BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐOÀN VĂN SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO SINH VIÊN HỌC GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG - AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
ĐOÀN VĂN SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO SINH VIÊN HỌC GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG - AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QUỐC PHÒNG HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đề tài : “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
sinh viên học GDQP - AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay” đến thời điểm
hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên không có sự
trùng lặp với các đề tài khác. Mọi kết quả, số liệu khảo sát điều tra thu thập được là
hoàn toàn chính xác, khách quan.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Việc hoàn thành luận văn là sự nỗ lực rất lớn của bản thân.
Tác giả
Đoàn Văn Sơn
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN HỌC GDQP-AN
5
1.1.
1.2.
tâm GDQP Hà Nội 2
50
2.4.
Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
sinh viên học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
64
Chương 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
69
CHO SINH VIÊN Ở TRUNG TÂM GDQP HÀ NỘI 2
3.1.
Các nguyên tắc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên ở
Trung tâm GDQP Hà Nội 2
69
3.2.
Một số giải pháp nâng cao vai trò quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
70
3.3.
Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
96
105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
108
TÀI LIỆU THAM KHẢO
112
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
CB
Cán bộ
6
ĐHSP
Đại học sư phạm
7
GDQP
Giáo dục quốc phòng
8
GD ĐT
Giáo dục và đào tạo
9
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
10
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
16
TDTT
Thể dục thể thao
17
TNCSHCM
Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh
18
SV
Sinh viên
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
TT
Bảng 2.1
Bảng 2.2
Bảng 2.3
cho sinh viên học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Thực trạng kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức cho sinh viên
học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
của sinh viên học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Khảo nghiệm tính cần thiết biện pháp nâng cao hiệu quả quản
lý giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trung tâm Giáo dục quốc
phòng Hà Nội 2
Khảo nghiệm tính khả thi biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý
giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
45
Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
46
49
51
53
55
59
61
98
100
102
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết biện pháp
99
những thói hư tật xấu của xã hội cũ, mặt trái của mô hình kinh tế thị trường thời kỳ
quá độ ở nước ta. Giáo dục đạo đức là hoạt động giáo dục về nhận thức đạo đức và
hoạt động thực hành đạo đức cho sinh viên. Về phương diện hoạt động giáo dục
nhận thức, các hình thức giáo dục chủ yếu là giảng giải, truyền đạt những tri thức về
đạo đức, những yêu cầu chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội, gia đình.
Trong thời kỳ đổi mới, do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường cũng như của
xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu,
một bộ sinh viên ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, như phai
nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích
2
hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn
hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật ... làm ảnh hưởng đến những quan
điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên, nhất là khi chưa được
trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này. Những hiện tượng đó, trước hết là nguy
cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sự phát triển theo
hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay. Mặt khác, cũng cần
nói rằng, các thế lực thù địch đang 'chờ đợi' và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những
hiện tượng đó để tiến hành chiến lược 'diễn biến hòa bình' hòng chống phá và ngăn
chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Nghị quyết Trung ương lần thứ Hai của Đảng khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt
đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức,
mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì
tương lai của bản thân và đất nước. Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục
tư tưởng đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh… tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể
thao phù hợp với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”. Thông báo kết luận
của Bộ chính trị về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 2 (khóa VIII), phương
hướng phát triển giáo dục đào tạo đến năn 2020 có viết: “...việc giáo dục tư tưởng
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho sinh viên học GDQP-AN ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2; luận
văn đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục
đạo đức cho sinh viên.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên
- Khảo sát, phân tích thực trạng của việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho sinh viên học GDQP-AN ninh ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh
viên học GDQP-AN ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên học
GDQP-AN ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2
4.3. Khách thể khảo sát
Tổng số khách thể khảo sát là: 285 người, bao gồm:
- Lãnh đạo Trung tâm và cán bộ quản lý, giáo viên là 35 người
- Sinh viên là 250 người
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
5.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra bằng phiếu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
hội có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh
và chịu sự chi phối của tồn tại xã hội. Nếu tồn tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng
thay đổi theo. Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Nghiên cứu về giáo dục đạo đức
Ở phương Đông thời cổ đại, Khổng Tử (551-479 TCN) là nhà triết học nổi
tiếng của Trung Quốc đồng thời là nhà đạo đức học khai sinh Nho giáo. Ông coi
trọng vai trò của giáo dục đạo đức và quan niệm có tính hệ thống về phương pháp
giáo dục cũng như về tâm lý giáo dục. Nội dung và mục tiêu chủ yếu của GD Nho
giáo được ghi trong Tứ thư và Ngũ kinh. Nhưng cụ thể và tập trung nhất là nêu
trong Luận ngữ (sách ghi lời nói, việc làm của Khổng tử và của một số môn đồ) là
bồi theo tôn chỉ của Nho gia. Khổng tử quan niệm sự hiểu biết không phải là sinh ra
đã có sẵn mà phải kết hợp chặt chẽ việc truyền thụ tri thức văn hóa với việc rèn
luyện phẩm chất đạo đức. Như vậy, Khổng tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức
là ưu tiên số một. Ông từng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói
thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp trọng hơn lời giảng (Thân giáo trọng ư
6
ngôn giáo). Ông xây dựng học thuyết “Nhân - Trí - Dũng”, trong đó, “ Nhân” là
lòng thương người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng
trên lập trường coi trọng giáo dục đạo đức, ông có chủ trương nổi tiếng truyền lại
đến ngày nay “Lễ trị”. Lấy “Lễ” để ứng xử ở đời. Muốn vậy , mỗi người phải biết tu
thân làm gốc.[13, tr.33].
Thế kỷ XVII, Komenxky (1592-1670) - Nhà giáo dục vĩ đại của Tiệp Khắc
đã có nhiều đóng góp cho công tác giáo dục đạo đức qua tác phẩm “Khoa sư phạm
vĩ đại”. Ông đã đề ra nhiều biện pháp cụ thể trong việc giáo dục làm cơ sở cho nền
giáo dục hiện đại sau này. Komensky có khả năng như là bẩm sinh trong việc nắm
bắt tâm lý trẻ em và hiểu được cả những khía cạnh tinh vi nhất của tâm hồn trẻ. Ông
nhấn mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ
em như những cây non trong vườn ươm: “Để cây đó lớn lên một cách lành mạnh,
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Phải khẳng định rằng đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất của nhân cách.
Vì vậy việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là nhiệm vụ của các cấp chính quyền,
các nhà giáo dục và của toàn xã hội. Việt Nam là đất nước có truyền thống dân tộc
với nhiều giá trị tốt đẹp, đã trở thành những giá trị triết học Việt Nam. Đó là
phương châm: “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn”, “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau
cùng”, là “Tiên học lễ, hậu học văn”, “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”, là “Cái nết đánh
chết cái đẹp”...Từ các triều đại phong kiến trước đây, các giá trị truyền thống tốt
đẹp của dân tộc đã được lưu vào sử sách, trở thành những nội dung giảng dạy trong
các trường học thời bấy giờ.
Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nước ta có nhiều sách dạy về luân
lý, dạy làm người, dạy giao tiếp. Đó là của các tác giả: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của, Đỗ Thận, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Hữu Độ, Lê Văn Siêu, Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng... Các tác phẩm được dùng làm
sách giáo khoa, sách dùng cho người dạy, sách đọc ở nhà... Trong đó có “Phong hóa
điều hành”, “Cờ bạc nha phiến”, “Huấn nữ ca” (dịch), “Gia huấn ca” (dịch) của
Trương Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Đạo đức và luân lý” của
8
Phan Chu Trinh. [29, tr.24]. Có thể kể đến một số nghiên cứu về đạo đức, giáo dục
đạo đức, quản lý giáo dục giáo dục đạo đức như sau:
Nghiên cứu về đạo đức
Phan bội Châu, trong tác phẩm “Khổng học đăng”, với quan điểm tiến bộ đã
đúc kết những tinh hoa của Khổng học, chắt lọc tính nhân bản sâu sắc, phát huy
những phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và xã hội. Nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín, dũng, liêm là những đức tính cần phải được mọi người trau dồi,
học tập, nhất là thế hệ thanh niên.
Phan Chu Trinh, với “Đạo đức và luân lý” (Bài nói chuyện sau in thành sách
- Tác giả Đặng Vũ Hoạt với bài “Đổi mới công tác của giáo viên chủ nhiệm
với việc giáo dục đạo đức cho học sinh”. [38].
- Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh
tế thị trường - Thái Duy Tuyên. Trong đó, tác giả đã nghiên cứu về định hướng giá
trị đạo đức của thanh niên.
- Giáo dục đạo đức - hệ thống giá trị tư tưởng nhân văn - Hà Nhật Thăng,
(1998)
- Tác giả Trần Thị Minh Hiển viết bài “ Cải tiến hình thức sinh hoạt tập thể
để nâng cao việc giáo dục đạo đức cho học sinh, sinh viên hiện nay”. Tạp chí
nghiên cứu giáo dục số 9/1998
- Tác giả Hồng Quân viết bài “ Giáo dục đạo đức công dân được xếp hạng
chín trên mười môn học”. Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 13/9/1999.
Nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức
- Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý và tổ
chức văn hoá - giáo dục, Trường ĐH Sư Phạm Hồ Chí Minh “Những biện pháp
quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các trường
THPT tỉnh Trà Vinh”, năm (2003)
- Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục: “Công
tác quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở các
trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp”, (2006)
- Tác giả Nguyễn Minh Hùng đã thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo
dục đạo đức cho sinh viên trường Học viện Hậu Cần (2007)” làm đề tài luận văn
10
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Trường ĐH Giáo dục - ĐH Quốc Gia Hà
Nội.
Trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta, đang trong quá trình hội nhập với
quốc tế và khu vực, việc giáo dục nhân cách mới cho học sinh là nhiệm vụ và là
mục tiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục đào tạo. Giáo dục nhân cách mới mà thời
thẳng thắn, có thái độ cầu thị, làm việc chí công vô tư, không kiêu ngạo, không giấu
dốt. Ở người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo
hành động, lối sống [33, tr.25].
Theo hai tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt thì đạo đức là một lĩnh vực của
ý thức xã hội, là một mặt hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên
biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh
hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu
cầu của xã hội điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung (của tập thể
,của xã hội) và lợi ích riêng (của cá nhân) nhằm bảo đảm trật tự xã hội và khả năng
phát triển xã hội và cá nhân. Để giải quyết các mâu thuẫn đó, một trong những
phương thức của xã hội là đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị,
được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập
quán, dư luận , lương tâm…[13, tr.36].
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức
ở hai góc độ:
- Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh
dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của
con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động và
con người với chính bản thân mình.
- Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách của con
người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ
trong các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và
với chính bản thân mình.
12
Theo chúng tôi thì “đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những
nguyên tắc và chuẩn mực xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho
phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của mình và sự tiến bộ của xã hội trong mối quan hệ
người và người và con người với tự nhiên”. [12, tr.68].
chọn về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm tác động đến đối tượng
nào đó, làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như
yêu cầu đề ra.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo dục là một hình thái ý thức
xã hội, giáo dục tồn tại và vận động, phiển theo sự tồn tại, vận động và phát triển
của xã hội. Giáo dục là một hiện tượng xã hội chịu sự chi phối và qui định bởi nhiều
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện về chất lượng giáo dục
là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền văn minh nhân loại.
Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân
cách, được tổ chức có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan
hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh
những kinh nghiệm của xã hội loài người.
Theo nghĩa hẹp: “giáo dục là hoạt động chuyên biệt nhằm hình thành những
phẩm chất, quan điểm,niềm tin cho con người về các phương diện đạo đức, thể chất,
thẩm mỹ, lao động”. [20, tr.56].
Trong luận văn này, “giáo dục được hiểu như một quá trình sư phạm tổng
thể: là hoạt động có kế hoạch, có nội dung, bằng các phương pháp khoa học trong
các cơ sở giáo dục tác động đến học sinh nhằm phát triển đức, trí, thể, mỹ…cho học
sinh, sinh viên”.
* Các chức năng của giáo dục:
- Chức năng văn hoá tư tưởng
- Chức năng kinh tế- sản xuất
- Chức năng chính trị- xã hội.
* Các con đường giáo dục: Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá
trên lớp và giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
14
1.2.1.3. Giáo dục đạo đức
15
của nhân loại; giúp cho thế hệ trẻ thấy được và biết giữ gìn những thành quả Cách
mạng. Vì thế, giáo dục đạo đức trong nhà trường chỉ có được kết quả khi nhà giáo
dục biết tổ chức phù hợp, hình thức đa dạng, phong phú, khơi dậy được tính tích
cực, chủ động sáng tạo và tự giáo dục của người học. Người học biết chuyển hoá
những cái tốt đẹp đó thành phẩm chất nhân cách của mình, phục vụ cho cuộc sống
xã hội.
Như vậy, “giáo dục đạo đức là những tác động sư phạm một cách có mục
đích, có hệ thống và có kế hoạch của nhà giáo dục tới người được giáo dục để bồi
dưỡng cho họ những phẩm chất đạo đức (chuẩn mực, hành vi đạo đức) phù hợp với
yêu cầu của xã hội”. [18, tr. 25].
1.2.2. Quản lý giáo dục và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Khái niệm quản lý
Từ khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã
được quan tâm. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động nhằm đạt
được hiệu quả cao hơn. Đó là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp
sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu
đề ra.
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở một giai đoạn phát triển của
nó. Thuộc tính này bắt nguồn từ bản chất của hệ thống của xã hội. Từ lao động tập
thể, lao động xã hội của con người. Ngay từ buổi sơ khai của xã hội loài người để
đương đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trì sự tồn tại của mình con
người phải lao động chung, kết hợp lại thành tập thể, điều đó đòi hỏi phải có sự tổ
chức, phải có phân công và hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định trong
lao động tức là phải có sự quản lý.
- Theo Từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động tác động có định hướng,
có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị
quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ
chức.
17
1.2.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
Từ điển giáo dục định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là
thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục (nghĩa rộng). Quản lý giáo dục chủ
yếu là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo
dục quốc dân (nghĩa hẹp).
- Quản lý giáo dục gồm hai mặt là:
Thứ nhất, Quản lý nhà nước về giáo dục
Thứ hai, Quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. Quản lý giáo dục là
việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục đào tạo trên cấp độ quốc gia,
vùng, địa phương và cơ sở.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có nhiều khái niệm
như sau:
- Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm mục
đích đảm bảo cho sự hình thành nhân cách thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng
những qui luật chung của xã hội cũng như các qui luật của quản lý giáo dục, của sự
phát triển tâm lý và thể lực của trẻ em”. [4, tr.18].
- Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác
động có mục đích, có kế hoạch, phù hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục)
nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện
được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ
là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất”. [40, tr.56].
Những khái niệm trên tuy có diễn đạt khác nhau nhưng tựu trung quản lý
giáo dục được hiểu là sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với qui luật
khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục
ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Sinh viên - là từ được dùng để chỉ những người đang học tập để nắm lấy
chuyên môn ở trình độ cao trong các trường đại học và cao đẳng, có những quyền
nhất định, đồng thời cũng có những nghĩa vụ nhất định. Sinh viên là những người