ỨNG DỤNG PHẦN MỀM HAPPYKID HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON - Pdf 34

Lời cảm ơn
Tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với:
- Các thày giáo, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non, Ban giám hiệu,
phòng Quản lý khoa học, Thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giúp
đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
- Ban giám hiệu, tập thể các thày cô giáo, các cháu mẫu giáo trường
mầm non Bắc Giang, mầm non Hoa Sen, mầm non Hoa Hồng thành phố Bắc
Giang, tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tác giả tiến hành
nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm để hoàn thành luận văn.
- Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thày hướng dẫn
PGS. TS. Đinh Hồng Thái – người đã tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tác giả hoàn
thành luận văn này.
- Cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã hết lòng giúp đỡ, động viên
khích lệ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà Nội, tháng 9 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Thị Hải Thanh


MỤC LỤC
Lời cảm ơn.......................................................................................................1
MỤC LỤC........................................................................................................2


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Kết quả điều tra về thông tin chung của giáo viên....................50
Bảng 2.2. Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của phần mềm HappyKid
đối với sự hình thành khả năng đọc cho trẻ 5 - 6 tuổi................................50
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên về tác dụng của phần mềm HappyKid
trong quá trình hình thành khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi........................51

hình ảnh có sẵn trên phần mềm.................................................................100
Bảng 3.5. Kết quả khảo sát mức độ nhận biết được cấu tạo sách truyện
điện tử và sách in của trẻ ở NTN và NĐC trước thực nghiệm tác động 102
Bảng 3.6. Kết quả mức độ điểm đạt được sau thực nghiệm của trẻ ở
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.....................................................104


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1.a. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ biểu hiện khả năng đọc
hiểu câu chuyện của nhóm trẻ thực nghiệm và đối chứng trước thực
nghiệm............................................................................................................93
Biểu đồ 3.1.b. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ biểu hiện khả năng đọc
hiểu câu chuyện của nhóm trẻ thực nghiệm và đối chứng sau thực
nghiệm............................................................................................................94
Biểu đồ 3.2.a. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ biểu hiện khả năng chú ý
đọc của trẻ ở nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm................................95
Biểu đồ 3.2.b. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ chú ý đọc của trẻ ở nhóm
đối chứng và nhóm thực nghiệm sau thực nghiệm tác động.....................96
Biểu đồ 3.3.a Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ thể hiện kỹ năng ban đầu
trong hoạt động đọc của trẻ ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
trước thực nghiệm tác động.........................................................................98
Biểu đồ: 3.3.b. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ thể hiện những kỹ năng
ban đầu trong hoạt động học của trẻ ở nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm sau thực nghiệm tác động................................................................99
Biểu đồ 3.4.a. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ khả năng tạo ra một câu
chuyện dựa trên hình ảnh có sẵn của trẻ ở NĐC và N TN trước TN tác
động..............................................................................................................100
Biểu đồ 3.4.b. Biểu đồ biểu diễn so sánh mức độ biểu hiện khả năng tạo
ra một câu chuyện dựa trên hình ảnh có sẵn của trẻ ở NĐC và NTN sau
TN tác động..................................................................................................101

Năng lực đọc chính là nền tảng của việc học, cha mẹ nên nuôi dưỡng
hứng thú đọc của trẻ càng sớm càng tốt, qua đó có thể giúp trẻ hình thành thói
quen đọc. Trẻ có năng lực đọc tốt có quan hệ mật thiết với học hành sau này
của trẻ. Kinh nghiệm đọc của trẻ càng phong phú càng có lợi cho việc học của
trẻ sau này, vì thế cố gắng tạo thói quen đọc cho trẻ từ sớm. Việc cho trẻ đọc
trước hết phải dựa trên kinh nghiệm ngôn ngữ nói của trẻ. Trong quá trình trẻ

1


làm quen với đọc, trẻ có thể khám phá ra cách giải mã chữ viết qua việc học
nhận biết các chữ cái và từ, nhận biết mối quan hệ giữa âm thanh và ký hiệu
chữ viết, hiểu mối quan hệ giữa từ được tạo ra bởi một nhóm chữ cái và nghĩa
của từ.
1.3. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, những
năm gần đây ở trường mầm non việc khai thác, sử dụng các phần mềm trò
chơi, dạy học đã được các nhà giáo dục quan tâm và ứng dụng có hiệu quả
trong giảng dạy. Do đó, trẻ có cơ hội để làm quen, ứng dụng và phát triển các
khả năng về công nghệ thông tin thông qua việc sử dụng các công cụ tin học
trong quá trình học tập. Thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, trẻ sẽ
được khám phá các ý tưởng, khái niệm, câu hỏi khác nhau, trẻ sẽ được tương
tác với chữ viết, với những âm thanh, hình ảnh sống động. Các hoạt động sử
dụng máy tính và các phần mềm luôn được gắn với phần hướng dẫn của giáo
viên trên lớp cũng như gắn với thế mạnh và nhu cầu của trẻ. Khi trẻ chơi các
trò chơi với máy tính, giáo viên có nhiều cơ hội để phát hiện ra mức tiếp thu
và sự phát triển của trẻ. Những cơ hội này chỉ xuất hiện khi giáo viên biết
quan sát, theo dõi sát sao lúc trẻ đang chơi.
Hiện nay, trong các trường mầm non việc sử dụng phần mềm
HappyKid (Ngôi nhà chữ) đã không còn xa lạ với trẻ. Nhưng khi nói đến
HappyKid, mọi người đều nghĩ rằng, đó là trò chơi và đơn giản chỉ để cho bé

năng lực của mỗi học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường, đó là cơ sở quan
trọng để học sinh lĩnh hội tri thức, trưởng thành trong học vấn và kinh nghiệm
sống. Trường mầm non không có nhiệm vụ dạy trẻ đọc viết nhưng phải chuẩn
bị những khả năng cho việc đọc, viết của trẻ. Công việc này được tiến hành
trong suốt giai đoạn lứa tuổi mầm non, đặc biệt là giai đoạn 5-6 tuổi.
2.1. Ở nước ngoài
Khoảng những năm 70 – 90 của thế kỉ XIX, các trường mẫu giáo của
Anh, Mỹ cấm việc cho trẻ làm quen với chữ viết và các hoạt động liên quan

3


đến đọc và viết. Nhưng tới những năm 80 của thế kỉ XX, do chất lượng học
tập của học sinh lớp 1 không cao, một số người cho rằng có thể do sự chuẩn
bị chưa tốt các kĩ năng khi học mẫu giáo. Vì vậy, nhiều nơi ở Anh, Mỹ người
ta đã bắt đầu áp dụng chương trình chuẩn bị cho trẻ học đọc, viết ở trường
phổ thông. Trong quá trình thực hiện, họ nhận ra rằng việc cần thiết là xây
dựng cho trẻ một chương trình chuẩn bị khả năng đọc viết phù hợp với lứa
tuổi, sự hứng thú của trẻ và thực hiện mang tính tổng thể hơn là việc cho trẻ
nhận biết từng chữ cái riêng biệt.[24]
Theo Sloan.P, Latham.S – các nhà giáo dục người Úc, chuyên gia về
đọc – viết, Cutting.B – nhà giáo dục người Mỹ, nếu chỉ chú trọng cung cấp
cho trẻ về khía cạnh cấu trúc của ngữ âm học và việc thuộc lòng từng chữ cái
riêng lẻ sẽ tạo cho trẻ thái độ học tập không đúng ví dụ như việc học không
cần phải tư duy, suy nghĩ. Quá trình học của trẻ trở nên thụ động, không sáng
tạo, khô cứng, trẻ không còn hứng thú, say mê trong hoạt động đọc và viết,
chúng chỉ thực hiện khi được yêu cầu.[2]
Hiện nay, đa số các nhà giáo dục Mỹ, Úc đã ủng hộ chương trình đọc
viết được xây dựng trên quan điểm coi đọc và viết là hành vi trí tuệ. Các
nghiên cứu của Lay và Harste, Woodward và Burke (1984) về sự phát triển

ông nghiên cứu, khảo sát tại sao trẻ 0-6 tuổi lại học tốt và nhanh hơn hơn
những trẻ có độ tuổi lớn hơn. Cuốn sách đã đưa ra được những kỹ năng cơ
bản giúp trẻ có khả năng đọc thông viết thạo. Ông khẳng định giai đoạn từ 1-5
tuổi là thời kỳ vàng để trẻ học đọc. Ông đã đưa ra 5 bước để tiến hành dạy trẻ
học đọc đó là: đọc các từ riêng lẻ, đọc các từ ghép, đọc cả cụm từ, đọc các
câu, cuối cùng là đọc cả cuốn sách. Đồng thời ông cũng hướng dẫn chi tiết
cách dạy cho trẻ đọc ở các giai đoạn lứa tuổi.[5].
Mới đây nhất, trong cuốn sách “Phương án 0 tuổi - Phát triển ngôn
ngữ từ trong nôi”, Giáo sư Phùng Đức Toàn, cha đẻ của nền giáo dục sớm của

5


Trung Quốc đã rất coi trọng việc dạy chữ sớm cho trẻ. Ông cho rằng không
chỉ chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho trẻ 5- 6 tuổi mà cho trẻ ở mọi lứa tuổi
theo phương thức tự nhiên, công cụ chủ yếu là ngôn ngữ thị giác. Thậm trí,
ông còn cho rằng, tuổi sơ sinh là giai đoạn học chữ tốt nhất, và nên dạy chữ
cho trẻ trước khi trẻ biết nói. Dạy chữ (học đọc, học viết) cho trẻ sớm có ý
nghĩa lớn trong việc khai thác tiềm năng và nâng cao tố chất của con người.
Ông cũng chỉ ra rằng, đối với một đứa trẻ hoàn toàn không cần thiết phải đi
theo con đường cũ học nói trước rồi mới học viết. Mà nên bắt đầu cả hai ngôn
ngữ, đó là con đường đưa trẻ đi đến trí tuệ. Trẻ nhỏ học chữ diễn ra rất tự
nhiên cũng giống như tiếp thu những kích thích khác từ ngoài môi trường và
dần tiến tới việc đọc. Đây là phương pháp tốt để trẻ nắm bắt được công cụ
ngôn ngữ thị giác một cách vô thức. Để cho trẻ học chữ sớm thông qua các trò
chơi sẽ có thể thúc đẩy sự phát triển phẩm chất cá tính của trẻ như: phát triển
khả năng chú ý; rèn luyện khả năng quan sát; bồi dưỡng trí nhớ; phát triển khả
năng tư duy và khả năng tưởng tượng của trẻ; vun đắp tính cách tốt đẹp và bồi
dưỡng niềm yêu thích đọc sách; bồi dưỡng khả năng và thói quen tự học.[31].
Như vậy, các công trình nghiên cứu của các nước có nền giáo dục phát

nghĩa đối với trẻ. Trần Mạnh Hưởng có bài viết “Góp phần chuẩn bị cho trẻ
mẫu giáo 5 tuổi học tốt môn tiếng Việt ở lớp 1” trong kỷ yếu Hội thảo khoa
học 2003 đã đưa ra một số đề xuất về nội dung, yêu cầu chuẩn bị cho trẻ 5
tuổi học tốt môn tiếng Việt. Ngoài ra, tác giả còn cho rằng nội dung và hình
thức chuẩn bị cho trẻ 5 tuổi cần tập trung vào yêu cầu làm quen với các kỹ
năng nghe, nói hơn so với các kỹ năng đọc, viết, chú trọng đến các hoạt động
vui chơi hơn là yêu cầu làm quen và nhận biết kiến thức[13]. Lê Thị Ánh
Tuyết có bài “Cho trẻ làm quen với chữ viết – các quan niệm và thực tiễn”
trong tạp chí Giáo dục mầm non số 1-2003 đã tập hợp các ý kiến của các nhà
nghiên cứu về vấn đề cho trẻ làm quen với chữ viết và đưa ra một số định
hướng quanh việc đó như sau:

7


- Vấn đề cho trẻ làm quen với chữ viết, cũng như đối với việc chuẩn bị
học đọc, học viết cho trẻ mầm non cần được xem là một bộ phận của sự phát
triển ngôn ngữ ở trẻ. Cần xác định rõ yêu cầu cần đạt được trong việc cho trẻ
ở mẫu giáo làm quen với chữ viết trong mối quan hệ với sự phát triển các kỹ
năng nghe, nói, tiền biết đọc, tiền biết viết.
- Việc cho trẻ làm quen với chữ viết, hình thành kỹ năng chuẩn bị cho trẻ
đọc, viết bao gồm nhiều quá trình, nhiều hoạt động như: quan sát, tương tác với
người lớn, thực hành…và cần phải có môi trường phù hợp để trẻ hoạt động.
- Việc chuẩn bị cho trẻ làm quen với chữ viết đòi hỏi phải có thiết kế
hoạt động thích hợp. Song, bên cạnh đó cũng cần phải tính đến thời gian cho
trẻ hoạt động có tính chuyên biệt như trẻ trải nghiệm việc đọc, viết theo khả
năng riêng của mình.
- Cần xây dựng các phương tiện, học liệu phù hợp góp phần thúc đẩy
khả năng tiền đọc viết của trẻ như lôtô, bộ chữ, vở tập tô, tập sao chép chữ,…
[34]

Nhận biết được các ký hiệu quen thuộc trong môi trường sống (ký hiệu
giao thông, ký hiệu các khu vực trong lớp, tên riêng hoặc ký hiệu của mình).
- Thực hiện một vài quy tắc thông thường trong tiếng Việt (cầm sách
đúng chiều khi đọc; lật giở trang sách; đọc văn bản từ trên xuống dưới, từ trái
sang phải của trang sách, ngắt câu khi gặp dấu chấm).
Và theo nghiên cứu của tác giả trò chơi làm tăng khả năng tiền đọc viết
của trẻ. Sự can thiệp của hoạt động vui chơi làm tăng khả năng sử dụng các
tài liệu đọc, viết của trẻ và sự tham gia của chúng vào các hoạt động đọc viết
để đạt được các kiến thức, kỹ năng cụ thể như nhận thức về phát âm, về chức
năng, ý nghĩa, hình thái của ngôn ngữ viết, trải nghiệm các hành vi đọc viết
theo qui tắc thông thường[2].
Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đinh Hồng Thái, nhiều năm nay đã có
nhiều luận văn thạc sỹ nghiên cứu về lĩnh vưc này như: Phạm Thanh Thủy

9


với “Ứng dụng công nghệ thông tin cho trẻ 5 - 6 tuổi làm quen với chữ viết”;
Lê Thị Cẩm Hà “Sử dụng truyện tranh để chuẩn bị khả năng tiền đọc viết cho
trẻ 5 - 6 tuổi”; Trần Thị Phượng “Lựa chọn và sử dụng truyện mẫu giáo giúp
trẻ 5 - 6 tuổi làm quen với đọc sách”; Nguyễn Ngọc Ly “Sử dụng góc thư viện
giúp trẻ 5 -6 tuổi làm quen với đọc sách”….
Đặc biệt trong những năm gần đây tác giả Đinh Hồng Thái tập trung
nghiên cứu việc học đọc, học viết của trẻ mẫu giáo trong trường mầm non.
Tác giả cho rằng đọc (đọc hiểu) là một trong các kỹ năng sử dụng ngôn ngữ
có vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội tri thức văn hóa của mỗi người. Đọc
là một quá trình tâm lý hết sức phức tạp, một hành động trí tuệ đòi hỏi người
đọc không chỉ có sự hiểu biết ngôn ngữ mà còn có tri thức nền, các kiến thức
liên quan đến nội dung văn bản ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào tính
chất của nhiều loại văn bản. Vì vậy, khả năng này cần được hình thành càng

5. Giả thuyết khoa học
Nếu có những biện pháp sử dụng phần mềm HappyKid theo hướng tích
cực hóa hoạt động của trẻ với sách truyện điện tử sẽ giúp trẻ 5- 6 tuổi hình
thành khả năng “đọc” và tạo điều kiện thuận lợi cho việc học đọc ở lớp một.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc hình thành khả năng đọc ở trẻ 56 tuổi.
6.2. Nghiên cứu thực trạng việc chuẩn bị đọc cho trẻ 5-6 tuổi trước khi
vào lớp Một.
6.3. Đề xuất biện pháp sử dụng phần mềm HappyKid hình thành khả
năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
6.4. Thực nghiệm sư phạm để chứng minh tính khả thi của các biện pháp.
7. Phạm vi nghiên cứu
7.1. Phạm vi nội dung nghiên cứu: Hoạt động học với phần mềm
HappyKid, hoạt động trong phòng máy và trong hoạt động góc học tập.
7.2. Phạm vi địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Bắc Giang tỉnh Bắc Giang.

11


8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, khái quát hóa
thông tin trong các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát, ghi chép một số hoạt động của giáo viên và trẻ trong việc sử
dụng phần mềm HappyKid giúp trẻ 5 -6 tuổi hình thành khả năng đọc.
8.2.2. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại, trò chuyện với giáo viên và trẻ để phát hiện thực trạng, giải

Chương 1: Cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài.
Chương 2: Thực trạng sử dụng phần mềm HappyKid hình thành khả
năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
Chương 3: Một số biện pháp sử dụng phần mềm HappyKid hình thành
khả năng đọc cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
Phần kết luận và kiến nghị

13


NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG PHẦN MỀM HAPPYKID
HÌNH THÀNH KHẢ NĂNG ĐỌC CHO TRẺ 5-6 TUỔI
Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Hệ thống khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.1. Khái niệm “đọc”
Nền văn hóa, kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người được lưu giữ
và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng nhiều con đường khác nhau,
một trong trong những phương thức lưu truyền được con người tiếp nhận một
cách dễ thấy đó là ‘đọc”. Con người biết đọc sẽ nâng khả năng tiếp nhận lên
nhiều lần. Như Vônte quả quyết “Đọc những tác giả viết hay ta sẽ tập được
thói quen lịch sự và văn hóa”
Từ đó học tìm hiểu cuộc sống, nhận thức ra các mối quan hệ trong tự
nhiên, xã hội và có sự đánh giá cuộc sống. Khi con người biết đọc họ có thể
làm chủ được các phương tiện, làm chủ trong giao tiếp và đặc biệt là hiểu
được suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của những người sống quanh mình. Với sự
hiểu biết lẫn nhau, con người có thể đồng tâm hiệp lực để cùng nhau chinh
phục thiên nhiên, chinh phục xã hội và làm cho đời sống con người ngày
càng phát triển văn minh hơn, tốt đẹp hơn.

là hoạt động nhận thức nội dung ý nghĩa từ văn bản mà còn là hoạt động trực
quan sinh động giàu cảm xúc, có tính trực giác và khái quát trong nếm trải
của con người. Đọc văn còn là hành động mang tính chất tâm lí, một hoạt
động tinh thần của độc giả, bộc lộ rõ năng lực văn hóa từng người”. “Qua đọc
hiểu, năng lực và tri thức văn hoá của từng người được bộc lộ rõ, đồng thời
làm xuất hiện kinh nghiệm văn hoá đọc và làm biến đổi cách thức, chất lượng
và tầm văn hoá đọc”[12].

15


Tác giả Trần Đình Sử quan niệm dạy học đọc (hiểu) tác phẩm văn
chương khá toàn diện. “Đó là một quá trình bao gồm việc tiếp xúc với văn
bản, thông hiểu cả nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn cũng như thấy được
vai trò, tác dụng của các hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn từ, các thông
điệp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả các giá trị tự thân của
hình tượng nghệ thuật. Đọc hiểu là hoạt động duy nhất để học sinh tiếp xúc
trực tiếp với các giá trị văn học. Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu
nghĩa của từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch
văn, bố cục và nắm được ý chính, cũng như chủ đề của tác phẩm. Lý giải
những đặc sắc về nghệ thuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong
ngữ cảnh của nó. Trong quá trình học đọc, học sinh sẽ biết cách đọc để tích
luỹ kiến thức, đọc để lý giải, đọc để đánh giá và đọc sáng tạo, phát hiện.[46].
Theo tác giả Đinh Hồng Thái: đọc được hiểu theo hai nghĩa: Đọc (văn
bản) thành tiếng và đọc hiểu văn bản (có thể đọc thành tiếng hoặc đọc thầm).
Khái niệm chúng ta đang bàn ở đây theo nghĩa thứ hai: đọc hiểu văn bản.[40].
Jenne M.Machado, trong cuốn “Những kinh nghiệm của trẻ mầm non
trong nghệ thuật ngôn ngữ” cho rằng đọc là một phần của quá trình giao tiếp.
Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau,
đó là việc sử dụng một bộ phận có hai phương diện. Phương diện thứ nhất đó

tuệ và nhiệm vụ chính của chương trình đọc viết, là giúp trẻ hiểu được ý
nghĩa của những gì trẻ đọc. Hoạt động đọc viết phải được xem như các thành
phần cấu thành của ngôn ngữ trọn vẹn.[25].
Trong cuốn “Phương pháp đọc diễn cảm”, tác giả Hà Nguyễn Kim
Giang viết: Trẻ em đọc cái mình không thể tự hiểu, đọc bằng chữ viết và câu
văn với những sắc thái biểu đạt thẩm mỹ riêng của nó nên việc đọc của các
em cần nhờ sự giúp đỡ của người lớn và mang tính tập thể.[8]
Như vậy đọc được xem như là một hoạt động có các thành tố tiếp nhận
dạng thức chữ viết của từ, chuyển dạng thức chữ viết thành nghĩa có âm thanh

17


hoặc không có âm thanh và thông hiểu những gì được đọc. Trẻ không tự đọc
hiểu, đọc bằng chữ viết với những câu văn có sắc thái biểu cảm riêng mà cần
có sự giúp đỡ của người lớn.
1.1.2. Khái niệm “khả năng đọc”
Văn hoá đọc, với tư cách văn hoá hành vi của mỗi cá nhân con người,
biểu hiện ở khả năng lựa chọn sách, kỹ năng đọc và lĩnh hội sách cũng như
cách thức ứng xử với sách báo, là sự thể hiện rõ ràng nhất đặc điểm tâm lý và
nhân cách của mỗi cá nhân, được hình thành từ lứa tuổi ấu thơ và phát triển
trong suốt cuộc đời con người.
Trẻ em được coi là giai đoạn đầu tiên của cuộc đời con người, giai đoạn
chuẩn bị các phẩm chất và năng lực cần thiết để tham gia lao động xã hội.
Việc tạo dựng thói quen tốt cho trẻ mầm non (từ 1-6 tuổi) là một việc làm
quan trọng để từ đó hình thành nhân cách cho trẻ em. Một trong những thói
quen có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự phát triển tư duy, đạo đức, lối sống,..
của trẻ em đó là thói quen đọc sách.
Theo từ điển tiếng Việt – Hoàng Phê, khả năng là cái có thể xuất hiện,
có thể xảy ra trong điều kiện nhất định [28]. Định nghĩa khác cho thấy, khả

khích trẻ thay đổi và chon lọc những ý tưởng của bản thân để làm cho nó phù
hợp với quan điểm thông thường.[41, tr 150].
Khái niệm về khả năng tiền đọc – viết còn được nhà tâm lí giáo dục học
Katheleen A, tạp chí Young children 8/2003 định nghĩa là “đọc viết được xuất
hiện ban đầu ở trẻ, trẻ được phát triển trong sự phát triển của ngôn ngữ nói,
qua giao tiếp và trò chuyện”. Khả năng đó được coi là sự cố gắng thể hiện đầu
tiên của một đứa trẻ để tạo ra và sử dụng chữ viết theo chiều hướng có ý
nghĩa.[41, tr 154].
Như vậy, khả năng tiền đọc viết là khả năng khởi đầu cho việc đọc viết
trước khi trẻ có thể đọc viết một cách thực thụ. Nó được coi như sự cố gắng
đầu tiên của đứa trẻ trong việc thực hiện hành vi đọc. Khả năng tiền đọc viết

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status