Trêng ®¹i häc hoa l
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
----------
NGUYỄN THỊ OANH
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ
MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
LẠNG PHONG – NHO QUAN – NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Hệ đào tạo: Chính quy
Khóa học: 2013- 2017
NINH BÌNH. 2017
Trêng ®¹i häc hoa l
KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON
----------
NGUYỄN THỊ OANH
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ
MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
LẠNG PHONG – NHO QUAN – NINH BÌNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: GIÁO DỤC MẦM NON
Nguyễn Thị Oanh
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD
: Giáo dục
GDKNS
: Giáo dục kỹ năng sống
GV
: Giáo viên
GVMN
: Giáo viên mầm non
HĐVC
: Hoạt động vui chơi
KN
: Kỹ năng
KNS
XL
: Xếp loại
SL
: Số lượng
CÁC KÍ TỰ TRONG ĐỀ TÀI
∑
: Điểm tổng
X
: Điểm trung bình
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU..................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.......................................................................................2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu...............................................................2
4. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................3
5. Nhiệm vụ nghiên cứu......................................................................................3
6. Phương pháp nghiên cứu................................................................................3
PHẦN NỘI DUNG..............................................................................................5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN.................................................................................5
CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI....5
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề........................................................................5
Chương 2............................................................................................................36
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG............................................36
CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON.....................36
LẠNG PHONG – NHO QUAN – NINH BÌNH..............................................36
2.1. Vài nét về địa bàn, khách thể nghiên cứu.............................................36
2.2. Tổ chức nghiên cứu.................................................................................37
2.2.1. Mục đích nghiên cứu........................................................................37
2.2.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu...................................37
2.3. Nội dung nghiên cứu...............................................................................37
2.4. Cách tiến hành nghiên cứu.....................................................................37
2.5. Tiêu chí và thang đánh giá.....................................................................38
2.5.1. Tiêu chí đánh giá...............................................................................38
2.5.2. Thang đánh giá..................................................................................39
2.5.3. Cách đánh giá....................................................................................41
2.6. Kết quả điều tra......................................................................................42
2.6.1. Nhận thức của giáo viên về mức độ cần thiết của việc giáo dục kỹ
năng sống đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ mẫu
giáo 3 - 4 tuổi...............................................................................................42
2.6.2. Thực trạng tổ chức các hoạt động nhằm giáo dục kỹ năng tự phục
vụ (Rửa tay, rửa mặt) cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi......................................43
2.6.3. Thực trạng về mức độ biểu hiện kỹ năng tự phục vụ (Rửa tay, rửa măt)
của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi..............................................................................61
2.6.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục kỹ năng tự phục vụ (Rửa tay,
rửa mặt) cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Lạng Phong –
Nho Quan.....................................................................................................75
2.7. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng
sống cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi....................................................................77
2.7.1. Cơ sở định hướng của việc đề xuất các biện pháp GDKNS cho trẻ
Bảng 2.8. So sánh mức độ biểu hiện KNTPV (Rửa tay, rửa mặt) của trẻ MG 3 –
4 tuổi qua việc thực hiện từng bài tập.................................................................73
Biểu đồ 2.4. So sánh mức độ biểu hiện KNTPV (Rửa tay, rửa mặt) của trẻ MG
3 – 4 tuổi qua việc thực hiện từng bài tập...........................................................74
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, con người
phải đối diện với nhiều thách thức. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - kỹ thuật
và công nghệ, xu thế toàn cầu hóa…một mặt không ngừng nâng cao chất lượng
cuộc sống, mặt khác lại tạo ra những tác động đa chiều, phức tạp có thể gây ảnh
hưởng, nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ.
Để tiến tới thành công và hạnh phúc trong cuộc đời, con người không tránh khỏi
phải đối mặt với vô số khó khăn thách thức trong cuộc sống. Có kỹ năng sống sẽ giúp
mỗi cá nhân giải quyết tốt, khắc phục hay vượt qua khó khăn gặp phải, để nâng cao
chất lượng cuộc sống
Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để ứng phó với những yêu cầu và
thách thức trong cuộc sống hằng ngày nó hướng vào việc giúp con người thực
hiện, giải quyết có hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày, giúp
con người sống an toàn, khỏe mạnh trên cơ sở vận dụng những tri thức và vốn kinh
nghiệm đã có trong những điều kiện nhất định.
Việc giáo dục kỹ năng sống cho mọi người nói chung và trẻ em nói riêng đang
trở thành nhiệm vụ quan trọng của các trường từ mầm non đến đại học. Giáo dục
kỹ năng sống cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, giáo dục
cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ phát triển hài
hoà, toàn diện về nhân cách. Cung cấp cho mỗi trẻ những kiến thức cần thiết về kỹ
năng sống, giúp các em hiểu và biến những kiến thức về kỹ năng sống được cung
cấp thành hành động cụ thể trong quá trình hoạt động thực tiễn với bản thân, với
người khác, với xã hội; ứng phó trước nhiều tình huống, học cách giao tiếp, ứng xử
cho trẻ.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua chế
độ sinh hoạt hàng ngày.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
2
Thực trạng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm
non Lạng Phong – Nho Quan – Ninh Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ năng tự phục vụ (Rửa tay, rửa mặt) cho
trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua việc tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày.
- Nghiên cứu 40 trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi và 10 giáo viên đã và đang giảng dạy tại
các lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi ở trường mầm non Lạng Phong - Nho Quan - Ninh Bình.
- Thời gian nghiên cứu: Từ 10/2016 - 5/2017.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu
giáo 3 - 4 tuổi.
5.2. Nghiên cứu thực trạng giáo dục kỹ tự phục vụ (Rửa tay, rửa mặt) cho trẻ
mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua việc tổ chức chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường
mầm non Lạng Phong - Nho Quan - Ninh Bình.
5.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng tự
phục vụ (Rửa tay, rửa mặt) cho trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi thông qua việc tổ chức chế độ
sinh hoạt hàng ngày.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các vấn đề nghiên cứu có
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA VIỆC GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO TRẺ MẪU GIÁO 3 - 4 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Vấn đề giáo dục kỹ năng sống trên thế giới
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ “kỹ năng sống” đã xuất hiện trong
một số chương trình giáo dục của UNICEF.
Thuật ngữ “giáo dục kỹ năng sống” đã được đề cập đến từ hơn hai thế kỷ nay
Năm 1986, bản hiến chương Ottawa vì tăng cường sức khỏe nhận ra kỹ năng
sống có ý nghĩa làm cho sức khỏe đươc tốt hơn.
Năm 1989, công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) tuyên bố giáo dục cần
trực tiếp hướng tới phát triển hết tiềm năng của trẻ và đưa ra phương pháp liên kết
kỹ nắng với giáo dục.
Năm 1990, tuyên bố Jomtien về giáo dục cho mọi người lại nêu ra đưa kỹ
năng sống vào trong các công cụ học tập trọng yếu để tồn tại, để xây dựng năng
lực và chất lượng cuộc sống.
Năm 2000 hội nghị giáo dục Dakar đề nghị tất cả trẻ em và người lớn đều có
quyền hưởng lợi từ “một nền giáo dục, trong đó bao gồm việc học tập để biết, để
sống cùng nhau và để tồn tại”, đưa các kỹ năng sống vào mục tiêu giáo dục cho
mọi người (EFA Goals).
Hội thảo Bali khái quát báo cáo tham luận của các quốc gia tham gia hội
thảo về giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên đã xác định mục tiêu của giáo
dục kỹ năng sống của các nước vùng Châu Á – Thái Bình Dương là nhằm nâng
cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng
nhu cầu sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Một số công trình liên quan đến việc giáo dục kỹ năng sống:
Trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sống và giáo dục kỹ
năng sống được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kỹ năng tự
nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng
đặt mục tiêu...nhằm vào giáo dục sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn.
6
Đến giai đoạn 2 chương trình được mang tên “giáo dục sống khỏe mạnh và
kỹ năng sống” thì quan niệm về kỹ năng sống cơ bản đối với từng nhóm đối tượng
được vận dụng đa dạng hơn. Đó là những kỹ năng cần cho bảo vệ sức khỏe, phòng
tránh các tệ nạn xã hội dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với
những thách thức của xã hội, vận dụng để giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau
trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng.
Năm 2003, hội thảo “chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNESCO
được tổ chức thì khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng.
Khái niệm kỹ năng sống của tổ chức này dựa trên 4 trụ cột của giáo dục: Học để
biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình. Từ đó
những người làm công tác giáo dục Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về kỹ năng sống
và trách nhiệm giáo dục kỹ năng sống cho người học.
Năm 2005 nhóm các tác giả của viện chiến lược và chương trình giáo dục
đã có công trình nghiên cứu đầu tiên: “Giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam”. Trong
chương trình nghiên cứu này nhóm các tác giả đã đề cập đến các nội dung cơ bản:
Các quan niệm về kỹ năng sống; cơ sở pháp lý của giáo dục kỹ năng sống ở Việt
Nam; giáo dục kỹ năng sống ở các cấp học; cách thức giáo dục kỹ năng sống; đánh
giá về giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam; những thách thức và giáo dục kỹ năng
sống trong tương lai. Đây là công trình nghiên cứu quan trọng, làm cơ sở, nền tảng
cho các công trình nghiên cứu tiếp theo cho các công trình nghiên cứu kỹ năng
sống ở Việt Nam tiếp theo
Trong nước đã có một số công trình nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống như:
- Tác giả Mạc Văn Trang đã phân tích những vấn đề chung, kết quả nghiên cứu về
- V.A. Kruchetxki cho rằng Kỹ năng là thực hiện một hành động hay một hoạt
động nào đó nhờ sử dụng những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn [10]
- A.G.Côvaliôp trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” thì cho rằng: “Kỹ năng là
phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện hành động”.
Có thể thấy rằng ông không đề cập đến kết quả của hành động. Theo ông kết quả
của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả là năng lực
của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động thì đem
lại kết quả tương ứng.
8
- PGS Trần Trọng Thủy cho rằng : KN là mặt kỹ thuật của hành động, con
người nắm được hành động tức là kỹ thuật hành động có kỹ năng [24]
- PGS.TS Hà Nhật Thăng cho rằng : KN là kỹ thuật của hành động thể hiện
các thao tác của hành động [23]
Như vậy, theo quan điểm này, kỹ năng là phương tiện thực hiện hành động
phù hợp với mục đích và điều kiện hành động mà con người đã nắm vững. Theo
các tác giả trên, người có kỹ năng hoạt động nào đó là người nắm được các tri thức
về hoạt động đó và thực hiện hành động theo đúng yêu cầu của nó mà không cần
tính đến kết quả hành động [32]
* Quan điểm thứ 2
Quan điểm xem xét kỹ năng từ góc độ không đơn thuần chỉ là mặt kỹ thuật của
hành động mà còn là biểu hiện của năng lực của chủ thể hành động và nhấn mạnh đến
kết quả của hành động. Theo quan điểm này kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính
mềm dẻo, tính linh hoạt, tính sáng tạo và tính mục đích.
- X.I. Kiêgop cho rằng: Kỹ năng là khả năng thực hiện có hiệu quả hệ thống
các hành động phù hợp với các mục đích và điều kiện của hệ thống này.
- H.D.Levitov thì cho rằng kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một tác động
nào đó hay một hành động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng đúng đắn
các hình thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả.
Thông thường, kỹ năng sống được hiểu là những kỹ năng thực hành mà con
người cần để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao cho
phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Theo UNICEFF: kỹ năng sống là tập hợp rất nhiều kỹ năng tâm lý xã hội và
giao tiếp cá nhân giúp cho con người đưa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp
một cách có hiệu quả, phát triển các kỹ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm
giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và có hiệu quả. Từ kỹ năng sống có thể thể
hiện thành những hành động cá nhân và những hành động đó sẽ tác động đến hành
động của những người khác cũng như dẫn đến những hành động nhằm thay đổi
môi trường xung quanh, giúp nó trở nên lành mạnh.
10
Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO): coi
kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hàng ngày
Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO): kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý xã
hội và giao tiếp mà mỗi cá nhân có thể có để tương tác với những người khác một
cách hiệu quả và giải pháp tích cực hoặc ứng phó với những vấn đề hay những
thách thức của cuộc sống hàng ngày.
Có thể thấy: Quan niệm về kỹ năng sống của UNESCO có nội hàm rộng hơn
quan niệm của WHO (tổ chức y tế thế giới) vì:
Thứ nhất là: những năng lực để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia
vào cuộc sống hàng ngày sẽ bao gồm cả những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng đọc,
viết, làm tính...trong khi đó những kỹ năng mang tính tâm lý xã hội và kỹ năng
giao tiếp để giải quyết có hiệu quả những tình huống trong cuộc sống... là những
kỹ năng phức tạp hơn đòi hỏi sự tổng hợp các yếu tố kiến thức, thái độ và hành vi.
Thứ hai là: những kỹ năng tâm lí - xã hội thuộc phạm vi hẹp hơn trong số
những kỹ năng cần thiết trong cuộc sống hàng ngày.
không tự nhiên mà có. Sự tồn tại và phát triển cá nhân ngày nay không còn dựa
trên quy luật cạnh tranh sinh tồn “mạnh được yếu thua” mà phải trên cơ sở phát
triển, chung sống hài hòa giữa cá nhân và xã hội, sự hòa hợp giữa lợi ích cá nhân
và cộng đồng xã hội.
Kỹ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Kỹ năng sống
mang tính cá nhân vì đó là năng lực của cá nhân. Kỹ năng sống còn mang tính xã
hội vì trong mỗi một giai đoạn phát triển của lịch sử xã hội, ở mỗi vùng miền lại
đòi hỏi mỗi cá nhân có những kỹ năng sống thích hợp. Chẳng hạn: kỹ năng sống
của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với kỹ năng sống của các cá nhân trong
cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập; kỹ năng sống của người sống ở miền
núi khác với kỹ năng sống của người sống ở vùng biển; kỹ năng sống của người
sống ở nông thôn khác với kỹ năng sống của người sống ở thành phố...
1.2.1.3. Khái niệm giáo dục kỹ năng sống
12
Giáo dục KNS là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại đặt ra, có
liên quan đến việc làm, sức khỏe, đến vấn đề xung đột và bạo lực cá nhân của cộng
đồng xã hội.
Có thể quan niệm về GDKNS cho trẻ MG 3 – 4 tuổi là quá trình tác động
sư phạm có mục đích, có định hướng của nhà giáo dục tới trẻ, thông qua việc tổ
chức hoạt động nhằm hình thành và rèn luyện hoặc thay đổi các hành vi của trẻ 34 tuổi theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách
trẻ dựa trên cơ sở giúp trẻ có tri thức, thái độ và kỹ năng phù hợp đáp ứng được
những yêu cầu của cuộc sống hiện đại.
1.2.1.4. Khái niệm kỹ năng tự phục vụ
Lao động tự phục vụ là hình thức lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt
cá nhân hàng ngày nhằm chăm sóc cho bản thân như tắm rửa, cởi quần áo, thu dọn
giường ngủ, chải đầu, đi giầy dép [2].
Theo Nguyễn Thị Hòa kỹ năng tự phục vụ là năng lực của một cá nhân, được
+ Các vấn đề về giới, giới tính.
+ Các vấn đề về phòng chống HIV/AIDS, chống ma túy, rượu, thuốc lá…
+ Các vấn đề về môi trường, phòng chống bạo lực…
+ Các vấn đề về gia đình, trường học
+ Các vấn đề về sức khỏe và dinh dưỡng.
Mỗi cá nhân cần phải có cả 3 thành tố này trong sự thống nhất, tính chỉnh
thế của chúng.
* Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra,
dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập
qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu
trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm. Theo quan niệm này, các kỹ
năng sống gồm 3 nhóm:
- Nhóm các kỹ năng nhận thức: kỹ năng tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định
giá trị, tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, ra quyết định, giải quyết vấn đề…
- Nhóm các kỹ năng xã hội: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng cảm thông, kỹ năng
hợp tác…
14
- Nhóm các kỹ năng cảm xúc: kỹ năng ứng phó với cảm xúc, kỹ năng ứng
phó với căng thẳng, tự giám sát và điều chỉnh cảm xúc…
* Theo Quỹ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF), tổ chức này nghiên cứu
sâu về kỹ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân. Theo đó, các kỹ
năng phân loại theo các mối quan hệ như sau:
- Nhóm những kỹ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kỹ năng:
+ Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân
+ Kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống
+ Kỹ năng bảo vệ bản thân
+ Kỹ năng kiên định
- Kỹ năng giao tiếp giữa người và người
- Kỹ năng tự nhận thức bản thân
- Khả năng thấu cảm
- Kỹ năng ứng phó với cảm xúc
- Kỹ năng ứng phó với stress
Việc phân nhóm các kỹ năng sống chỉ mang tính tương đối. Tùy thuộc vào
những khía cạnh xem xét, hoặc ở những góc độ nhìn nhận mà một kỹ năng sống có
thể được xếp vào những kỹ năng sống mang tên gọi khác nhau. Có nhiều cách
phân loại, nhưng dù phân loại theo hình thức nào thì một số kỹ năng vẫn được coi
là cốt lõi như: Kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy
sáng tạo, kỹ năng tư duy phê phán/ suy nghĩ có phán đoán. Kỹ năng thiết lập mối
quan hệ liên nhân cách, kỹ năng giao tiếp có hiệu quả, kỹ năng tự nhận thức, kỹ
năng đồng cảm, kỹ năng kiềm chế cảm xúc, kỹ năng ứng phó với stress.
1.2.3. Kỹ năng sống của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi
* Kỹ năng hiểu biết về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng
- Các nhóm thực phẩm và cách chế biến (Làm quen với một số thực phẩm
thông thường và cách chế biến đơn giản)
- Ích lợi của thực phẩm đối với sức khoẻ con người (Ích lợi của ăn uống đủ
lượng và đủ chất và sức khoẻ)
- Ăn uống đầy đủ, hợp lý và sạch sẽ (Ăn nhiều loại thức ăn khác nhau trong
ngày, ăn sạch sẽ)
16
* Kỹ năng chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Biết rửa tay bằng xà phòng trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh và khi tay bẩn
- Có thói quen rửa mặt sạch sẽ trước và sau khi ngủ dạy, trước và sau khi ăn, sau
khi ra ngoài đường, khi mặt bẩn
* Kỹ năng giữ an toàn cá nhân
- Biết kêu cứu và chạy khỏi nơi nguy hiểm