skkn một số BIỆN PHÁPGIÁO dục kỹ NĂNG SỐNG CHO TRẺ mẫu GIÁO 5 6 TUỔI ở TRƯỜNG mầm NON - Pdf 42

“MỘT SỐ BIỆN PHÁPGIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON"
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Học để cùng chung sống là một trong những vấn đề then chốt của giáo dục thế
giới .Chính vì vậy mà vào đầu thập kỉ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc như
WHO (Tổ chức y tế thế giới), UNICEF ( Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên hiệp quốc),
UNESCO ( Tổ chức giáo dục , khoa học và văn hóa Liên hiệp quốc) đã chung
sức xây dựng chương trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. “ Bởi lẽ những
thử thách mà trẻ em và thanh niên đang phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao
hơn là những kỹ năng đọc, viết, tính toán tốt nhất”.
Ở Việt nam, từ năm học 2008-2009, Bộ Giáo dục - Đào tạo đã phát động phong
trào thi đua “ Xây dựng trường học thân thiện - học sinh tích cực”, với yêu cầu
tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động
giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng với thái độ tự giác, chủ động và ý
thức sáng tạo. Trong các mục tiêu của chương trình giáo dục mầm non (ban
hành kèm theo thông tư số 17/2009/TT- BGD&ĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009)
có mục tiêu giáo dục phát triển tình cảm và kỹ năng xã hội. Để thực hiện mục
tiêu trên, nội dung quan trọng cần đưa vào giáo dục trẻ là dạy một số kỹ năng
sống cho trẻ mầm non.
Về phía các bậc cha mẹ trẻ: cha mẹ trẻ em luôn quan tâm đến việc làm sao để
kích thích tính tích cực học tập của trẻ. Cha mẹ nào cũng muốn con mình được
tham gia và trải nghiệm vào các hoạt động vui chơi hay học tập tích cực để từ đó
trẻ lĩnh hội được các kinh nghiệm sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và sẵn sàng
ứng phó với các tình huống trong cuộc sống. Đặc biệt, khi trẻ chuẩn bị vào lớp
một, các bậc phụ huynh lại luôn lo lắng liệu rằng con mình có đủ sức khỏe và
khả năng để theo học thật tốt cùng các bạn ở trường tiểu học hay không.
Đối với giáo viên mầm non: GV thường lo lắng đối với những trẻ có một số vấn
đề về hành vi và khả năng tập trung trong những năm tháng đầu tiên trẻ đến




Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở
trường mầm non Đại Tự.
Nghiên cứu thực tiễn để đưa ra các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
4. Đối tượng nghiên cứu :
Trẻ mẫu giáo5-6 tuổi và các hoạt động giáo dục giúp trẻ có kỹ năng sống tích
cực ở trường Mầm non Đại Tự -Yên Lạc-Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp nghiên cứu:
5. 1. Phương pháp nghiên cứu lý luận .
Phân tích tổng hợp các tài liệu có liên quan đến thực tiễn và công tác giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ mầm non.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
* Phương pháp điều tra: Điều tra về mức độ trẻ đạt được các nhóm KNS
Tìm hiểu các biện pháp dạy KNS cho trẻ đạt kết quả cao nhất.
*Phương pháp quan sát : Quan sát các biểu hiện , hành vi, các kỹ năng của trẻ
thông qua ngôn ngữ và hoạt động hàng ngày.
* Phương pháp đàm thoại: Đàm thoại với các đồng nghiệp để trao đổi các kinh
nghiệm hay trong dạy KNS cho trẻ. Đàm thoại với phụ huynh để tìm hiểu đặc
điểm của trẻ khi ở gia đình. Đàm thoại trực tiếp với trẻ trong quá trình thực hiện
các biện pháp giáo dục.
* Phương pháp trực quan: Bao gồm phương pháp làm mẫu, làm gương… giúp
trẻ quan sát và bắt chước thực hành thường xuyên những kỹ năng sống cần hình
thành.
* Phương pháp thực hành:Bao gồm các phương pháp trò chơi, giao việc, trải
nghiệm. Những phương pháp này giúp trẻ bắt chước/ tập thử và tích cực thực
hành thường xuyên các kỹ năng sống GV cần dạy trẻ.
* Phương pháp toán học :Xử lý những số liệu khảo sát, đã đạt được kết quả,
mức độ đạt được, để rút ra kinh nghiệm hay cho vấn đề nghiên cứu.


thay đổi của điều kiện sống.


- Giúp trẻ biết kiểm soát cảm xúc, thể hiện tình yêu thương, đồng cảm với mọi
người xung quanh.
- Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ mạnh dạn, tự tin, tôn trọng người khác, có khả
năng giao tiếp tốt với mọi người.
- Giúp trẻ ham hiểu biết, sáng tạo, có những kỹ năng thích ứng với hoạt động
học tập ở lớp một như : sẵn sàng hòa nhập, vượt qua khó khăn để hoàn thành
nhiệm vụ…
1.3.Những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non
Các nhóm kỹ năng có thể dạy cho trẻ mầm non như : Kỹ năng nhận thức về bản
thân, kỹ năng quản lý cảm xúc, kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội,kỹ năng học
tập, kỹ năng tương tác…Từ đó, chương trình giáo dục mầm non đã đưa ra các
nội dung đơn giản và hết sức gần gũi với trẻ như: dạy trẻ có kỹ năng hợp tác với
mọi người, kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ , kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng
kiểm soát cảm xúc…các kỹ năng này không tách rời nhau mà có liên quan chặt
chẽ với nhau, được thể hiện đan xen vào nhau, có thể thực hành trong bất cứ tình
huống nào xảy ra hàng ngày. Cho nên việc giáo dục và vận dụng tốt sẽ giúp trẻ
có nhân cách tốt. Khi giáo dục kỹ năng sống còn góp phần mở rộng nhận thức,
phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, phát triển ngôn ngữ... cho
trẻ.
Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non đã triển khai được một số năm
học, tuy nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Nếu
giáo viên thực hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả
trên trẻ sẽ có bước tiến bộ nhanh chóng.
2. Thực trạng dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo5-6 tuổi ở trường mầm non Đại
Tự trong những học vừa qua.
Trường Mầm non Đại Tự là trường đạt chuẩn quốc gia, các phòng học đều mới
xây dựng nên sạch đẹp và kiên cố. Ban giám hiệu nhà trường tích cực bồi dưỡng

GV có trình độ chuyên môn đại học, được tập huấn về nội dung dạy kỹ năng
sống cho trẻ mầm non do Phòng giáo dục tổ chức và qua các buổi bồi dưỡng


chuyên môn tại trường, tích cực nghiên cứu tài liệu về giáo dục kỹ năng sống
cho trẻ mầm non.
Tài liệu hướng dẫn sử dụng bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi có các chỉ số, hướng
dẫn cách đánh giá trẻ rõ ràng và cụ thể nên việc dạy trẻ các kỹ năng và đánh giá
kết quả trên trẻ rất thuận lợi, chính xác, từ đó biết trẻ nào đạt được và chưa đạt
được để tiếp tục rèn trẻ vào các chủ đề tiếp theo.
2.2. Khó khăn
Trình độ nhận thức của trẻ không đồng đều, do đó cùng một thời gian và biện
pháp dạy trẻ các nội dung KNS nhưng kết quả trên trẻ đạt chưa tương đương với
nhau.
Một số trẻ nhút nhát nên không tự tin khi tham gia vào các hoạt động ,một số trẻ
lại quá hiếu động nên khi hoạt động chưa chú ý vào sự hướng dẫn của cô, kỹ
năng sống của trẻ còn nhiều hạn chế.
Sự quan tâm của gia đình dành cho các cháu là không đồng đều, 100% phụ
huynh là nông thôn . Một số phụ huynh đi làm ăn xa để các cháu ở nhà với các
anh chị hoặc ông bà đã già, thời gian phụ huynh quan tâm đến trẻ còn ít, không
dành thời gian trò chuyện để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của trẻ để giáo dục trẻ
mà chỉ biết chiều theo mọi đòi hỏi của trẻ, trẻ được đáp ứng quá đầy đủ về nhu
cầu trẻ cần. Ví dụ: trẻ chỉ cần đòi mua đồ dùng nào đó là được đáp ứng ngay mà
không biết điều đó có phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của bố mẹ hay không, khi
được món đồ chơi đó trẻ cũng không biết cảm ơn bố mẹ….Đây cũng là một
trong những nguyên nhân làm cho trẻ thiếu KNS.
Mặc dù nhà trường đã hỗ trợ và đầu tư, tuy nhiên kinh phí trong việc tổ chức
một số các hoạt động ngoại khoá vào các ngày lễ, ngày tết nhằm dạy KNS cho
trẻ còn hạn chế và chưa thường xuyên.
2.3. Kết quả khảo sát ban đầu


20 = 66.6%

10 = 33.4%

17 = 56.6 %

13= 43.3%

- Nhóm kỹ năng học tập

16 = 53.3%

14 = 46.7

- Nhóm kỹ năng hợp tác

21 = 70%

9 = 30%

- Nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ
xã hội

Mặc dù thực trạng giáo dục KNS cho trẻ ở trường còn nhiều khó khăn, tuy nhiên
tôi đã dần khắc phục, nghiên cứu các giải pháp và thực hiện giáo dục KNS cho
trẻ theo mục tiêu của chương trình giáo dục đã đề ra, chuẩn bị tốt cho trẻ trước
khi bước vào lớp một ở trường phổ thông.



- Nhóm kỹ năng hợp tác: Kỹ năng tổ chức hoạt động, làm việc theo nhóm,kỹ
năng ra quyết định, giải quyết vấn đề.
- Nhóm kỹ năng nhận thức về bản thân: Kỹ năng tự bảo vệ trước những tình
huống nguy hiểm, nhận biết về giá trị bản thân.
- Nhóm kỹ năng giao tiếp và quan hệ xã hội: kỹ năng ứng xử phù hợp với người
xung quanh, kỹ năng hợp tác, kỹ năng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, kỹ năng
tuân thủ các quy tắc xã hội, giao tiếp lịch sự và lễ phép, kỹ năng tự phục vụ.
- Nhóm kỹ năng học tập : Ý thức trách nhiệm, Kỹ năng thiết lập và thực hiện
mục tiêu.
Để xác định được những kỹ năng này tôi cần đọc, nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên cho giáo viên mầm non và các tài liệu khác về giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ do các nhà xuất bản có uy tín phát hành.
3.3. Cụ thể hóa những biện pháp để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ.
3.3.1. Hình thành kỹ năng tự tin:
- Theo Dale - một nhà văn, nhà thuyết trình nổi tiếng của Mỹ thì “Nếu bạn thật
sự tin tưởng chính mình, nhất định sẽ đạt được ước mơ, bạn có thể bước trên
đường bằng phẳng mà người khác cũng sẽ cần bạn hơn”. Vì vậy, một trong
những kỹ năng đầu tiên mà tôi cần chú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng
của trẻ. Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như
trong mối quan hệ với những người khác,trẻ tự tin làm theo ý tưởng, tự tin bày
tỏ cảm xúc của mình với người khác mà không e ngại. KNS này giúp trẻ nhanh
chóng thực hiện được mong muốn của mình đồng thời có khả năng hòa nhập với
cộng đồng.
- Những biện pháp tôi sử dụng để phát triển sự tự tin ở trẻ là:
+ Luôn tôn trọng, giúp trẻ xây dựng hình tượng tốt của chính mình: Từ đặc điểm
sự tự tin của trẻ bắt nguồn từ lòng tự tôn, một trẻ không có sự tự tôn thì không
thể có sự tự tin. Do đó , tôi luôn tôn trọng trẻ, cổ vũ và khích lệ những khả năng
của trẻ mọi lúc mọi nơi một cách kịp thời.



+ Quy định hành vi : Đầu năm học tôi đề ra 1 số quy định phù hợp với lớp học
nhằm đạt được mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ, tạo thói quen nề nếp tốt cho trẻ.
Yêu cầu trẻ trong lớp thực hiện theo các nội quy đó để tạo tính chủ động và làm
việc có kế hoạch cho trẻ trong lớp
Ví dụ : Đến giờ thể dục sáng, tôi hỏi trẻ các con nhìn lên lịch xem hoạt động đầu
tiên trong ngày hôm nay là gì? Và cho trẻ cùng chuẩn bị hoạt động đó với cô...
+ Tổ chức một số hoạt động khác để phát triển sự tự tin của trẻ :
Tôi có thể trò chuyện với trẻ với những câu hỏi như tự tin là gì? Khi con tự tin
con cảm thấy như thế nào? Khi không tự tin con cảm thấy ra sao? Hoặc sử dụng
những câu hỏi gắn với thực tế của trẻ như “ con hãy kể những việc con muốn tự
làm, Con học cách làm này như thế nào? Hãy kể những việc con tự làm, Khi tự
làm con cảm thấy như thế nào?”. Qua hoạt động trò chuyện đó giúp trẻ hiểu rằng
khi trẻ tự tin là khi trẻ mạnh dạn nói , làm, thể hiện cảm xúc và suy nghĩ của
mình với mọi người. Nếu trẻ tự tin ở mình thì kết quả hoạt động của trẻ sẽ đạt
tốt hơn.
Tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm: để trẻ tự làm mọi việc cho bản thân mình
càng nhiều càng tốt( Vd: tự lấy đồ dùng học tập, hoặc dạy trẻ cách nhờ 1 người
bạn khác giúp đỡ mình 1 việc gì đó..)
3.3.2. Hình thành kỹ năng hợp tác:
- Ca dao tục ngữ Việt Nam có câu “ Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”
Vì vậy việc giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ mầm non là rất cần thiết. Bởi trẻ
mầm non còn nhỏ, có nhiều việc không thể tự làm được nếu không có người
khác giúp đỡ. Khi trẻ được bạn giúp đỡ và khi trẻ giúp đỡ được bạn trẻ sẽ nhanh
chóng hoàn thành nhiệm vụ của mình. Qua đó trẻ có niềm vui, có bạn bên cạnh
để chia sẻ công việc, giúp phát triển kỹ năng và tình cảm xã hội của trẻ.
- Để giáo dục kỹ năng hợp tác cho trẻ tôi luôn tạo cơ hội cho trẻ chơi và làm
việc theo nhóm với các trẻ khác trong tất cả các hoạt động.




và phát huy chúng một cách tối đa. Trẻ nhận ra điểm yếu của mình cũng giúp trẻ
dự đoán được những khó khăn trong quá trình hoạt động từ đó tìm ra cách khắc
phục khó khăn đó.
- Để hình thành kỹ năng tự nhận thức tôi đã thực hiện 1 số biện pháp sau:
+Trò chuyện giúp trẻ tìm hiểu về bản thân thông qua 1 số câu hỏi như: Con là
ai? Con thấy mình có những tính tốt đẹp nào? Con thích gì và không thích gì?
Con có mong muốn gì? Con sẽ làm gì để đạt được mong muốn đó?con có những
điểm gì khác với bạn?.....
+ Chấp nhận sự đa dạng của trẻ và giúp trẻ chấp nhận lẫn nhau: Tôi luôn tôn
trọng cá tính của từng cá nhân trẻ trong lớp, đồng thời có biện pháp giáo dục để
hạn chế điểm yếu, phát huy điểm mạnh của trẻ. Tôi nhận thấy rằng khi tôi tôn
trọng tất cả các trẻ thì trẻ trong lớp sẽ noi gương theo cô, biết tôn trọng các bạn
lớp mình.
Ví dụ: Trong lớp có một cháu bị khuyết tật, trẻ trong lớp không chơi cùng với
bạn đó, tôi sẽ trò chuyện để các cháu thấy rằng bạn đó có rất nhiều điểm tốt như
ngoan, chăm đi học, bạn hát hay…các con cần quan tâm giúp đỡ và chia sẻ với
bạn. Đồng thời, bản thân tôi cũng luôn đối xử công bằng , yêu thương , tôn trọng
trẻ đó để trẻ trong lớp noi theo.
+Đặt yêu cầu cao cho các trẻ và khích lệ trẻ hoạt động để đạt mục tiêu đó: Tôi
luôn đặt yêu cầu cao cho tất cả các trẻ trong lớp, Với sự hướng dẫn của tôi, từng
trẻ đã có khả năng tham gia hầu hết các hoạt động . Trong bất kì hoạt động nào
tôi cũng khuyến khích để kích thích tính tò mò khám phá của trẻ chứ không ép
buộc mọi trẻ phải tham gia. Tôi gợi ý để trẻ thử thách với chính mình. Thay vì
cạnh tranh với trẻ khác, tôi khuyến khích trẻ cạnh tranh với chính mình.
Ví dụ: Nhảy xa sử dụng thước dây, xếp hình bằng đồng hồ bấm giây…lần sau
tốt hơn lần trước…
+ Giúp trẻ đạt được thành công nhất định trong lớp học: Thành công là một
trong những yêu tố quan trọng tác động đến sự phát triển ý thức bản thân. Trẻ ở
lứa tuổi này cần trải qua thành công( theo khả năng của trẻ) để trẻ có cảm giác



lớn xung quanh. Nếu trẻ không đạt được năng lực xã hội tối thiểu vào khoảng 6
tuổi thì trẻ có thể gặp khó khăn trong suốt cuộc sống sau này
- Phát triển kỹ năng này là một nhiệm vụ phức tạp đối với trẻ. Yêu cầu trẻ biết
ứng xử theo quy tắc xã hội, biết tạo các mối quan hệ cũng như tương tác với
cảm giác thoải mái với những người khác đồng thời biết điều chỉnh hành vi phù
hợp với hoàn cảnh. Để giáo dục tốt cho trẻ nội dung này tôi thực hiện 1 số biện
pháp sau:
+ Dạy trẻ học cách kiểm soát xung đột và điều chỉnh hành vi của mình:
Tôi làm cầu nối giúp trẻ biểu lộ cảm xúc của mình và biết lắng nghe ý kiến của
người khác. Nếu trẻ bất hòa với bạn khác tôi thường chỉ cho trẻ thấy trẻ chưa
đúng ở điểm nào, điểm nào cần khắc phục và điểm tốt nào cần phát huy. Cho trẻ
thấy những mối bất hòa thường dẫn đến những cảm xúc tiêu cực như tức giận,
sợ hãi, còn nếu chơi đoàn kết với bạn sẽ tạo nên nhưng tình cảm tốt đẹp và tinh
thần thoải mái, vui vẻ…
Ví dụ: Có 2 trẻ đánh nhau, điều đầu tiên cần làm là hỏi hai trẻ lý do vì sao lại
như vậy để từng trẻ có cơ hội thể hiện suy nghĩ bằng lời nói về sự việc đó. Sau
đó giải thích cho trẻ hiểu bạn nào đúng, bạn nào chưa đúng. Giáo dục trẻ lần sau
chơi đoàn kết với bạn hơn.
+ Dạy trẻ cách giải quyết vấn đề: Mỗi tình huống khó khăn mà trẻ gặp phải sẽ có
tác dụng giúp trẻ lĩnh hội được kinh nghiệm sống thông qua việc tìm cách giải
quyết vấn đề đó. Cho nên với mỗi tình huống xảy ra hàng ngày tôi đều tận dụng
cho trẻ quan sát và gợi ý để trẻ tìm ra cách giải quyết một cách nhanh chóng và
hiệu quả nhất.
Ví dụ: khi trẻ làm lăn đồ dùng vào gậm tủ mà tay không với tới được, tôi gợi ý
để trẻ biết dùng gậy để lấy đồ dùng đó ra…
+Tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các mối quan hệ với trẻ khác: Nếu trẻ tương
tác với nhau một cách phù hợp, qua đó trẻ sẽ học được các quy tắc ứng xử trong
xã hội. Vì vậy, tôi thường xuyên tổ chức các hoạt động tập thể cho trẻ trong lớp



Kết quả là đa số trẻ lớp tôi đã có ý thức trách nhiệm, có kỹ năng thiết lập và thực
hiện mục tiêu trong tất cả các hoạt động, nhất là trong các hoạt động học có chủ
đích.
3.5. Giúp trẻ phát triển các KNS qua việc tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi,
lành mạnh trong nhà trường.
Nội dung phong trào“ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong
đó có nội dung: Nhà trường cần tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một
cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Tổ
chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù
hợp với lứa tuổi của học sinh.
Căn cứ vào nội dung trên, tôi đã xây dựng kế hoạch và thực hiện nhiều hoạt
động một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của trẻ.
Cụ thể như sau:
* Tham mưu với Ban giám hiệu nhà trường tổ chức cho giáo viên thi làm đồ
chơi dân gian; sáng tác bài hát, điệu múa thể loại dân ca cho trẻ ở lứa tuổi mầm
non.
* Tổ chức các hội thi, các hoạt động văn nghệ, vui chơi giải trí tích cực khác phù
hợp với lứa tuổi của trẻ mầm non. Huy động và tạo điều kiện để có sự tham gia
hoạt động đa dạng và phong phú của cha mẹ trẻ em, các tổ chức, lực lượng xã
hội, cá nhân trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống, giáo dục lòng yêu nước
cho trẻ. ( Ví dụ:tăng cường cho trẻ chơi các trò chơi dân gian trong giờ hoạt
động ngoài trời vào các ngày thứ tư, sáu; riêng chiều thứ hai hàng tuần, trẻ được
xem các kịch bản rối qua các câu chuyện cổ tích, giao lưu hỏi đáp giữa các trẻ
về nội dung các câu chuyện)
Cụ thể tôi đã tổ chức thực hiện các hoạt động nổi bật như sau:
- Tổ chức cho học sinh lớp 5-6 tuổi thi góc chơi “khám phá khoa học” theo chủ
đề bản thân, tôi lên tiết thực hành giúp trẻ trải nghiệm bằng các giác quan,
những trải nghiệm trong đời sống hàng ngày của trẻ .

hiện như sau:


* Tôi đã thực hiện kế hoạch giáo dục, kế hoạch đánh giá trẻ nhằm ghi chép hàng
ngày từng chi tiết về sự tiến bộ của trẻ, các mối quan hệ với cô, với bạn, ghi
chép những kỹ năng trẻ đạt được trong mỗi ngày làm căn cứ, thước đo để đánh
giá cuối mỗi độ tuổi, cuối giai đoạn phát triển của trẻ. Cũng từ biện pháp này, tôi
có dữ liệu, sản phẩm để đánh giá trẻ, đồng thời có cơ sở để thay đổi, bổ sung các
biện pháp giáo dục từng trẻ vì mỗi trẻ rất khác nhau và giúp trẻ sớm hình thành
các kỹ năng sống.
* Nhiều bậc cha mẹ rất e ngại khi tham gia vào quá trình giáo dục trẻ, hơn nữa
phần lớn cha mẹ thừơng lúng túng khi lựa chọn hình thức thực hiện. Tôi đã
trang bị các bảng thông tin dành cho phụ huynh, dán các nội dung cần phối hợp
với phụ huynh vào đó để các bậc cha mẹ có thể đọc, quan sát theo dõi dễ dàng
giúp nhà trường tuyên truyền đến cha mẹ của trẻ những kết quả giáo dục ở con
mình, tạo điều kiện cho giáo viên trao đổi hai chiều với các bậc cha mẹ những
vấn đề có liên quan đến trẻ, các thông tin của lớp, thông tin sức khỏe, ngược lại
các bậc cha mẹ có thể ghi chép những yêu cầu, đề nghị, thông tin cần trao đổi
với giáo viên.
*. Nhằm tạo môi trường giúp giáo viên và các bậc cha mẹ tăng cường đọc sách
cho con trẻ. Tại lớp, tôi đã trang trí, sắp xếp góc thư viện và văn học, để nơi dễ
hoạt động với nhiều tên gọi khác nhau theo chủ đề : “Thư viện trường mầm
non”; “tủ sách gia đình”; “dinh dưỡng trẻ thơ”; “những con vật đáng yêu”; “hoa
trái bốn mùa”; thiết kế phân chia nhiều ngăn để sách, truyện nhiều kích cỡ, vừa
tầm với của trẻ. Vận động cha mẹ thừơng xuyên tặng sách cho góc thư viện của
trẻ tại trường, tại lớp và ngay ở gia đình.
*. Tham mưu với ban giám hiệu trang trí sân trường bằng các khẩu hiệu nhắc
nhở giáo viên, người lớn phải gương mẫu như: “Yêu thương, tôn trọng trẻ, giữ
lời hứa với trẻ”; “Mỗi cô giáo là tấm gương sáng về đạo đức, tự học, sáng tạo”
bằng chính hình ảnh giáo viên và học sinh của trường, đặc biệt chú ý đưa hình

dễ dàng hơn.
Liên tục đọc sách, trò chuyện, kể chuyện cho trẻ nghe : Người lớn nên đọc sách
cho trẻ nghe trong mọi tình huống như những giờ hoạt động góc ở một nhóm
nhỏ, hoặc đọc truyện cho trẻ nghe trong giờ trưa đối với những trẻ khó ngủ.


Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức
cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu
thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các truyện bằng tranh tùy theo
lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ. Ví
dụ: Khi kể chuyện “ Ba cô gái” tôi đặt những câu hỏi gợi mở như: Nếu là con
khi hay tin mẹ bị ốm, con sẽ làm gì? gợi mở tính tò mò thay đổi đoạn kết của
truyện có hậu hơn, đặt tên khác cho câu chuyện v,v….Trong gia đình, cha mẹ
luôn phiên cùng anh chị lớn đọc sách cho trẻ nghe, hoặc thống nhất giờ đọc sách
của gia đình, vào giờ đó các thành viên trong gia đình đều đọc sách, báo hoặc
đọc một thứ gì đó của mình.
Khuyến khích trẻ nói lên sở thích, quan điểm của trẻ: Nói chuyện với các thành
viên trong lớp, trong gia đình về cảm giác và về những lựa chọn của mình, cố
gắng không chỉ trích các quyết định của trẻ. Việc này sẽ hình thành kỹ năng tự
kiểm soát bản thân, rèn luyện tính tự tin cho trẻ khi tham gia các hoạt động xã
hội và các buổi thảo luận sau này.
Ví dụ: Như trẻ thích vẽ, ngoài việc cho trẻ học năng khiếu vẽ thì tôi, cha mẹ có
thể cho trẻ thêm bút màu, giấy vẽ và hãy chỉ cho trẻ cách lưu giữ các bức tranh
để tạo thành một bộ sưu tập tranh vẽ của chính trẻ hoặc triển lãm tranh của trẻ ở
góc nhỏ trong nhà.
Cần dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống: Dạy trẻ biết cách sử dụng
các đồ dùng ăn uống. Việc này được thực hiện trong giờ học, giờ sinh hoạt hàng
ngày của trẻ tại lớp và trong bữa cơm gia đình. Cụ thể: Trẻ được làm quen với
những đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch
sẽ, gọn gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ

sát

Trước khi áp dụng
Trẻ đạt

- Nhóm kỹ năng nhận 18 =
thức bản thân

60 %

Trẻ

chưa

đạt
12 = 40 %

Sau khi áp dụng
Trẻ đạt

Trẻ

chưaSo sánh

đạt

28=

2=


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status