SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO
DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 - 6 TUỔI
TRƯỜNG MẦM NON NGA THÀNH, HUYỆN NGA SƠN,
TỈNH THANH HÓA.
Người thực hiện: Phạm Thị Bảy
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường mầm non Nga Thành
SKKN thuộc lĩnh vực: Chuyên môn
THANH HÓA, NĂM 2019
MỤC LỤC
Tên đề mục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3. Các giải pháp và tổ chức thực hiện
2.3.1: Tích cực tự học, tự tìm tòi, bồi dưỡng để không ngừng nâng
3
4
4
6
8
10
12
13
17
18
19
19
20
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết giáo dục kĩ năng sống cho trẻ đang là nhu cầu cấp
thiết đối với thế hệ trẻ và đối với trẻ mầm non. Bởi đây là giai đoạn đặt nền
móng đầu tiên để trẻ tự tin bước vào cuộc sống và các cấp học phổ thông. Nếu
giáo dục kỹ năng sống tốt cho trẻ thì trẻ sẽ tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tin,
vững vàng trước mọi thử thách. Từ đó, trẻ phát triển toàn diện và bền vững sau
này. Vì vậy, trong mục tiêu giáo dục và đào tạo ghi rõ hình thành cho trẻ những
cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa: Khỏe mạnh,
nhanh nhẹn, phát triển hài hòa, cân đối, tự tin, sáng tạo, biết quan tâm, nhường
nhịn, giúp đỡ mọi người, biết yêu thích và giữ gìn cái đẹp, thông minh, ham hiểu
biết, thích khám phá, và trẻ em là niềm hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai
của dân tộc. Việc bảo vệ và chăm sóc trẻ em là trách nhiệm của xã hội và của
mỗi gia đình: “Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” [1]. Giáo dục trẻ ngay từ lứa
tuổi mầm non, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ sau
gì để hình thành kỹ năng sống tốt nhất cho trẻ là điều mà bản thân tôi luôn băn
khoăn và suy nghĩ. Qua quá trình cho trẻ trải nghiệm tôi thấy trẻ rất hứng thú,
tích cực tham gia mọi hoạt động. Tôi quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài:
“Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu
giáo 5 - 6 tuổi Trường Mầm Non nga Thành, Huyện Nga Sơn, Tỉnh Thanh
Hóa”. Làm đề tài nghiên cứu trong suốt năm học qua.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
Nhằm cải tiến không ngừng nâng cao chất lượng hình thành và củng cố cho
trẻ những kỹ năng cơ bản trong cuộc sống hàng ngày tại trường mầm non, từ đó
giúp trẻ có thêm vốn kinh nghiệm, được trải nghiệm, được tích lũy để làm cơ sở
cho trẻ có khả năng lĩnh hội những giá trị của cuộc sống, của con người giúp trẻ
được phát triển toàn diện về các mặt đức, trí, thể, mỹ....
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo lớn 5 - 6 tuổi, Trường Mầm Non
Nga Thành - Huyện Nga Sơn - Tỉnh Thanh Hóa.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, Tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp quan sát sư phạm.
- Phương pháp dùng lời.
- Phương pháp thực hành trải nghiệm tại nhóm lớp.
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu.
- Phương pháp phối kết hợp giữa gia đình và nhà trường.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận.
Dạy kỹ năng sống cho trẻ là một nội dung giáo dục vô cùng quan trọng và
cần thiết đối với chúng ta, dạy kỹ năng sống cho trẻ là nhằm giúp trẻ có những
kinh nghiệm trong cuộc sống sau này của trẻ, trẻ biết được những điều mình nên
làm và những điều mình không nên làm, trẻ biết được điều hay lẽ phải, biết được
cái thiện, cái ác hướng tới chân, thiện, mỹ. Khi trẻ đã có kỹ năng sống ngay từ
gặp những thuận lợi và khó khăn sau:
a. Thuận lợi:
- Trường mầm non Nga Thành nằm trong vùng có điều kiện kinh tế tương
đối ổn định. Nhân dân phần lớn sinh sống bằng nghề sản xuât nông nghiệp, kinh
doanh, Nên trường được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất.
- Ban giám hiệu cũng như đồng nghiệp luôn cố gắng hoàn thành tốt mọi kế
hoạch của nhà trường trong việc nâng cao sự phát triển nhận thức của trẻ với các
hoạt động của trẻ ở trường nói chung và giáo dục kỹ năng sống cho trẻ ở lớp nói
riêng.
- Trẻ đi học chuyên cần, trẻ khỏe mạnh nhanh nhẹn, tích cực tham gia vào
các hoạt động của lớp.
- Bản thân là một giáo viên trẻ, tôi nắm vững chuyên môn, có nhiều năm
kinh nghiệm giảng dạy, luôn nhiệt tình, yêu nghề mến trẻ, tâm huyết với nghề
ham học hỏi nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
- Đa số phụ huynh rất quan tâm đến việc học tập của các cháu, trong đó sự
phối kết hợp chặt chẽ giữa giáo viên và phụ huynh trong việc giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ luôn được phụ huynh ủng hộ và thống nhất cao.
b. Khó khăn:
Bên cạnh nhưng thuận lợi nêu trên trong quá trình giáo dục trẻ tôi còn gặp
không ít những khó khăn sau:
- Trang thiết bị hiện đại chưa được đầu tư đầy đủ và đồng bộ.
- Số lượng trẻ nam trong lớp tương đối đông chiếm 2/3 tổng số trẻ cả lớp nên
việc rèn các kỹ năng sống cho trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn.
- Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi
điện tử...
- Trẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm,
không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh.
- Trẻ chưa biết tự bảo vệ mình trước những tình huống nguy hiểm và nơi
nguy hiểm.
3
kỹ năng sống cho trẻ đạt hiệu quả.
Để thực hiện rèn kỹ năng sống cho trẻ đạt kết quả tốt. Trước hết giáo viên
mầm non không chỉ nghiên cứu nắm vững mục đích yêu cầu của từng hoạt động,
từng nhóm kỹ năng sống mà giáo viên còn cần phải nắm chắc được các phương
pháp và biện pháp thực hiện giúp trẻ lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng,
không bị gò bó, áp đặt, giúp trẻ hiểu bài sâu và vận dụng những điều đã học vào
thực tế hàng ngày của trẻ. Vì vậy, để giúp trẻ 5 - 6 tuổi lớp tôi có được những kỹ
năng sống cơ bản đó thì sự nhiệt tình, sáng tạo và yêu nghề đòi hỏi tôi phải
không ngừng đọc và nghiên cứu kỹ chương trình chăm sóc và giáo dục trẻ mầm
non 5 - 6 tuổi.
- Tham gia các đợt kiến tập và các chương trình chuyên đề do phòng tổ chức.
- Tìm đọc tham khảo biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ trên sách báo, tạp chí
mầm non, Sách phương pháp giáo dục giá trị kỹ năng sống, Sách hướng dẫn các
hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non theo bộ chuẩn phát
4
triển trẻ 5 tuổi, Sách bé thực hành các tình huống giáo dục kỹ năng sống dành
cho trẻ mẫu giáo.
- Xem các chương trình truyền hình như: Bố ơi mình đi đâu thế, Quà tặng cuộc
sống, Cuộc sống quanh ta trên các kênh truyền hình như VTV3 hàng tuần.
Qua kiểm tra, đánh giá đầu năm có rất nhiều trẻ còn chưa biết chào cô,
chào khách, chưa có kỹ năng giao tiếp, chưa có kỹ năng tự phục vụ…Hoạt động
dạy kỹ năng sống cho trẻ ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng chưa thực
hiện tốt, chưa lồng ghép tích hợp vào các hoạt động, giáo viên hầu như không
mấy để ý và đi sâu vào hoạt động này. Tôi nhận thấy đây là một vấn đề quan
trọng vì nó quyết định đến nhân cách của trẻ sau này. Chính vì vậy qua việc tự
bồi dưỡng bản thân, học hỏi qua truyền thông, báo đài, tài liệu cũng như xem
các phương tiện thông tin hiện đại, tôi đã nắm vững được các phương pháp để
dạy trẻ một số kỹ năng cơ bản nhất. Nhận thấy đây là việc quan trọng và cần
được một tràng pháo tay”. Điều này sẽ giúp cho trẻ tự tin hơn, dám tự tìm tòi và
suy nghĩ, giám đưa ra ý kiến của mình.
Quả thật việc thay đổi nếp cũ là rất khó, nhưng trong những buổi sinh hoạt
tôi thường đưa những giá trị của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ như: Tin
tưởng vào trẻ và năng lực của trẻ, Kiên nhẫn và có kỹ năng lắng nghe tốt, Ý thức
về bản thân và sẵn sàng học những kỹ năng mới, Có kinh nghiệm sống và biết
soi xét, Tôn trọng ý kiến của trẻ, không áp đặt ý kiến của mình lên trẻ, Thực
hành tư duy sáng tạo và khai phá, Biết sắp xếp phòng, nhóm lớp tạo bầu không
khí hấp dẫn, Biết chủ động phương pháp giáo dục, Tác động kịp thời khi nhóm
bế tắc, Biết tạo bầu không khí trò chuyện sôi nổi.
( Hình ảnh 1: Kèm theo phụ lục II, Buổi sinh hoạt tổ chuyên môn, chia sẻ
những biện pháp dạy kỹ năng sống cho trẻ 5 tuổi).
*Kết quả: Thông qua biện pháp này tôi thấy bản thân tôi và các đồng nghiệp
hiểu hơn và nắm vững hơn phương pháp cũng như cách truyền đạt kỹ năng sống
tới trẻ.
2.3.2. Lựa chọn các nội dung giáo dục kỹ năng sống phù hợp để dạy trẻ
trong các chủ đề.
Dựa vào phân phối chương trình năm học và các giai đoạn phát triển của
trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi tôi, đã lập kế hoạch thực hiện giáo dục các nội dung kỹ
năng sống cho trẻ theo chủ đề (từ 9/2018 đến tháng 5/2019). Sau khi xây dựng
kế hoạch, trong buổi sinh hoạt chuyên môn định kỳ, tôi cùng các đồng nghiệp
trong khối mẫu giáo bàn bạc, chỉnh sửa và đi đến thống nhất. Bản kế hoạch giáo
dục trẻ các nội dung kỹ năng sống theo chủ đề đã được Ban giám hiệu nhà
trường đánh giá cao và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi và trẻ cùng thực hiện
cho phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao.
Đối với tâm sinh lý trẻ 5 - 6 tuổi rất tò mò, thích khám phá, ham học hỏi.
Vì vậy cần xác định các nội dung giáo dục kỹ năng sống quan trọng mà trẻ cần
phải biết trước khi tập trung vào hoạt động học ở các bậc học tiếp theo. Thực tế
nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước
khi ăn, cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, thìa, cốc… hoặc biết
giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất, không làm ảnh hưởng đến
người xung quanh, không nói chuyện riêng, khi ho phải lấy tay che miệng tránh
làm bẳn thức ăn vào người khác. Cứ như vậy tôi giáo dục trẻ khả năng tự tin khi
thực hiện các kỹ năng và hành vi văn hóa trong ăn uống.
* Kỹ năng sống hợp tác: Ngoài việc rèn luyện cho trẻ có kỹ năng sống tự
tin. Tôi còn tích cực tổ chức trò chơi, dạy trẻ các câu chuyện, bài hát, qua đó rèn
luyện kỹ năng sống hợp tác như: Giúp trẻ học cách cùng làm việc với bạn, đây
là một công việc không nhỏ đối với trẻ lứa tuổi này. Khả năng hợp tác sẽ giúp
trẻ biết cảm thông và cùng làm việc với các bạn.
Ví dụ: Ở chủ đề: “Thế giới thực vật”. Tôi cho trẻ chơi trò chơi Trồng cây.
Mỗi trẻ sẽ được phân công theo nhóm để nhận nhiệm vụ: gieo hạt, trồng rau,
nhổ cỏ, tưới nước, chăm sóc cây …Trẻ sẽ học làm việc cùng nhau để tạo ra sản
phẩm.
(Hình ảnh 2: Kèm theo phụ lục II, Trẻ cùng hợp tác với bạn bè để trồng
và chăm sóc cây).
* Ở chủ đề: “Nghề nghiệp” Ở chủ đề này tôi thường lồng ghép các bài
thơ câu đố để trẻ hiểu ý nghĩa của các nghề từ đó trẻ biết tuân thủ sự phân công,
phối hợp với bạn bè để hoàn thành công việc chung, khả năng sáng tạo, diễn tả ý
tưởng, kỹ năng sống hợp tác và cùng sử lý tình huống.
*Chủ đề: “Phương tiện giao thông”, Dạy trẻ kỹ năng tuân thủ một số quy
định giao thông khi đi trên đường, những hành vi văn hóa nơi công cộng như: Đi
nhẹ, nói khẽ, xếp hàng chờ đến lượt, không chen lấn xô đẩy nhau…
(Hình ảnh 3: Kèm theo phụ lục II, Trẻ đang hoạt ở khu vực chơi giao thông).
* Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một
trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát
khao được học. Tôi đã sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để gợi tính tò
mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các
hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường gợi suy nghĩ nhiều hơn là
năm học. Tôi đã xây dựng được kế hoạch và chủ động hơn trong việc thực hiện
nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Từ đó giáo dục kỹ năng sống cho trẻ
được giáo dục thường xuyên hơn, đạt hiệu quả cao hơn.
2.3.3: Quan tâm chú trọng phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
Có thể nói rằng, Kỹ năng giao tiếp là một trong những kỹ năng rất quan
trọng đối với sự phát triển của ngôn ngữ của trẻ, không chỉ quan trọng và cần
thiết đối với trẻ trong trường mầm non, mà ngay ở trong gia đình và toàn xã hội
đều rất quan trọng đối với cuộc sống sau này của trẻ, trẻ có kỹ năng giao tiếp tốt
tạo được sự tự tin trong trong mỗi người nói chung và đối với trẻ nói riêng,
thông qua giao tiếp trẻ có thể diễn đạt hết được nhu cầu và mong muốn của trẻ
đến với mọi người, đấy chính là yếu tố thuận lợi để giáo dục kỹ năng sống cho
trẻ. Vì thế ngoài những kỹ năng sẵn có ở trẻ thì tôi luôn quan tâm áp dụng nhiều
biện pháp khác nhau để phát triển kỹ năng giao tiếp cho trẻ.
* Giáo dục kỹ năng giao tiếp với bạn bè:
Giáo dục kỹ năng giao tiếp với bạn bè là yếu tố cần thiết đối với trẻ thơ,
đây chính là một thế giới thu nhỏ của xã hội chúng ta ngày nay, là nơi đa văn
hóa, đa tính cách và cũng đa sở thích. Môi trường này tạo cơ hội cho trẻ được
8
học tập, được giao lưu học hỏi và có cơ hội để khám phá những sở thích, những
mối quan hệ của trẻ với trẻ trong lớp, trong tường. Cụ thể, khi tôi tổ chức cho trẻ
học tập, vui chơi tôi đã tạo được nhiều cơ hội để trẻ được giao lưu với bạn bè,
theo nhóm, theo tổ....
Ví dụ 1: Trong hoạt động góc tôi tổ chức cho trẻ chơi những trò chơi bán
hàng, trẻ này là người mua hàng, và những trẻ khác là người bán hàng, hay đóng
vai bác sĩ và bệnh nhân khám bệnh........
Thông qua những vai chơi trong trò chơi đóng vai tạo cơ hội cho trẻ được
giao tiếp với nhau trẻ thể hiện ngôn ngữ của mình một cách đầy đủ, trẻ biết chào
hỏi, biết cảm ơn, xin lỗi, thể hiện được cảm xúc vui buồn... Và với những trẻ còn
(Hình ảnh 4: Kèm theo phụ lục II, Đóng kịch: Chuyện“ Chú dê đen”)
(Hình ảnh 5: Kèm theo phụ lục II, Đóng kịch: Chuyện“ Ba cô gái”).
9
Tính cách mỗi trẻ mỗi khác, có những trẻ hoạt động rất hiếu động nhưng
cũng có những trẻ hoạt động chậm chạp, thụ động hoặc quá nóng nảy....Vì thế,
tôi luôn nắm rõ đặc điểm tâm lý của trẻ để có thể rèn kỹ năng giao tiếp cho trẻ
theo nhiều phương pháp khác nhau để tránh sảy ra những va chạm về tính cách
của mỗi trẻ.
Ví dụ 3: “Giao tiếp bằng nét mặt, bằng việc làm như giúp bạn nhặt đồ
chơi....hoặc nở một nụ cười thật tự nhiên”. Đây cũng chính là việc rèn kỹ năng
giao tiếp của trẻ linh hoạt hơn, năng động hơn, tự tin hơn trong bất cứ hoàn cảnh
nào trẻ cũng có thể nhận được sự thân thiện và gần gũi với bạn bè.
Dạy trẻ phải luôn luôn giữ lời hứa khiến cho buổi nói chuyện trở nên thật
thoải mái thật chân thành khi tham gia những hoạt động vui chơi ở lớp.
(Hình ảnh 6: Kèm theo phụ lục II, Các bé giao tiếp với nhau trong khi chơi).
*Giáo dục kỹ năng giao tiếp với cô giáo và mọi người xung quanh.
Trẻ không chỉ phát triển giao tiếp thông qua những người thân trong gia
đình mà chúng ta còn dạy trẻ giao tiếp tốt với mọi người xung quanh là yếu tố
để phát huy khả năng giao tiếp cho trẻ.
Ví dụ 1: Thường xuyên cho trẻ giao tiếp với các cô, các bác, bạn bè xung
quanh, biết chào hỏi lễ phép “Cháu chào ông ạ, cháu chào bác ạ” hay “Cháu cảm
ơn cô, cháu cảm ơn chú”. Khi người lớn cho quà hay làm giúp trẻ một việc nào
đó, khi bạn bị ốm bố mẹ cần dạy trẻ biết quan tâm chia sẻ với bạn bè qua những
lời nói âu yếm tình cảm như: Bạn có đau không? Bạn có mệt không?....
Vì vậy đối với trẻ người lớn cần tập cho trẻ những lời nói lễ phép và tự
nhiên, không quá màu mè và hình thức, cũng không được phép cộc lốc và xuồng
xã. Điều này trẻ sẽ học được một cách hiệu quả thông qua cách giao tiếp và ứng
sử của bố, mẹ, người thân trong gia đình, cô giáo và người khác.
với trẻ.
Trước hết tôi luôn quan tâm hình thành và rèn kỹ năng tự lập cho trẻ.
Chẳng hạn như khi thời tiết thay đổi trẻ có thể tự lựa chọn các trang phục mũ,
nón phù hợp với thời tiết. Cô giáo là người trực tiếp hàng ngày cho trẻ trải
nghiệm với sự thay đổi của thời tiết.
Ví dụ 1: Tôi tổ chức cho trẻ tham gia nhặt lá cây, nhổ cỏ trong vườn, tưới
nước cho cây, chơi các trò chơi với cát, nước, để cho trẻ được tiếp xúc với
những điều kiện tự nhiên. Đây là một hoạt động thường xuyên mà tôi và trẻ
thường hay làm ở trường, thông qua những hoạt động này trẻ tỏ ra rất thích thú,
qua đây tôi cũng giáo dục cho trẻ biết bảo vệ môi trường của mình, trẻ được
thỏa mãn nhu cầu vui chơi và phát triển tò mò, óc sáng tạo ở trẻ. Trẻ có thể chơi
với cát, đất trong một chừng mực vừa phải vì điều đó giúp cho các bé vừa thỏa
mãn được tính năng động, vừa nâng cao khả năng đề kháng. Tuy nhiên, sự giám
sát của người lớn rất quan trọng và người lớn chỉ can thiệp khi có những dấu
hiệu của sự nguy hiểm không an toàn. Điều đó không chỉ giúp trẻ mạnh dạn và
tự tin hơn mà còn giúp trẻ sẽ hạn chế được tính ỷ lại sảy ra không đáng có ở trẻ.
(Hình ảnh 8: Kèm theo phụ lục II, Cô và trẻ đang nhổ cỏ cho vườn rau).
Ngoài việc rèn cho trẻ thích nghi tốt với môi trường tự nhiên thì việc rèn kỹ
năng thích nghi với môi trường xã hội là quan trọng và cần thiết.
Ví dụ 2: Cô tổ chức cho trẻ đi thăm quan Tượng đài liệt sĩ, Trạm y tế,
Trường Tiểu Học, .... Tôi nhắc nhở khi trẻ đi thăm quan ở những nơi công cộng
phải biết chào hỏi người lớn lễ phép, biết bỏ rác đúng nơi quy định và có hành vi
văn minh, lịch sự nơi công cộng.
(Hình ảnh 9: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh Cô và trẻ thăm quan đài
tưởng niệm, trường tiểu học).
Bằng những việc làm này chúng ta có thể giúp trẻ quen dần với nơi công
cộng, những nơi có đông người qua việc cho trẻ tham gia các giờ học dạo chơi
tham quan, tham gia các hoạt động ở trường. Ngoài ra, trong việc hòa nhập với
xã hội, chúng ta cũng cần tập cho trẻ những thói quen ứng xử với một phong
cách văn minh, lịch sự qua những hoạt động hàng ngày ở trường. Đây là một
Có thể nói là việc dạy cho trẻ trong ăn uống cũng là một cách bảo vệ bản
thân trẻ tốt nhất.
Ví dụ 2: Đôi khi trẻ có những sở thích đặc biệt về ăn uống, chỉ thích ăn vài
loại thực phẩm nhất định, uống vài loại sữa hay thức uống nhất định. Tôi đã
thường xuyên chú trọng giáo dục trẻ biết ăn nhiều loại thực phẩm, món ăn khác
nhau đảm bảo đầy đủ các chất dinh dưỡng thì cơ thể mới khỏe mạnh.
Ngoài việc dạy trẻ biết tự phục vụ chăm sóc bản thân thì tôi còn dạy trẻ
biết lao động tự phục vụ như trong các hoạt động học, hoạt động vui chơi, hoạt
động dạo chơi ngoài trời.
Ví dụ 3: Trong các hoạt động học trẻ tự biết lấy và cất đồ dùng theo yêu
cầu và đúng nơi quy định.
Ví dụ 4: Với chủ đề bản thân giáo dục trẻ có một số kỹ năng tự phục vụ, kỹ
năng tự bảo vệ bản thân.
(Hình ảnh 11: Kèm theo phụ lục II, Trẻ đang cùng cô cất đồ dùng).
Dạy trẻ cách bảo vệ bản thân để tránh xảy ra tai nạn thương tích trong ăn
uống như sặc cơm, sặc cháo, các dị vật trong ăn uống.... Trong sinh hoạt đảm
bảo an toàn trong trường học, trong gia đình và mọi lúc mọi nơi, đây cũng là tạo
cho trẻ có ý thức tự giác và khả năng tự bảo vệ bản thân.
12
Dạy trẻ các kỹ năng biết tự bảo vệ bản thân trước những tình huống nguy
hiểm như: Không chơi đồ vật nguy hiểm, không làm một số việc gây nguy hiểm,
không làm một số việc gây nguy hiểm, không chơi ở những nơi mất vệ sinh,
nguy hiểm, không đi theo, không nhận quà của người lạ khi chưa được người
thân cho phép, biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy hiểm.
Ví dụ 5: Các mối nguy hiểm giáo viên cần giáo dục trẻ biết cách bảo đảm an
toàn cho bản thân như: Nhận biết được một số nguyên nhân gây nguy hiểm.
không chơi gần khu vực gây nguy hiểm như ao, hồ, sông, suối, tránh xa các ổ
điện, gas, bàn là, điện, nước nóng, dao, kéo....
kèm theo lời khen ngợi: “Con ngoan quá, cả lớp mình cùng khen bạn nào!”.
Như vậy sẽ tạo động lực cho trẻ ngày càng ngoan ngoãn hơn. Trẻ hoạt động
tích cực, vui chơi đoàn kết, biết nhường nhịn và giúp đỡ bạn bè khi tham gia
hoạt động theo nhóm. Trong các hình thức tổ chức dạy học thì hình thức dạy trẻ
13
hoạt động theo nhóm hiện nay đang được rất nhiều giáo viên lựa chọn và sử
dụng, đặc biệt đối với trẻ 5-6 tuổi thì khả năng hoạt động theo nhóm của trẻ là
rất lớn. Trẻ thường yêu thích trò chơi do mình tự lựa chọn và tự đề ra cách chơi,
tự phân nhóm. Vì vậy để việc giáo dục mang tính hiệu quả cao, tôi đã tiến hành
dạy trẻ các kỹ năng thông qua trò chơi tự do, trò chơi phân vai, diễn kịch.... Với
niềm say mê tự khám phá trẻ đã tiếp thu kiến thức thực tế để vận dụng trong
cuộc sống, mỗi trẻ sé giới thiệu nhiều kết quả bất ngờ. Giáo viên đưa ra những
bài tâp, những thử thách, trò chơi mang tính tập thể đòi hỏi trẻ phải tìm nhóm, tự
hợp tác bàn luận trong nhóm để hoàn thành yêu cầu của cô. Đây chính là ý thức
tập thể, tính đoàn kết khi trẻ tham gia hoạt động theo nhóm.
Ví dụ 2: Cho trẻ tham gia các trò chơi dân gian, mèo đuổi chuột, bịt mắt
bắt dê, câu chuyện cáo và thỏ, hay trong giờ chơi tự do tôi đã đặt câu hỏi yêu
cầu tổ, nhóm trả lời, tự khắc trẻ sẽ tự tập hợp nhóm của mình để bàn bạc thống
nhất để đưa ra kết quả....
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua hoạt động học có chủ định
Hoạt động có chủ định là hoạt động giúp trẻ lĩnh hội được nhiều kiến
thức, kỹ năng sống. Những kiến thức mà trẻ lĩnh hội được đều có hệ thống, từ
đơn giản đến phức tạp và mang tính logic cao. Giúp trẻ học các kỹ năng sống
nhanh và chính xác nhất. Vì vậy, tôi đã tiến hành lựa chọn các nội dung phù hợp
để giáo dục trẻ thông qua các hoạt động có chủ định.
Ví dụ 1: Đối với hoạt động LQVVH. Tôi kể cho trẻ nghe câu chuyện:
“Cô bé quàng khăn đỏ”. Ngoài việc cung cấp kiến thức cho trẻ để trẻ hiểu nội
dung, cử chỉ, hành động của từng nhân vật trong câu chuyện. Tôi còn nhẹ nhàng
động vui chơi. Chính vì vậy, tôi rất chú trọng đến việc tạo các tình huống khi trẻ
đóng vai để trẻ tìm cách giải quyết, cũng như quan sát những điều trẻ thể hiện
được những kiến thức mà trẻ đã có. Qua đó giúp trẻ phát triển các kỹ năng ý
thức về bản thân, quan hệ xã hội, giao tiếp, thực hiện công việc, ứng phó với
những thay đổi và có nhiều cơ hội được trải nghiệm.
Ví dụ 1: Ở góc chơi phân vai khi trẻ chơi trò chơi “Gia đình”, tôi đóng giả
một người lạ đến gõ cửa khi trẻ ở nhà một mình, thì trẻ biết nhắc nhau “Đừng
mở cửa, phải đợi bố mẹ về đã”.
Tôi cho trẻ ở nhóm chơi gia đình cùng đi chợ và đưa ra tình huống: “Con bị
lạc bố mẹ ở chợ” thì trẻ biết ra nhờ cô bán hàng gọi điện thoại cho bố mẹ, cháu
đóng vai người bán hàng cũng nhắc trẻ: Cháu chờ ở đây với cô đợi bố mẹ đón.
Tôi đóng một vai làm người đi đường và rủ bé: Đi cùng cô để cô dắt về với mẹ.
Các trẻ trong nhóm đã nhắc nhau: “Đừng đi, nếu không sẽ bị bắt cóc đấy”.
Với trò chơi “mặc áo cho búp bê” ở nhóm chơi “Gia đình” khi hướng dẫn
cho trẻ tôi giới thiệu lần lượt đặc điểm của quần, áo: mặt trái, mặt phải, mặt
trước, mặt sau. Hay khi mặc áo cũng lần lượt xỏ từng tay một và kéo hai vạt áo
so bằng rồi mới cài cúc. Sau khi được tôi hướng dẫn trẻ sẽ lĩnh hội được kiến
thức và tự thực hành.
Thông qua trò chơi “Đi ô tô” tôi cũng chú ý xem cách thể hiện của trẻ để có
những gợi mở kịp thời như: Các bác đừng thò đầu, thò tay ra ngoài khi xe đang
chạy nhé.
Với nhóm chơi “Nấu ăn”, tôi cũng lưu ý đến những thao tác mà trẻ mà trẻ
thể hiện vai của mình:
Ví dụ 2: Khi nấu bắc nồi lên bếp ga phải đặt giữa bếp nếu không nồi sẽ dễ
đổ và xảy ra tai nạn, nấu xong phải nhớ tắt bếp, bắc nồi phải dùng cái lót tay để
không bị bỏng.
(Hình ảnh 13: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh trẻ chơi trò chơi nấu ăn)
Ví dụ 3: Sau khi trẻ chơi xong, trẻ để đồ chơi bừa bãi, tôi hỏi trẻ “Con đã
cất đồ chơi chưa?”, “Con nhìn xem các bạn đang làm gì?”, “Con cùng cất đồ
chơi với các bạn nhé”. Dần dần tạo cho trẻ có kỹ năng sắp xếp đồ chơi gọn
Mỗi hoạt động có ưu thế riêng đối với việc dạy những kỹ năng sống cần
thiết với cuộc sống, có được kỹ năng sống trẻ cần phải có thời gian sống trong
một quá trình thường xuyên với sự hỗ trợ của cô giáo, người lớn và bạn bè. Mỗi
hoạt động có xen lồng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ với những nội dung đơn
giản, gần gũi, thiết thực với cuộc sống của trẻ để cho trẻ tiếp thu một cách nhẹ
nhàng, thoải mái mà giúp trẻ nhớ lâu và dễ dàng thực hiện.
*. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ thông qua ngày hội ngày lễ:
Tổ chức cho trẻ tham gia các ngày lễ hội lớn ở trường mầm non như:
“Ngày khai giảng”,“Ngày tết trung thu”, “Ngày tổng kết năm học” Hội thi của
bé. Qua đó giáo dục trẻ biết được ý nghĩa của các ngày lễ hội trong năm. Đồng
thời qua đó giáo dục trẻ các kỹ năng: Tự tin, kỹ năng múa, hát, đọc thơ, kể
chuyện, kỹ giao tiếp…
Ví dụ: Thông qua ngày khai giảng giáo dục trẻ biết được đó là ngày đầu
tiên của một năm học mới. Trẻ được múa hát, tham gia các hoạt động tập thể vui
tươi, bổ ích… Qua đó trẻ biết đoàn kết, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau
trong khi chơi.
(Hình ảnh 16: Kèm theo phụ lục II, Trẻ lớp tôi tham gia các ngày lễ hội
do trường tổ chức)
* Kết quả: Nhờ vậy, trẻ đạt 100% trẻ hứng thú khi tham gia vào các hoạt
động và ngày hội ngày lễ, trẻ tự tin hơn, đoàn kết hơn, khéo léo hơn… Chủ
động, tích cực, trách nhiệm khi tham gia công việc và hoàn thành công việc
được giao.
16
2.3.7: Tích cực phối kết hợp với phụ huynh, tạo các tình huống bất ngờ
để trẻ được thực hành trải nghiệm thường xuyên.
Có thể nói, công tác phối kết hợp giữa gia đình, giáo viên, nhà trường và
xã hội là một trong những biện pháp quan trọng và là trách nhiệm của mọi người
trong sự hình thành kỹ năng sống cho trẻ. Gia đình chính là cái nôi, là tổ ấm, là
nghịch..... Thì tôi luôn tranh thủ đến tận gia đình để trực tiếp gặp bố mẹ, người
thân của trẻ để trao đổi về đặc điểm tâm lý của trẻ và cùng với gia đình có biện
pháp chăm sóc và giáo dục trẻ tốt hơn. Ngược lại, Những cử chỉ và việc làm tốt
của trẻ ở trường và ở gia đình tôi thường nêu ra và tuyên dương trẻ trước lớp để
trẻ khác cùng học tập. Đồng thời phối hợp để phản ánh kết quả qua lại giữa gia
đình, nhà trường đều biết để cùng giải quyết.
Ví dụ 3: Một số kỹ năng phối hợp cùng cô giáo dạy trẻ kỹ năng cất dép, kỹ
năng gấp quần áo, kỹ năng quét nhà, kỹ năng bỏ rác đúng nơi quy định... Vậy
17
muốn trẻ làm tốt được những kỹ năng này tôi phối hợp với phụ huynh hướng
dẫn và quan sát trẻ khi con ở nhà. Cha mẹ cần có niềm tin với sự hướng dẫn của
giáo viên và năng khiếu bẩm sinh của trẻ bên cạnh đó cha mẹ cần dạy trẻ từ từ
để trẻ hiểu và cha mẹ chính là tấm gương sáng để trẻ noi theo.
(Hình ảnh 19: Kèm theo phụ lục II, Hình ảnh Bé làm việc nhà giúp bố mẹ)
* Kết quả đạt được: Khi áp dụng giải pháp này, kết quả đạt: 100% rất đáng
khích lệ. Trẻ được giáo dục ở mọi lúc, mọi nơi, ở nhà cũng như ở trường nên trẻ
có rất nhiều tiến bộ. Mối quan hệ giữa phụ huynh và giáo viên cũng trở nên gắn
bó hơn. Phụ huynh rất tin tưởng và yên tâm khi gửi con tới trường.
2.4. Hiệu quả của các giải pháp:
* Đối với hoạt động giáo dục:
Từ những giải pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi đã có được những
kinh nghiệm trong việc vận dụng các kỹ năng trong hoạt động giáo dục, trong
môi trường sinh hoạt của trẻ ở gia đình, nhà trường, trong đó, môi trường giáo
dục tại nhóm lớp mà tôi đã tâm huyết trong quá trình chăm sóc giáo dục trẻ ngay
từ đầu năm đã giúp cho tôi có một hành trang tạo dựng, rèn luyện cho trẻ có kỹ
năng sống tốt đẹp, hành vi đúng đắn, khả năng giao tiếp tốt và tự lập, tự phục
vụ, tự giải quyết những vấn đề khi đến với trẻ, không còn phụ thuộc vào cô vì thế
giờ học không đơn điệu như trước nữa mà trở nên sôi động hơn. Trẻ yêu trường lớp,
kinh nghiệm được đưa ra để làm mẫu cho đồng nghiệp tham khảo.
- Nhà trường liên tục được Phòng giáo dục đánh giá cao về công tác chăm
sóc giáo dục theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm.
Kết quả sau khi áp dụng một số giải pháp tôi đã tiến hành khảo sát đánh
giá cuối năm cụ thể như sau:
Bảng 2: Kết quả khảo sát cuối năm học: 2018 - 2019. (Tháng 4 năm 2019)
(Xem phụ lục I)
Nhìn vào bảng đánh giá kết quả trên chúng ta nhận thấy rằng: Các nội
dung đặt ra có sự chuyển biến rõ rệt. Điều này chứng tỏ rằng: Giáo dục kỹ năng
sống đã thấm dần vào các cháu, các cháu ý thức với bản thân, với mọi người và
với môi trường xung quanh hơn, có ý thức xây dựng trường lớp tốt hơn, phụ
huynh rất phấn khởi và tin tưởng, điều đó đã chứng minh giáo dục kỹ năng sống
ngay từ lứa tuổi Mầm non là nền tảng vững chắc để phát triển toàn diện cho trẻ.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Kỹ năng sống là một yếu tố quan trọng điều khiển ý thức và hành vi của
con người. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non sẽ mang lại cho các cháu trí
tuệ, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp, sớm đem lại cho trẻ ý thức và khả năng
thích nghi với cuộc sống, làm chủ bản thân, sống tích cực và hướng đến những
điều lành mạnh cho chính mình cũng như cho xã hội.
Trẻ em được giáo dục kỹ năng sống tốt thì khả năng thích nghi và thành
công trong cuộc sống sẽ dễ dàng hơn. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là một việc
làm hết sức quan trọng và cần thiết. Điều đó giúp cho trẻ tự tin, chủ động xử lý
linh hoạt các tình huống trong cuộc sống.
Thực tế, kỹ năng sống của trẻ lứa tuổi mầm non chỉ đơn giản là giao tiếp tốt,
biết vui chơi với bạn, biết xin lỗi hoặc cảm ơn đúng lúc, dễ thích nghi với môi
trường khác nhau….Một đứa trẻ chờ đến lượt chơi sẽ là người biết kiên nhẫn, một
đứa trẻ được tập thích nghi với đám đông sẽ trở thành người biết tự chủ và tự tin
sau này. Đó chính là những lợi ích về lâu dài để các bậc phụ huynh ngày nay quan
tâm nhiều hơn đến việc trang bị kỹ năng sống cho con ngay từ tuổi mầm non.
Qua một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài tôi thấy nội dung giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ ở bậc Mầm non là rất quan trọng và cần thiết. Vì vậy, đề
nghị các cấp lãnh đạo tiếp tục triển khai và thực hiện rộng rãi nội giáo dục kỹ
năng sống cho trẻ ở các trường Mầm non.
* Đối với phòng giáo dục và đào tạo.
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và lồng ghép giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ của các trường mầm non đặc biệt là giáo viên.
- Mở lớp tập huấn chuyên môn, Các hội thảo về nội dung giáo dục kỹ năng
sống cho giáo viên đến từng cơ sở.
Trên đây là: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi, Trường Mầm Non Nga Thành, Huyện Nga
Sơn, Tỉnh Thanh Hóa” của tôi. Do kinh nghiệm và khả năng còn có những hạn
chế nhất định, Bản thân tôi luôn mong được tiếp thu ý kiến đóng góp bổ sung
của hội đồng nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm các cấp, để sáng kiến được hoàn
thiện và áp dụng vào thực tế đạt hiệu quả cao hơn./.
Xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ
TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Nguyễn Thị Quyên
Nga Thành, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Phạm Thị Bảy
20
2
3
4
5
Tên đề tài SKKN
Cấp đánh giá
Kết quả
xếp
đánh giá
loại (Phòng, Sở, xếp loại
Tỉnh…)
(A, B, C)
Hướng dẫn dạy vẽ cho trẻ
- Phòng GD&ĐT
mẫu giáo 3- 4 tuổi.Trường
huyện Nga Sơn
Mầm Non Nga Thành.
Một số biện pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ ở lứa tuổi - Phòng GD&ĐT
18- 24 tháng tuổi. Trường huyện Nga Sơn.
Mầm Non Nga Thành.
Biện pháp giáo dục ý thức
- Phòng GD&ĐT
bảo vệ môi trường cho trẻ
2013 - 2014
C
2014- 2015
A
2015-2016
22
23