[Type text]
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của quản lý vốn bằng tiền
Bất kì một cơ sở sản xuất kinh doanh nào vấn đề vốn cũng là một vấn đề
vô cùng quan trọng để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Vốn được
biểu hiện qua nhiều hình thức khác nhau như vốn bằng tiền, vốn bằng sức lao
động, vốn bằng công nghệ kĩ thuật…trong đó vốn bằng tiền giữ một vị trí hết
sức quan trọng trong cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
Vốn bằng tiền là cơ sở, tiền đề cho một doanh nghiệp hình thành, tồn tại
và phát triển, vốn bằng tiền rất lớn và phức tạp do chúng tồn tại ở nhiều dạng
khác nhau.
Mặt khác vốn bằng tiền là công cụ giúp nhà lãnh đạo quản lý, điều hành
các hoạt động kinh doanh. Do đó có chức năng cung cấp thông tin chuẩn xác
nhất nên công tác quản lý vốn bằng tiền là vấn đề then chốt doanh nghiệp nào
cũng phải quan tâm và giải quyết sao cho hiệu quả nhất.
Nhận thức được tầm quan trọng của vốn bằng tiền trong mỗi doanh
nghiệp, với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Vũ Công Ty cùng các cô chú
trong công ty cổ phần chế tạo biến thế và vật liệu điện Hà Nội em đã chọn đề
tài “ Thực trạng quản lý vốn bằng tiền tại công ty cổ phần chế tạo biến thế và
vật liệu điện Hà Nội ” làm đề tài luận văn của mình.
2.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài
+ Đối tượng nghiên cứu: của đề tài chính là công tác quản lý vốn bằng tiền
của doanh nghiệp. Được thể hiện ró nét qua sự biến động của dòng tiền vào ra
trên bảng luân chuyển tiền của doanh nghiệp trong hai năm 2011 và 2012.
* Đề tài bao gồm các nội dung sau:
Chương I: Vốn bằng tiền và công tác quản lý vốn bằng tiền.
Chương II: Thực trạng công tác quản lý vốn bằng tiền tại công ty cổ
phần chế tạo biến thế và vật liệu điện Hà Nội.
Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý vốn
bằng tiền tại công ty cổ phần chế tạo biến thế và vật liệu điện Hà Nội.
Trong quá trình kiến tập và hoàn thiện đề tài, do hạn chế về mặt thời gian
cũng như trình độ nên không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận
được sự chỉ giáo của thầy giáo Vũ Công Ty cùng các cô chú trong công ty để
em có thể hoàn thành tốt hơn bài luận văn của mình.
Em xin trân thành cám ơn!
Trang 2
[Type text]
Sinh viên: Bùi Thị Tuyết Lan
CHƯƠNG I:
VỐN BẰNG TIỀN VÀ QUẢN LÝ VỐN BẰNG TIỀN
Trang 3
[Type text]
1.1 Những vấn đề chung về vốn bằng tiền.
1.1.1
•
ngột như mua nguyên vật liệu khi giá trị thị trường giảm…
•
Sự cần thiết quản lý vốn bằng tiền
Trang 4
[Type text]
Tiền là loại tài sản có tinh linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể chuyển đổi
thành các loại tài sản khác để trả nợ. Do vậy, tong hoạt động sản xuất kinh
doanh doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền nhất định.
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt và tiền gửi ngân hàng.
Vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một
doanh nghiệp, tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định đòi hỏi
thường xuyên phải có một lượng tiền nhất định tương ứng mới đảm bảo cho
tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái bình thường.
Vốn bằng tiền là một tài sản có tính linh hoạt cao và cũng dễ là đối tượng của
hành vi tham ô, gian lận, lợi dụng. Một trong những yêu cầu của công tác
quản lý tài chính doanh nghiệp là phải làm cho đồng vốn đầu tư vào kinh
doanh không ngừng vận động và sinh lời. Chính vì thế việc quản lý vốn bằng
tiền là vấn đề hết sức quan trọng trong công tác quản lý tài chính trong doanh
nghiệp.
1.1.2 Nội dung vốn bằng tiền trong doanh nghiệp.
Vốn bằng tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển, tài sản như tiền.
+ Tiền mặt tại quỹ doanh nghiệp: Bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ, vàng
bạc đá quý, kim loại quý, ngân phiếu… đang được lưu giữ tại két bạc của
doanh nghiệp để phục vụ cho chi tiêu trực tiếp hàng ngày của doanh nghiệp.
+ Tiền gửi ngân hàng: Bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ, vàng bạc, đá
Thứ nhất: Tiền mặt tại quỹ doanh nghiệp: Bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại
tệ, vàng bạc đá quý, kim loại quý, ngân phiếu… đang được lưu giữ tại két bạc
của doanh nghiệp để phục vụ cho chi tiêu trực tiếp hàng ngày của doanh
nghiệp.
Thứ hai: Tiền gửi ngân hàng: Bao gồm tiền Việt Nam, tiền ngoại tệ, vàng bạc,
đá quý, kim loại quý, ngân phiếu,… mà doanh nghiệp đã mở tài khoản tại
ngân hàng để phục vụ cho việc giao dịch, thanh toán trong quá trình sản xuất
kinh doanh.
Thứ ba: Tiền đang chuyển: Là số tiền mà doanh nghiệp đã nộp vào Ngân
hàng, kho bạc Nhà nước hoặc chuyển qua bưu điện để chuyển qua ngân hàng
hay đã làm thủ tục chuyển tiền từ tài khoản tại ngân hàng để trả cho các đơn
vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo hoặc sao kê của ngân hàng.
Tiền đang chuyển bao gồm: Tiền Việt Nam và ngoại tệ.
Trang 6
[Type text]
1.2 Nội dung quản lý vốn bằng tiền
1.2.1 Những nguyên tắc quản lý vốn bằng tiền trong doanh nghiệp.
Tiền được coi là mạch máu lưu thông của doanh nghiệp vì vậy đòi hỏi phải có
những nguyên tắc quản lý chặt chẽ vốn bằng tiền để tránh thất thoát gian lận.
+ Doanh nghiệp phải mở tài khoản tại ngân hàng để gửi các khoản tiền tạm
thời chưa dùng đến vào ngân hàng.
+ Triệt để sử dụng phương thức thanh toán chuyển khoản giữa hai bên mua
bán
+ Thường xuyên kiểm tra giám sát tình hình sử dụng vốn đúng kế hoạch và
nắm vững số dư tiền tại quỹ, tiền gửi ngân hàng hàng ngày.
+ Mọi trường hợp thừa thiếu đều phải truy cứu trách nhiệm
+ Hạn chế tiền mặt tồn quỹ, chỉ giữ lại ở mức thấp nhất để đáp ứng nhu cầu
Rủi ro lãi xuất: Tiền mặt để trong két hay trong tài khoản ngân hàng
•
đều không sinh lời.
Chi phí biến đổi: Nếu giữ tiền mặt bằng ngoại tệ doanh nghiệp sẽ phải
đối mặt với rủi ro liên quan đến chuyển đổi nhất là khi ngoại tệ mất giá
•
•
so với đồng bản tệ.
Mất giá do lạm phát.
Mất uy tín với nhà cung cấp: Chậm trễ trong thanh toán các khoản đến
hạn do thiếu tiền mặt sẽ tổn hại đến sự tín nhiệm với đối tác và ảnh
•
•
hưởng đến mối quan hệ đôi bên.
Mất các khoản ưu đãi khi không có tiền mặt thanh toán kịp thời.
Tăng chi phí lãi vay: Thiếu hụt tiền mặt khiến doanh nghiệp tăng nguy
cơ vay ngắn hạn một lượng tiền cần thiết để thanh toán các khoản phát
sinh ngoài dự kiến. do đó tăng áp lực lên chi phí tài chính và ảnh
hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Từ những rủi ro trên doanh nghiệp cần phải xác định mức dự trữ vốn bằng
tiền một cách hợp lý. Điều này giúp doanh nghiệp có thể tránh khỏi những
rủi ro không có khả năng thanh toán ngay, phải ra hạn thanh toán và rủi ro
thời quyết toán các khoản tạm ứng đúng hạn.
+ Tất cả các khoản chi tiền mặt đều phải thông qua quỹ không được chi ngoài
quỹ. Việc xuất quỹ hàng ngày phải do thủ quỹ tiến hành trên cơ sở các phiếu
thu chi tiền mặt hợp thức và hợp pháp. Cuối ngày, thủ quỹ phải kiểm quỹ, đối
chiếu tồn quỹ với số liệu của sổ quỹ kế toán tiền mặt. Nếu có chênh lệch thủ
quỹ và kế toán phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện
pháp xử lý kịp thời.
+ Biện pháp giảm tốc độ chi tiêu ( Tăng thời hạn chiếm dụng vốn): cùng với
cách tăng tốc độ thu hồi tiền mặt doanh nghiệp cần giảm tốc độ chi tiêu tiền
mặt. Thay vì dùng tiền thanh toán sớm các hóa đơn mua hàng, người quản lý
tài chính nên trì hoãn việc thanh toán trong phạm vi thời gian cho phép. Tuy
nhên để thực hiện được chiếm dụng vốn, doanh nghiệp phải là một doanh
nghiệp lớn có uy tín. Vì vậy để có thể tăng thời gian chiếm dụng vốn doanh
nghiệp cần phải xây dựng thương hiệu và uy tín của mình.
•
Các biện pháp khác
Chủ động lập kế hoạch vốn bằng tiền ( kế hoạch luân chuyển vốn
bằng tiền).
Doanh nghiệp cần xác định dòng tiền vào và dòng tiền ra cho từng thời kỳ( kế
hoạch thường được lập theo mùa, theo năm, theo quý, theo tuần, theo ngày).
Có ba loại dự báo:
Trang 9
[Type text]
•
•
+ Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Doanh nghiệp cần xây dựng
các nội quy, quy chế về quản lý các khoản thu chi bằng tiền mặt tránh mất
mát, lạm dụng tiền của doanh nghiệp để mưu cầu cá nhân. Hàng ngày kế toán
ngân hàng phải theo dõi và cập nhập những biến động số dư tài khoản tiền
gửi.
+ Tất cả các khoản thu chi bằng tiền mặt phải được thông qua quỹ, không
được chi tiêu ngoài quỹ.
•
Chọn lựa đối tác ngân hàng
Trang 10
[Type text]
+ Chọn lựa đối tác ngân hàng có khả năng giúp doanh nghiệp quản lý tốt tiền
mặt. Các ngân hàng ngày nay có thể cung cấp dịch vụ tự động chi trả lương
và các khoản chi thông qua hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử, đảm bảo an toàn
cho tìa khoản của doanh nghiệp và thực hiện thanh toán các giao dịch. Các
công ty lớn thường thực hiện một lúc với nhiều ngân hàng có năng lực để có
thể thực hiện tốt việc quản lý tiền mặt, đồng thời tránh bị lệ thuộc vào một
ngân hàng duy nhất nào đó. Bằng cách này công ty có thêm động lực kiểm
soát phí ngân quản, thu chi quỹ. Quỹ tiền mặt của doanh nghiệp nên kiểm kê
ít nhất một lần mỗi tháng, mỗi lần kiểm kê phải lập biên bản, khi phát sinh
nghiệp vụ thu chi phải có chứng từ. Thêm vào đó, trong trường hợp một ngân
hàng gặp khó khăn dịch vụ vẫn có thể tiệp tục bởi ngân hàng khác.
+ Phải có phân định rõ ràng trong quản lý tiền giữa nhân viên kế toán tiền mặt
với thủ quỹ: Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày do thủ quỹ tiến hành trên
cơ sở các phiếu thu chi tiền mặt hợp lý. Cuối ngày thủ quỹ phải kiểm quỹ
*Địa điểm: Số 11- Đường K2- Thị trấn Cầu Diễn- Từ Liêm- Hà Nội
*Quá trình hình thành phát triển:
- Ngày 26 tháng 3 năm 1963 trước nhu cầu của đất nước, mặc dù còn gặp rất
nhiều khó khăn nhưng Nhà máy chế tạo biến thế đầu tiên của Việt Nam đã
được thành lập đánh dấu một bước phát triển mới trong lĩnh vực chế tạo thiết
Trang 12
[Type text]
bị điện ở Việt Nam. Nhà máy đã tự đào tạo đội ngũ thiết kế, tự trang bị dây
chuyền công nghệ cho mình và đến những năm đầu 70 đã thiết kế chế tạo
thành công MBA 7500KVA-35/0,4, đây là MBA điện lực lớn nhất của ta tự
thiết kế chế tạo thời bấy giờ.
- Năm 1968: Nhà máy chế tạo biến thế tách phân xưởng sửa chữa MBA để
sau này thành lập Nhà máy sửa chữa thiết bị điện Đông Anh.
- Năm 1980: Sau khi giải phóng Miền Nam, trước nhu cầu về MBA ở Miền
Nam được Bộ cơ khí luyện kim đồng ý Nhà máy đã cử đoàn cán bộ từ Miền
Bắc vào Miền Nam để làm cơ sở cho việc thành lập Nhà máy thiết bị điện số
4 ở Đồng Nai ngày hôm nay.
- Năm 1983: Do nhu cầu phát triển của nghành thiết bị đo, Nhà máy Chế tạo
biến thế đã tách 01 phân xưởng đồng hồ đo để thành lập Công ty Thiết bị đo
điện tại số 10 – Trần Nguyên Hãn và toàn bộ bộ phận Chế tạo biến thế di
chuyển xuống Đuôi cá ở Thanh Trì.
- Năm 1986: Do nhu cầu phát triển của nghành thiết bị điện và vật liệu cách
điện Nhà máy Chế tạo biến thế lại tách 01 phân xưởng Vật liệu cách điện để
thành lập Nhà máy Vật liệu cách điện tại Cầu Diễn – Hà Nội. Nhà máy này
chủ yếu sản xuất các thiết bị cao thế và vật liệu cách điện.
- Năm 1994: Nhà máy Chế tạo biến thế liên doanh với tập đoàn ABB thành
lập liên doanh CTBT – ABB. ABB là tập đoàn sản xuất thiết bị điện lớn nhất
- Hình thức tổ chức pháp lý hiện tại: công ty cổ phần.
- Quy mô vốn điều lệ: 35.000.000.000 VNĐ
- Mệnh giá cổ phần: 10.000 VNĐ
2.1.2 Chức năng, ngành nghề kinh doanh:
- Sửa chữa, bảo dưỡng các thiết bị điện công nghiệp có điện áp đến 110KV
- Xây lắp đường dây và trạm biến áp có điện áp đến 110KV
- Đại lý, ký gửi, bán buôn, bán lẻ hàng hóa, vật tư thiết bị điện, điện tử thông
tin viễn thông
- Kinh doanh dịch vụ nhà hàng, ăn uống và cho thuê văn phòng (không bao
gồm kinh doanh phòng hát karaoke, quán bar, vũ trường)
- Sản xuất, mua bán máy biến áp và các loại thiết bị điện, khí cụ điện, vật liệu
điện, máy móc kỹ thuật điện có điện áp đến 110KV
- Kinh doanh xuất nhập khẩu các loại vật tư thiết bị điện và vật liệu cách điện.
Sản phẩm chủ yếu:
Trang 14
[Type text]
- Sản phẩm: Máy biến áp điện lực; Máy biến áp dầu hoặc kiểu kín không bầu
dầu công suất đến 20.000 kVA cấp điện áp đến 35 kV và các loại biến áp
khác: Máy biến áp khô, Máy biến áp lò các loại công suất đến 10.000 kVA
cấp điện áp đến 35 kV, máy biến áp hàn các loại,...; Thiết bị ổn áp và tự động
cung cấp nguồn khi mất điện; tủ bảng điện hạ thế; cuộn kháng dập hồ quang;
cầu chì tự rơi, cầu dao cách ly, cầu dao phủ tải đến 35 kV; máy biến dòng Cao
thế, Hạ thế ; chống sét van các loại, điện áp đến 35 kV.
- Dịch vụ: Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy biến áp, xây lắp đường dây và
trạm biến áp có điện áp đến 110 kV.
Tổ chức hoạt động kinh doanh:
Tập trung, công ty có 3 phân xưởng đều đặt tại số 11- Đường K2- Thị trấn
+ Sấy ruột máy
Ruột máy được sấy bằng lò sấy thổi gió nóng tuần hoàn, tự động điều chỉnh
nhiệt độ, nên có độ cách điện cao.
+ Tra dầu trong chân không
Máy được tra dầu trong chân không với độ chân không đạt 15 mbar.
+ Vỏ máy
Trang 16
[Type text]
Vỏ máy được thiết kế chắc chắn, nước sơn bền chịu đựng được khí hậu nhiệt
đới đảm bảo an toàn trong vận chuyển và vận hành.
+ Các chi tiết khác
Sứ cao, hạ thế chất lượng cao, đồng hồ chỉ thị dầu, ống phòng nổ, thiết bị
chống sét, bánh xe; rơle hơi (đối với loại công suất trên 100 kVA) và các thiết
bị khác theo yêu cầu của khách hàng.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật:
+ Khu nhà xưởng còn hơi chật chội.
+ Máy móc, trang thiết bị sản xuất được đầu tư hiện đại, đạt tiêu chuẩn quốc
tế.
- Tình hình cung cấp vật tư:
Vật tư chủ yếu từ nguồn trong nước.
- Thị trường tiêu thụ và vị thế cạnh tranh của công ty:
Công ty đã được thành lập lâu năm, có nhiều đóng góp cho đất nước và gây
dựng được uy tín trên thị trường. Tuy nhiên, hiện nay do hàng Trung Quốc giá
rẻ tràn lan trên thị trường, nạn hàng giả, hàng nhái cộng với việc phải cạnh
tranh với 78 công ty trong cùng ngành và các công ty nước ngoài nên gần đây
công ty gặp phải một số khó khăn trên thị trường tiêu thụ.
VNĐ
Lợi nhuận
sau thuế
VNĐ
Năm 2011
Năm 2012
Chênh lệch
Tỷ lệ%
71.463.368.152,5
59.864.184.520
(12.599.183.632)
(16)
54.983.069.319
15.307.988.076
(39.675.081.243)
Tỷ suất lợi
nhuận sau
thuế vốn chủ
sử hữu
0,05
(0,15)
(0,2)
(400)
445
389
(56)
(12,5)
Cổ tức 1 cổ
phần
VNĐ
Qua bảng phân tích trên cho ta thấy năm 2012 tình hình kinh doanh của doanh
nghiệp gặp nhiều khó khăn.
Trang 18
Trang 19
[Type text]
là do sang năm 2012 công ty làm ăn không những không có lãi mà còn thu lỗ
hơn 6 tỷ VNĐ.
Tóm lại : Kết quả hoạt động của công ty đang có xu hướng kém đi trong
những năm gần đây. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân gồm cả tình hình
kinh tế khó khăn chung do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu và cả
nguyên nhân chủ quan do những yều kém hạn chế trong công tác quản lý vốn
nói riêng và công tác quản trị tài chính của công ty nói chung.
2.2.2 Thực trạng lập kế hoạch vốn bằng tiền
- Quy mô vốn bằng tiền: Tiền và các khoản tương đương tiền năm 2012 giảm
4.422.664.708 VNĐ tương đương 35,05% so với 2011. Tỷ trọng của chỉ tiêu
này trong vốn lưu động giảm từ 27,73% xuống còn 22,12%. Nguyên nhân là
do các khoản tương đương tiền cụ thể là khoản tiền gửi ngân hàng kỳ hạn
dưới 3 tháng trong năm 2012 giảm 4.300.000.000VNĐ. Tuy tiền mặt có tăng
nhưng không đáng kể nên chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền vẫn
giảm. Chỉ tiêu này giảm có thể là do công ty dùng tiền để trả các khoản nợ,
sang năm 2012 các khoản nợ ngắn hạn và dài hạn đều giảm đặc biệt nợ dài
hạn của công ty không còn. Tuy nhiên năm 2012 công ty vẫn còn nợ ngắn hạn
nên việc chỉ tiêu tiền và các khoản tương đương tiền giảm cần phải được công
ty xem xét và đảm bảo khả năng thanh toán, giữ uy tín của công ty với nhà tín
dụng, nhà cung cấp cũng như người lao động…
-Biến động cơ cấu vốn bằng tiền qua hai năm 2011 và 2012
Ta có biểu đồ phản ánh cơ cấu vốn bằng tiền trong doanh nghiệp
HÌNH 2.3 BIỂU ĐỒ CƠ CẤU VỐN BẰNG TIỀN CỦA DOANH
NGHIỆP NĂM 2011-2012
Trang 21
[Type text]
Việc lập kế hoạch này giúp doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp xác định
được dòng tiền vào, ra trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó xem xét cân đối thu
chi bằng tiền đồng thời xác định được số tiền mặt cần dự trữ. Số tiền này
chiếm một lượng không đáng kể bởi các hoạt động phát sinh tiền của công ty
đều chủ yếu và hầu hết thông qua các hợp đồng kí kết với các đối tác. Vì vậy
công ty có thể chủ động trong việc dự trữ tiền mặt. với những hợp đồng lớn
hơn 20 triệu bắt buộc phải chuyển khoản nên lượng tiền mặt dự trữ trong công
ty thường rất nhỏ. Từ đó công ty có thể tránh được những rủi ro khi dự trữ
thừa tiền mặt tại quỹ như rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát…
Tiền mặt tại quỹ có thể dùng để trả lương, thưởng cho các cns bộ công nhân
viên, và dùng để mua sắm… tùy thuộc vào thời kỳ phát sinh và kế hoạch chi
tiêu mà xác định lượng tồn quỹ tiền mặt. Nếu có nhu cầu phát sinh lớn kế toán
tiền mặt sẽ viết séc để thủ quỹ đi rút tiền ở ngân hàng.
Trong hoạt động hàng ngày của công ty phát sinh những dòng tiền thu, chi.
Nếu tiền mặt tại quý quá lớn thì thủ quỹ sẽ xin ý kiến của kế toán trưởng, tùy
thuộc vào kế hoạch chi tiêu sắp tới để gửi bớt tiền vào tài khoản của công ty
tại ngân hàng.
Hàng ngày căn cứ kế hoạch thu, chi, các hợp đồng… kế toán tiền mặt sẽ lập
phiếu thu, chi tương ứng theo mẫu của công ty.
Các nghiệp vụ phát sinh làm tăng tiền mặt chủ yếu từ các hoạt động như
doanh thu dịch vụ, thu nợ phải thu…
Cụ thể, năm 2012 so với năm 2011 lượng tăng từ 71,43 triệu đồng lên 138,3
triệu đồng, tăng 131,212679 đồng tương ứng tăng 93,68%. Điều này cho thấy
doanh nghiệp đang có xu hướng tăng mức dự trữ tiền mặt một cách đáng kể.
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp được tính theo công thức sau
Hệ số thanh toán hiện thời= Tổng TSNH/NNH
•
Hệ số khả năng thanh toán tức thời : Hệ số này phản ánh khả
năng thanh toán tức thời để trang trải các khoản nợ ngắn hạn của doanh
nghiệp, hệ số này cũng thể hiện mức độ đảm bảo thanh toán các khoản
nợ ngắn hạn của doanh nghiệp. Hệ só này được tính theo công thức sau
Hệ số khả năng thanh = Tiền và các khoản tương đương tiền
toán tức thời
NNH
Trang 23
[Type text]
•
Hệ số thanh toán nhanh: Hệ số này đánh giá chặt chẽ hơn khả
năng thanh toán của doanh nghiệp, được xác định theo công thức sau
Hệ số thanh toán nhanh = Tổng TSNH – Hàng tồn kho
NNH
Bảng 2.2 Bảng tính các hệ số thanh toán năm 2012-2011
ĐVT: Lần
Hệ số
Năm 2011
Năm 2012
Thanh toán hiện thời
Trang 24
[Type text]
Để đánh giá chính xác công tác quản lý các khoản phải thu của công ty ta dựa
vào
Bảng 2.3 Phản ánh dòng tiền vào doanh nghiệp năm 2011-2012
ĐVT: Đồng
Chỉ tiêu
Tiền thu từ hoạt động bán hàng
Tiền thu từ hoạt dộng kinh
doanh
Năm 2012
Tổng cộng
Chênh lệch
Tỷ lệ
21450988304
57481503264
-36030514960
-68488262105
Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào
đơn vị khác
Tiền thu lãi cho vay, cổ tức và
lợi nhuận được chia
Năm2011
Qua bảng 2.3 ta thấy dòng tiền vào trong năm 2012 giảm mạnh so với năm
2011chủ yếu do thu từ hoạt động bán hàng giảm mạnh. Điều này cho thấy
doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn trong quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Đây cũng là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp gặp phải trong tình hình kinh tế
khó khăn như hiện tại. Đặc biệt, sản phẩm chủ yếu của doanh nghiệp là máy
biến thế được sản xuất theo đơn đặt hàng nên việc tiêu thụ hàng của doanh
nghiệp càng bị tác động lớn bởi thị trường. Ngoài ra qua bảng cân đối kế toán
ta thấy các khoản phải thu cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự
sụt giảm của dòng tiền vào doanh nghiêp trong năm 2012. Cụ thể như sau
Để đánh giá tình hình biến động cụ thể ta xem xét
Bảng 2.4: Cơ cấu các khoản phải thu ngắn hạn
Trang 25