công ty: quản lí và điều hành mọi hoạt động của công ty.
•Phó tổng giám đốc: cùng với giám đốc quản lí mọi hoạt động của công ty,
giám sát hoạt động kỹ thuật của công ty.
b) Các bộ phận trực tiếp quản lý các phòng ban.
•Phòng kỹ thuật: tham mưu cho lãnh đạo công ty trong công tác quản lí kỹ
thuật , trong này còn chia ra các tổ để kiểm tra giám sát vận hành máy móc thiết
bị, lập kế hoạch sản xuất hàng tháng hàng quý để cung ứng đầy đủ nguyên liệu
22
cho nhà máy đồng thời kiểm tra chất lượng sản phẩm để đề ra giá thành trước
khi xuất kho.
•Phòng hành chính nhân sự: tham mưu cho Ban Tổng giám đốc của công
ty, các bộ tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý lao động tiền lương, chế độ chính
sách với người lao động và phỏng vấn lao động.
•Phòng kế toán: chỉ đạo công tác hoạch toán kế toán quản lý tài chính theo
đúng quy định của pháp lệnh kế toán thống kê.
4.1.3.Cơ cấu lao động trong công ty.
Tổng số cán bộ và công nhân 196 người
Hiện nay Quảng Trị đã bổ sung quy hoạch phát triển vùng nguyên liệu
trong toàn tỉnh giai đoạn 2010-2015, gắn chế biến với tiêu thụ sản phẩm. Công
ty có thể thu mua nguồn nguyên liệu trong và ngoài tỉnh nhằm đảm bảo quá
trình hoạt động liên tục, tránh được tình trạng thiếu nguyên liệu. Hơn nữa, điều
kiện của nước ta nói chung và Quảng Trị nói riêng rất thuận tiện cho việc phát
triển loại cây gỗ như keo, bạch đàn.
Bảng 4.1: Thu mua nguyên liệu của công ty từ năm 2010-2013
Loại gỗ
2010
2011
2012
2013
Keo (m3 )
2000
2100
2200
2500
Bạch đàn (m3)
2500
TRANG
SỨC
CHÀ
NHÁM
LẮP
RÁP
Hình 4.4. Quy trình sản xuất sản phẩm mộc của công ty.
4.3.2. Công nghệ và trang thiết bị.
Quy trình công nghệ của nhà máy được bố trí khép kín từ khâu xử lý
nguyên liệu đến khâu đóng gói sản phẩm.
Phần lớn máy móc trang thiết bị được nhập từ Trung Quốc, hiện nay công
ty đã đầu tư dây chuyền với máy móc trang thiết bị hiên đại, thường xuyên tu
sửa nhà xưởng, nâng cao trình độ tay nghề của công nhân để đủ khả năng sản
xuất các mặt hàng đáp ứng được nhu cầu sản xuất hiện đại và trong tương lai có
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Và cũng trong tương
lai trang thiết bị, công nghệ sẽ được tăng cường cơ giới hóa, tự động hóa để đảm
bảo chất lượng sản phẩm, giảm cường độ lao động của công nhân, giảm sự phụ
thuộc nguồn lao động.
4.3.3. Diện tích đặt thiết bị và làm việc theo dây chuyền.
Qua điều tra thực tế tại xưởng sản xuất, diện tích của từng khu vực sản xuất
của công ty như sau:
25