Vốn lưu động và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty TNHH bê tông và xây dựng minh đức - Pdf 34

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH

LÊ THỊ KIM CHI
Lớp: K47/11.13

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
VỐN LƯU ĐỘNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ

SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH BÊ
TÔNG VÀ XÂY DỰNG MINH ĐỨC

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
Mã số : 401

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: GS-TS. Vũ Công Ty

HÀ NỘI - 2013
MỞ ĐẦU


2

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Vốn là một phạm trù kinh tế hàng hóa, là một yếu tố quan trọng quyết
định đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Để khởi sự và tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh , bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải có một lượng
vốn nhất định, từ đó quan tâm tới vấn đề tạo lập, quản lí sử dụng vốn sao cho
có hiệu quả nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.

Đức”.
2.Đối tượng và mục đích nghiên cứu
-Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về vốn lưu động và hiệu
quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp.
- Đánh giá thực trạng vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
công ty TNHH xây dựng bê tông Minh Đức từ năm 2011-2012.
- Đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại công ty. Từ
đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty nhằm đem lại lợi nhuận
tối đa cho công ty, giúp công ty ngày càng phát triển . Đây cũng chính là mục
đích nghiên cứu đề tài.
3.Phạm vi nghiên cứu:
-Nghiên cứu tại Công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức
-Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2011-2012
-Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình vốn lưu động và hiệu quả sử dụng
vốn lưu động tại Công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức.
4.Phương pháp nghiên cứu:
Từ những kiến thức được truyền đạt trong nhà trường cùng với thời gian
thực tế tại công ty TNHH bê tông và xây dựng Minh Đức, em sẽ dẫn vào
khóa luận tốt nghiệp tình hình VLĐ và hiệu quả sử dụng VLĐ bằng việc thu
thập thông tin thông qua các số liệu lấy từ các bảng báo cáo tài chính tại công
ty (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
thuyết minh tài chính), tìm hiểu đặc điểm hoạt động công ty đồng thời kết hợp

3


4

sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp, so sánh đánh giá. Từ
đó ta có thể biết được việc sử dụng vốn lưu động của công ty có đạt hiệu quả

1.1.1 Khái niệm, vai trò,
 Khái niệm

đặc trưng

Muốn tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài tư liệu lao động, các doanh
nghiệp còn phải có đối tượng lao động và sức lao động. Trong nền sản xuất
hàng hoá, các doanh nghiệp phải dùng tiền để mua sắm đối tượng lao động và
trả lương cho công nhân viên, do đó phải ứng trước một số vốn cho mục đích
này. Đối tượng lao động khi tham gia quá trình sản xuất không giữ nguyên
hình thái vật chất ban đầu, giá trị của đối tượng lao động được chuyển dịch
toàn bộ ngay một lần vào sản phẩm mới và được bù lại khi giá trị sản phẩm
được thực hiện.
Đối tượng lao động trong doanh nghiệp được biểu hiện thành hai bộ
phận là những vật tư dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục;
một bộ phận khác là những vật tư đang trong quá trình chế biến (sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm). Hai bộ phận này từ hình thái hiện vật của nó gọi là tài
sản lưu động sản xuất. Mặt khác, quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp gắn liền với quá trình lưu thông như chọn lọc đóng gói, tích luỹ thành
lô, thanh toán với khách hàng... Những khoản vật tư và tiền tệ phát sinh trong
quá trình lưu thông gọi là tài sản lưu thông. Tài sản lưu động sản xuất và tài
sản lưu thông thay thế nhau vận động không ngừng để quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành thuận lợi.
Như vậy, để hình thành TSLĐ sản xuất và tài sản lưu thông nhằm đảm
bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thực hiện được thường xuyên
liên tục, các doanh nghiệp cần ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định. Số vốn này
được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Tóm lại, vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành
nên TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được
5

nghiệp.


6

Vai trò


7

VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình sản
xuất kinh doanh. Do đặc điểm tuần hoàn của VLĐ, cùng một lúc nó phân bổ
trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác
nhau. Để tổ chức hợp lý sự tuần hoàn của các tài sản, để quá trình sản xuất
kinh doanh được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư vào các hình
thái khác nhau đó để các hình thái có mức tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau.
Nếu không thì quá trình sản xuất kinh doanh sẽ gặp khó khăn.
VLĐ còn là công cụ phản ánh và kiểm tra quá trình vận động của vật
tư. Trong doanh nghiệp sự vận động của vốn phản ánh sự vận động của vật
tư, VLĐ nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư hàng hoá dự trữ ở khâu
nhiều hay ít. Ngoài ra, VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm còn phản ánh số
lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không, thời gian nằm ở khâu sản xuất và
lưu thông sản phẩm có hợp lý hay không. Bởi vậy thông qua tình hình luân
chuyển VLĐ còn có thể kiểm tra một cách toàn diện đối với việc cung cấp,
sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp.
Hơn thế, trong tình hình sản xuất kinh doanh có thể gặp những rủi ro,
mất mát, hư hỏng, giá cả giảm mạnh, nếu doanh nghiệp không có lượng vốn
đủ lớn sẽ khó đứng vững trong cơ chế thị trường cạnh tranh đầy quyết liệt,
VLĐ là yếu tố nâng cao tính cạnh tranh, nâng cao uy tín của doanh nghiệp
trên thị trường.

hợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp có thể phải ứng trước tiền mua
hàng cho người cung ứng, từ đó hình thành khoản tạm ứng.
- Vốn về hàng tồn kho
+ Vốn nguyên liệu, vật liệu, công cụ và dụng cụ.
+ Vốn sản phẩm dở dang: là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất kinh
doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất.
+ Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong đạt tiêu
chuẩn kĩ thuật và đã được nhập kho.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho
việc xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ hàng tồn kho và khả năng thanh
toán của doanh nghiệp.

8


9

*Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh
doanh có thể chia vốn lưu động thành các loại chủ yếu sau:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, gồm các khoản:Vốn nguyên liệu,
vật liệu chính; Vốn vật liệu phụ; Vốn nhiên liệu; Vốn phụ tùng thay thế; Vốn
vật đóng gói; Vốn công cụ, dụng cụ
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: Vốn sản phẩm dở dang và Vốn về chi phí
trả trước ngắn hạn
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: Vốn thành phẩm; Vốn bằng tiền; Vốn
trong thanh toán; Vốn đầu tư ngắn hạn về chứng khoán và các loại khác.
Phương pháp này giúp đánh giá tình hình phân bổ VLĐ trong các khâu
của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của từng thành phần đối với
quá trình kinh doanh.Từ đó đề ra biện pháp tổ chức quản lý thích hợp nhằm
tạo ra một kết cấu VLĐ hợp lý, tăng tốc độ luân chuyển VLĐ.

-Vốn chủ sở hữu: Là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp,
doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà
vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: Vốn đầu tư từ ngân sách Nhà
nước; vốn do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty
cổ phần; vốn góp từ các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ
sung từ lợi nhuận doanh nghiệp...
-Các khoản nợ: Là các khoản được hình thành từ vốn vay các ngân
hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát
hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ
có quyền sử dụng các khoản nợ này trong một thời hạn nhất định.
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp
được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các khoản nợ.
Từ đó có các quyết định trong huy động và quản lý, sử dụng vốn lưu động
hợp lý hơn, đảm bảo an ninh tài chính trong sử dụng vốn của doanh nghiệp.
*Theo thời gian huy động, sử dụng vốn

10


11

-Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn ổn định có tính chất
lâu dài mà doanh nghiệp (DN) có thể sử dụng đầu tư nhằm hình thành nên
TSLĐ thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
NVLĐ thường xuyên= Giá trị tổng tài sản -nợ ngắn hạn-giá trị còn lại của
tscđ
= TSLĐ-Nợ ngắn hạn.
-Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn chủ
yếu đáp ứng yêu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ phát sinh trong quá trình

phản ánh trình độ, năng lực khai thác và quản lý sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho vốn lưu động trong doanh nghiệp được luân
chuyển với tốc độ cao, đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp luôn ở
tình trạng tốt nhất và mức chi phí cho việc sử dụng vốn lưu động là ít nhất.
Nói cách khác, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thể hiện khả năng sinh lời của
vốn lưu động, nó cho biết mỗi đơn vị vốn lưu động tạo ra bao nhiêu đồng lợi
nhuận ròng trong kì.
Tóm lại, nói đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta không thể
tách rời nó với một chu kỳ sản xuất kinh doanh hợp lý ( chu kỳ sản xuất kinh
doanh càng ngắn hiệu quả sử dụng vốn càng cao ), một định mức sử dụng đầu
vào hợp lý, công tác tổ chức quản lý sản xuất, tiêu thụ và thu hồi công nợ chặt
chẽ.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp
dùng để đánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói
chung của doanh nghiệp. Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn
lưu động cho phép các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có một cái nhìn
toàn diện về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình từ đó
đề ra các biện pháp, các chính sách quyết định đúng đắn, phù hợp để việc
quản lý và sử dụng đồng vốn nói chung và VLĐ nói riêng tiết kiệm, hiệu quả

12


13

nhằm mục đích cuối cùng nâng cao lợi nhuận, thực hiện tái sản xuất và mở
rộng quy mô sản xuất.
1.2.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lưu động



không hiệu quả (ví dụ: có quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi, hàng tồn kho ứ đọng).
Một doanh nghiệp nếu dự trữ nhiều hàng tồn kho thì sẽ có hệ số khả năng
thanh toán hiện hành cao, mà ta đã biết hàng tồn kho là tài sản khó hoán
chuyển thành tiền, nhất là hàng tồn ứ đọng kém phẩm chất. Vì thế trong nhiều
trường hợp tỷ số thanh toán hiện hành không phản ánh được chính xác khả
năng thanh toán của doanh nghiệp.
b. Khả năng thanh toán nhanh:
Đây là một chỉ tiêu đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của
doanh nghiệp. Tỷ số thanh toán nhanh được tính toán dựa trên những TSLĐ
có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, ở đây hàng tồn kho( HTK) bị loại
trù ra bởi lẽ trong TSLĐ, HTK được coi là tài sản có tính thanh khoản thấp
hơn.
Khả năng thanh toán nhanh =
Tỷ số này cho thấy khả năng thanh toán thực sự của một doanh nghiệp.
Chỉ số này được đánh giá là tốt khi 0.5< khả năng thanh toán
16

doanh thu tạo ra trên một đồng VLĐ càng lớn thì hiệu quả sử dụng VLĐ càng
cao.
Từ công thức trên ta có thể xác định thời gian của một vòng luân chuyển:
Số ngày một vòng quay VLĐ (K) = =
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được
một vòng. Thời gian của một vòng (kỳ) luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân
chuyển càng lớn.
Một cách tổng quát, có thể xác định số vốn lưu động tiết kiệm (-) hay
lãng phí (+) trong kỳ của doanh nghiệp theo công thức.
Số VLĐ tiết kiệm (-) hay lãng phí tương đối (+) = TSNHbq1 –
Hệ số đảm nhiệm của VLĐ
Là số VLĐ cần thiết để tạo ra một đồng doanh thu. Đây là chỉ tiêu
nghịch đảo với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn.
hàm lượng VLĐ =
b. Số vòng quay khoản phải thu:
Số vòng quay khoản khoản thu được sử dụng để xem xét việc thanh
toán các khoản phải thu. Khi khách hàng thanh toán tất cả các hoá đơn của họ,
lúc đó khoản phải thu quay được một vòng.
VQ các khoản phải thu =
Dư nợ Bq KPT khách hàng =
Số ngày 1 vòng quay khoản phải thu = 360/Vq các khoản phải thu
Số vòng quay các khoản phải thu hoặc kỳ thu tiền bình quân cao hay
thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu của doanh nghiệp. Nếu số vòng quay

16


17

17


18

Tất cả những chỉ tiêu trên là những chỉ tiêu cơ bản thường được sử
dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ trong doanh nghiệp, từ đây giúp các
nhà quản lý tài chính đánh giá đúng đắn tình hình kỳ trước để nâng cao hiệu
quả tổ chức quản lý cho kì tiếp theo.
1.3

Các nhân tố tác động tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của DN

*Các nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
DN
Trước tiên phải kể đến yếu tố chính sách kinh tế của Nhà nước. Đây là
nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và
hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng. Vì tuỳ theo từng thời kỳ, tuỳ theo
từng mục tiêu phát triển mà Nhà nước có những chính sách ưu đãi về vốn về
thuế và lãi suất tiền vay đối với từng ngành nghề cụ thể, có chính sách khuyến
khích đối với ngành nghề này nhưng lại hạn chế ngành nghề khác. Bởi vậy
khi tiến hành sản xuất kinh doanh bất cứ một doanh nghiệp nào cũng quan
tâm và tuân thủ chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai là ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô như lạm phát có
thể dẫn tới sự mất giá của đồng tiền làm cho vốn của các doanh nghiệp bị mất
dần theo tốc độ trượt giá của tiền tệ hay các nhân tố tác động đến cung cầu
đối với hàng hóa của doanh nghiệp, nếu nhu cầu hàng hóa giảm xuống sẽ làm
cho hàng hóa của doanh nghiệp khó tiêu thụ, tồn đọng gây ứ đọng vốn và hiệu
quả sử dụng vốn lưu động cũng bị giảm xuống.
Yếu tố sản xuất tiêu thụ ảnh hưởng trực tiếp tới lưu chuyển hàng hóa.

vốn tiền mặt dự trữ hợp lý giúp cho quá trình sxkd liên tục mà không gây ứ
đọng vốn.
Một nhân tố khác ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động của
doanh nghiệp là khả năng thanh toán. Nếu đảm bảo tốt khả năng thanh toán

19


20

doanh nghiệp sẽ không bị mất tín nhiệm trong quan hệ mua bán và không có
nợ quá hạn.

20


21

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VLĐ VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG TẠI
CÔNG TY TNHH BÊ TÔNG VÀ XÂY DỰNG MINH ĐỨC

2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
2.1.1 Quá trình hình thành phát triển của công ty
- Tên công ty: Công ty TNHH Bê tông và xây dựng Minh Đức.
-

Tên giao dịch: MINH DUC CONCRETE-CONSTRUCTION LIMITED

LIABILITY COMPANY.

22

-

Chú trọng công tác quản lý, đặc biệt là quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn
ISO 9001 – 2008, với đội ngũ công nhân kỹ thuật giàu kinh nghiệm và tay
nghề cao, Minh Đức luôn cho ra những sản phẩm đảm bảo và có chất
lượng tốt nhất. Năm 2010, Nhà máy Bê tông Minh Đức đã áp dụng quy
trình quản lý 5S (sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ, săn sóc và sẵn sàng) của Nhật
Bản trong toàn bộ hoạt động của mình. Mục đích cơ bản của mô hình quản
lý này là tạo môi trường sản xuất - kinh doanh sạch sẽ, an toàn, đảm bảo
chất lượng môi trường, nâng cao sức khỏe cho người lao động, từ đó cải
thiện năng suất lao động, tránh lãng phí trong quá trình sản xuất, nhằm
giảm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm. Đây là một mô hình quản lý
rất tiên tiến và khoa học, đã được các công ty của Nhật Bản nói riêng và
các công ty hàng đầu thế giới nói chung áp dụng thành công thời gian vừa
qua.

-

Việc áp dụng quy trình quản lý 5S đã tạo thay đổi rất lớn công tác quản lý
và điều hành sản xuất của Nhà máy. Nhà máy Minh Đức sau khi thực hiện
quy trình 5S đã gọn gàng, sạch sẽ và khang trang hơn. Người lao động đã
có được môi trường làm việc trong lành và an toàn hơn.

-

Ngoài ra, Công ty còn tham gia cung cấp cọc bê tông và trực tiếp thi công
tại hơn 20 công trình cầu cảng do Tổng công ty Sơn Trường thực hiện từ
Bắc vào Nam, như Cảng xuất xi măng Nghi Sơn tại Nha Trang (Khánh

- Các hoạt động, chính sách tuyển dụng nhân viên dựa theo luật Doanh
nghiệp, luật lao động, việc hạch toán kế toán dựa theo chuẩn mực và chế độ
kế toán.
- Chức năng phân phối lãi suất mang lại thu nhập cho xã hội, việc làm cho
cán bộ công nhân viên trong công ty, tạo điều kiện cho hàng ngàn người có
thêm thu nhập hỗ trợ cho cuộc sống sinh hoạt của người dân.
2.1.2.2 Nhiệm vụ
- Tổ chức sản xuất và kinh doanh theo ngành nghề đã đăng kí và hoạt động
đúng theo mục tiêu thành lập của công ty.

23


24

- Khai thác và sử dụng có hiêụ quả các nguồn vốn của Công ty đảm bảo cho
việc thực hiện mở rộng và tăng trưởng hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty, thực hiện tự trang trải về tài chính, kinh doanh có lãi, đáp ứng được
nhu cầu tiêu dùng của xã hội, sử dụng đúng chế độ chính sách quy định.
- Thực hiện nghĩa vụ đối với người lao động theo đúng quy định luật lao động.
- Bảo đảm thực hịên đúng chế độ và quy định về quản lí vốn, tài sản, các quỹ
hạch toán, kế toán, chế độ kiểm toán và các chế độ khác do Nhà nước quy
định, thực hiện nộp thuế và các khoản phải nộp NSNN theo quy định pháp
luật.
- Góp phần bảo vệ môi trường xung quanh, ý thức giữ trật tự công cộng,
ANQP
2.1.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy công ty
Sơ đồ 1: Sơ đồ bộ máy quản lí công ty TNHH bê tông và XD Minh Đức :
Chủ tịch công ty
-giám đốc

b. Phòng Tài chính – Kế toán: Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh tháng,
quý, năm, tổng hợp, đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh
doanh của công ty. Lập các báo cáo tháng, quý, năm.
c. Phòng kỹ thuật sản xuất:Chịu trách nhiệm về kỹ thuật sản xuất, kỹ thuật
thiết bị, xây dựng đầu tư và kiểm tra việc thực hiện các định mức kinh tế kỹ
thuật; lập kế hoạch sửa chửa lớn, sữa chữa thường xuyên tài sản cố định;
kiểm tra quy trình công nghê sản xuất.
d. Phòng dự án đầu tư xây dựng: Phụ trách tài chính công ty, phân tích
tình hình kinh doanh, tài chính giúp lãnh đạo công ty có quyết định đúng đắn
trong sản xuất kinh doanh; nghiên cứu, xây dựng phát triển chiến lược
marketing, giới thiệu quy trình sản xuất sản phẩm hiện đại với khách hàng
nhằm tạo dựng uy tín nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, mở
rộng thị trường.
e.Phòng Vật tư – Kho vận :Thực hiện việc ký kết, theo dõi mua bán vật tư,
nguyên liệu; tổ chức sắp xếp, quản lý các kho vật tư, nguyên liệu, cung cấp
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status