Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Sư PHẠM HÀ NỘI 2
03
EO SD
ĐOÀN VĂN SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO SINH VIÊN HỌC GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG - AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QƯÓC PHÒNG HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC sĩ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội, 2015
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Sư PHẠM HÀ NỘI 2
05 CQ 80
ĐOÀN VĂN SƠN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CHO SINH VIÊN HỌC GIÁO DỤC QUỐC
PHÒNG - AN NINH Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC
QƯÓC PHÒNG HÀ NỘI 2 HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã sổ: 6014 01 14
Tôi xin cam đoan rằng đề tài : “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho sinh viên học GDQP - AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2 hiện nay” đến
thời điểm hiện tại cũng chưa có công trình nghiên cứu nào về vấn đề này, nên
không có sự trùng lặp với các đề tài khác. Mọi kết quả, số liệu khảo sát điều tra
thu thập được là hoàn toàn chính xác, khách quan.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn
này đã được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ
nguồn gốc. Việc hoàn thành luận văn là sự nỗ lực rất lớn của bản thân.
Tác giả
Đoàn Văn Sơn
MỤC LỤC
Trang
STT
VIẾT TẲT
VIẾT ĐẦY ĐỦ
1
AN
An ninh
GDQP
Giáo dục quốc phòng
GD &ĐT
Giáo dục và đào tạo
9
GDĐĐ
Giáo dục đạo đức
10
GV
Giảng viên
11
KTX
Ký túc xá
12
13
LLVT
18
sv
Sinh viên
8
TT
Bảng 2.1
Nội dung
Thực trạng mục tiêu giáo dục đạo đức cho sinh viên học GDQPẢN Ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2.
Bảng 2.2 Thực trạng nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên học GDQPÂN Ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Thực trạng hĩnh thức giáo dục đạo đức cho sinh viên học
Bảng 2.3
GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Thực trạng phương pháp giáo dục đạo đức cho sinh viên học
Bảng 2.4
GDỌP-ÀN 0 Trung tam GDỌP Hấ Nội 2
Thực trạng lập kế hoạch nhằm giáo dục đạo đức cho sinh viên
Bảng 2.5 học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2
Bảng 2.6
Bảng 2.7
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Bảng 3.1
Bảng 3.2
102
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết biện pháp
99
Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi biện pháp
101
Biểu đồ 3.3 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi
103
7
MỞ ĐẦU
1. Lỷ do chọn đề tài
Đạo đức là một trong những hĩnh thái sớm nhất của ý thức xã hội bao gồm
những nguyên lý, quy tắc chuẩn mực điều tiết hành vi của con người trong quan hệ với
người khác và với cộng đồng. Đạo đức không phải là một phạm trù trừu tượng do tự
nhiên sinh ra, mà là một phạm trù lịch sử. Đạo đức ra đời, phát triển do nhu cầu của xã
hội, nhằm duy trì, phát triển quan hệ xã hội đã được xác lập.
Sinh viên là nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu của giáo dục là hĩnh thành, bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo những người lao động có nghề,
năng động và sáng tạo, có niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có ý chí vươn lên góp
phần thực hiện mục tiêu chung cho dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng,
văn minh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sinh viên hiện
nay có những ưu điểm căn bản là nhiệt tình cách mạng, có nhiều ước mơ, hoài bão cao
cách mạng Việt Nam.
Nghị quyết Trung ương lần thứ Hai của Đảng khóa VIII nhấn mạnh: “Đặc biệt
đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tĩnh trạng suy thoái về đạo đức, mờ
nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vĩ tương
lai của bản thân và đất nước. Trong những năm tới cần tăng cường giáo dục tư tưởng
đạo đức, ý thức công dân, lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh... tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hoá, thể thao phù hợp
với lứa tuổi và với yêu cầu giáo dục toàn diện”. Thông báo kết luận của Bộ chính trị
về việc tiếp tục thực hiện nghị quyết TW 2 (khóa VIII), phương hướng phát triển giáo
dục đào tạo đến năn 2020 có viết: “...việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lối sống, về
truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, về Đảng, về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân
cho học sinh, sinh viên chưa được chú ý đúng mức về cả nội dung và phương pháp...”
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 thuộc Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội II hiện đang đảm nhiệm giảng dạy môn GDQP-AN cho sinh viên của 16 trường
Đại học và Cao đẳng trên địa bàn thành phố Hà Nội, tỉnh Vĩnh Phúc và tỉnh Phú Thọ.
Nhận thức đúng tầm quan trọng của việc tổ chức quản lý nhằm nâng cao chất lượng
dạy học nói chung, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên nói riêng, những
năm qua Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã có nhiều biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục quốc phòng, trang bị cho sinh viên những
kiến thức, kỹ năng quân sự cần thiết, giáo dục cho sinh viên có ý thức quốc phòng đúng
đắn, nâng trách nhiệm công dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
9
Tuy nhiên chất lượng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức
cho sinh viên ở Trung tâm giáo dục quốc phòng Hà Nội 2 còn nhiều hạn chế và chưa
thực sự được coi trọng; quá trĩnh quản lí tổ chức và thực hiện còn bộc lộ một số hạn
chế bất cập như: Đội ngũ cán bộ quản lí khung sinh viên không chuyên trách thường
phải kiêm nhiệm làm nhiều công việc khác nhau, sự phối họp giữa các phòng, khoa
chức năng trong Trung tâm có lúc còn chưa chủ động phối hợp. Các hoạt động tổ chức
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên học
1
0
GDQP-AN ở Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Trung tâm Giáo dục quốc phòng Hà Nội 2
4.3.
Khách thể khảo sát
Tổng số khách thể khảo sát là: 285 người, bao gồm:
-
Lãnh đạo Trung tâm và cán bộ quản lý, giáo viên là 35 người
-
Sinh viên là 250 người
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1.
Sử dụng các công thức toán thống kê như tính tần suất, điểm trung bĩnh, hệ số
tương quan... để định lượng kểt quả nghiên cứu của luận văn.
6. Giả thuyết khoa học
Trong thời gian qua mặc dù Ban Giám đốc Trung tâm GDQP Hà Nội 2 đã
quan tâm và áp dụng một cách đồng bộ quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh
viên học GDQP-AN ở Trung tâm GDQP Hà Nội 2, nhưng giáo dục đạo đức và quản
lý hoạt động giáo dục đạo đức cho sinh viên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập cần được
giải quyết. Neu việc quản lý giáo dục đạo đức được thực hiện trên cơ sở khoa học thì
chất lượng công tác Quản lý giáo dục đạo đức cho sinh viên học GDQP-AN ở Trung
tâm GDQP Hà Nội 2 nói riêng sẽ được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo
dục đào tạo môn học GDQP-AN ninh nói chung.
Chương 1
Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
1
1
CHO SINH VIÊN HỌC GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH
1.1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về đạo đức
ở phương Tây, nhà triết học Socrate (469-399 TCN) cho rằng cái gốc của đạo
đức là tính thiện. Bản tính con người vốn thiện, nếu tính thiện ấy được lan toả thi con
người sẽ có hạnh phúc. Theo ông, muốn xác định được chuẩn mực đạo đức phải bằng
dục hiện đại sau này. Komensky có khả năng như là bẩm sinh trong việc nắm bắt tâm
lý trẻ em và hiểu được cả những khía cạnh tinh vi nhất của tâm hồn trẻ. Ông nhấn
mạnh việc tôn trọng con người phải bắt đầu từ ý thức tôn trọng trẻ em, bởi trẻ em như
những cây non trong vườn ươm: “Đe cây đó lớn lên một cách lành mạnh, nhất thiết
phải được sự quan tâm, chăm sóc, tưới bón, tỉa tót...” [13, tr.67]. Komensky có một
quan niệm triết lý nổi bật về sự hòa nhập giữa con người và thế giới tự nhiên và ông
cực lực phản đối việc dùng bạo lực đối với trẻ em. Ông kêu gọi các bậc cha mẹ, các
nhà giáo và tất cả những ai làm nghề nuôi dạy trẻ: “Hãy mãi mãi là một tấm gương
trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một
cách chân chính...”. Ông coi những trẻ em yếu kém về học tập và hạnh kiểm như là
những trái chín muộn, nếu ta biết cách giáo dục và kiên trì giáo dục thì cũng sẽ đem lại
kết quả tốt đẹp. Nhà giáo bằng thái độ trân trọng, kiên nhẫn, hoàn toàn có thể xóa bỏ ở
học sinh những thói xấu, những mặc cảm và khơi dậy những tiềm năng của các em.
[13, tr.82].
Nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức
V.A Xukhomlinxky, nhà giáo dục lớn người Nga cũng rất quan tâm đến
những biện pháp quản lý đạo đức cho học sinh, đóng góp nhiều lí luận, kinh nghiệm
giáo dục thế hệ trẻ. Với kinh nghiệm giảng dạy và giáo dục ở trường nông thôn
Pavlush ông cho rằng: dạy học trước hết là sự giao tiếp về tâm hồn giữa thầy và trò
“dạy trẻ phải hiểu trẻ, thương trẻ và tôn trọng trẻ.... Trong quá trình giáo dục, hình
thành nhân cách cho học sinh, ông quan tâm đặc biệt tới sự cân đối hài hòa giữa sự
phát triển xúc cảm, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ với sự phát triển trí tuệ, thể
chất, năng lực hoạt động xã hội, giao tiếp, kỹ năng lao động nghề nghiệp, kỹ thuật, ý
thức công dân XHCN. Ông đã có nhiều kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa quá
1
3
trình giáo dục và tự giáo dục, chủ đạo tác động của nhà sư phạm với chủ động, tự quản
rèn luyện của học sinh và tập thể học sinh, giải quyết hợp lí giữa giáo dục tập thể và
1
4
phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và xã hội. Nhân, nghĩa, lễ, trí,
tín, dũng, liêm là những đức tính cần phải được mọi người trau dồi, học tập, nhất là
thế hệ thanh niên.
Phan Chu Trinh, với “Đạo đức và luân lý” (Bài nói chuyện sau in thành sách
năm 1927) đã đề cao sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo ông, một
dân tộc muốn đứng lên không bị người ta chèn ép thi phải có một nền đạo đức vững
chặt, đó là cái chất của dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử... [33, tr.28].
Như vậy, mặc dù dựa trên các quan điểm tiếp cận khác nhau, từ các nhà lãnh
đạo đến các học giả, các sĩ phu yêu nước, những nhà nghiên cứu đều rất coi trọng việc
giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
Nghiên cứu về giáo dục đạo đức
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và giáo dục
đạo đức cho cán bộ và học sinh. Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng
của người cách mạng. Quan điểm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có nghĩa là
tuyệt đối hoá mặt đạo đức mà coi nhẹ mặt tài năng. Đức là gốc, nhưng đức và tài phải
kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia.
Chính vĩ vậy, cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân cán bộ
đảng viên và các tầng lớp nhân dân, Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm đến việc
giáo dục đạo đức cho mọi người. Bác còn căn dặn Đảng ta phải chăm lo giáo dục đạo
đức cách mạng cho đoàn viên và thanh niên, học sinh thành những người thừa kể xây
dựng CNXH vừa “hồng” vừa “chuyên”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi nội dung cơ bản
trong quan điểm đạo đức cách mạng là: trung với nước, hiếu với dân; cần kiệm liêm
chính, chí công vô tư; yêu thương con người; có tinh thần quốc tể trong sáng.[33,
tr.45].
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công
phu. Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiêm; giáo trĩnh đạo đức học, GS - TS
nghiên cứu giáo dục số 9/1998
-
Tác giả Hồng Quân viết bài “ Giảo dục đạo đức công dân được xếp hạng chỉn
trên mười môn học”. Báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 13/9/1999.
Nghiên cứu về quản lý giáo dục đạo đức
-
Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý và tổ
chức văn hoá - giáo dục, Trường ĐH Sư Phạm Hồ Chí Minh “Những biện
pháp quản lý hoạt động giảo dục đạo đức cho học sinh của Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh Trà Vinh”, năm (2003)
-
Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục: “Công tác
quản lý của Hiệu trưởng trong việc tố chức giảo dục đạo đức cho học sinh ở
các trường THPT huyện Châu Thành, Đằng Tháp”, (2006)
-
Tác giả Nguyễn Minh Hùng đã thực hiện đề tài “Biện pháp quản lý giáo dục
đạo đức cho sinh viên trường Học viện Hậu cần (2007)” làm đề tài luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Trường ĐH Giáo dục - ĐH Quốc Gia Hà Nội.
Trong giai đoạn hiện nay của đất nước ta, đang trong quá trĩnh hội nhập với
quốc tế và khu vực, việc giáo dục nhân cách mới cho học sinh là nhiệm vụ và là mục
tiêu cơ bản của sự nghiệp giáo dục đào tạo. Giáo dục nhân cách mới mà thời đại mới
ra đời, tồn tại và biến đổi từ nhu cầu xã hội. Nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành
vi của mình cho phù họp với lợi ích, hạnh phúc của con người và sự tiến bộ xã hội
trong mối quan hệ giữa con người với con người, giữa cá nhân với xã hội”. [12, tr.2325].
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin: “ Đạo đức là một hĩnh thái ý thức
xã hội, có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, phản ánh và
chịu sự chi phối của tồn tại xã hội”. [33, tr.14].
Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đạo đức là sự thống nhất trong tư tưởng và
phong cách. Người có đạo đức là người biết kính yêu nhân dân, khiêm tốn, thật thà,
thẳng thắn, có thái độ cầu thị, làm việc chí công vô tư, không kiêu ngạo, không giấu
dốt. ở người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo hành
động, lối sống [33, tr.25].
Theo hai tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt thi đạo đức là một lĩnh vực của
1
7
ý thức xã hội, là một mặt hoạt động xã hội của con người và là một hĩnh thái chuyên
biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh
hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu
cầu của xã hội điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung (của tập thể
,của xã hội) và lợi ích riêng (của cá nhân) nhằm bảo đảm trật tự xã hội và khả năng
phát triển xã hội và cá nhân. Đe giải quyết các mâu thuẫn đó, một trong những phương
thức của xã hội là đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị, được mọi
người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập quán, dư luận,
lương tâm...[13, tr.36].
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức ở
hai góc độ:
-
Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới
khả năng lựa chọn, đánh giá đúng đắn các hiện tượng đạo đức xã hội cũng như tự đánh
giá những suy nghĩ, những hành vi của bản thân minh để điều chỉnh hành vi của minh
theo đúng chuẩn mực đạo đức của xã hội.
1.2.1.2.
Khái niệm giáo dục
Con người từ khi xuất hiện, qua quá trình lao động, cải tạo tự nhiên đã phát
hiện và nhận thức được các qui luật phát sinh, tồn tại và phát triển của thế giới khách
quan và cũng qua quá trình này con người đã tích luỹ được kinh nghiệm sống, lao
động và những hiểu biết của quá trình phát triển của xã hội. Những tri thức và kinh
nghiệm của thế hệ đi trước tích luỹ được, thế hệ sau lĩnh hội, kế thừa có chọc lọc và
phát triển. Đây là hiện tượng đặc thù chỉ xuất hiện ở xã hội loài người - hiện tượng
giáo dục. Hiện tượng này xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng.
Giáo dục có đặc trưng là tổ chức định hướng theo những mục đích và chuẩn
mực nhất định, được lựa chọn nội dung, phương pháp, hĩnh thức tổ chức và diễn ra
mang dấu ấn của từng thời kĩ lịch sử nhất định trong quá trình phát triển của từng xã
hội. Vậy giáo dục là hoạt động có mục đích được tổ chức có kế hoạch, được lựa chọn
về nội dung, phương pháp thực hiện có hệ thống nhằm tác động đến đối tượng nào đó,
làm cho đối tượng đó dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề
ra.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo dục là một hĩnh thái ý thức
xã hội, giáo dục tồn tại và vận động, phiển theo sự tồn tại, vận động và phát triển của
xã hội. Giáo dục là một hiện tượng xã hội chịu sự chi phối và qui định bởi nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội.
Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện về chất lượng giáo dục
1
Các con đường giáo dục: Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên
lớp và giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
1.2.1.3. Giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một quá trình giáo dục bộ phận của quá
trình sư phạm tổng thể, có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ phận khác
như: giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao động, giáo dục
hướng nghiệp...
Giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là quá trình hĩnh thành và phát triển các phẩm
chất đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục đích
được tổ chức có kế hoạch, có sự lựa chọn về nội dung, phương pháp và hĩnh thức giáo
dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục. Từ đó, giúp thế hệ
trẻ có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá
nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên... Nội dung phẩm chất đạo
2
0
đức, tư tưởng của con người bao gồm lập trường chính trị, thế giới quan và phẩm chất
đạo đức. Do đó, giáo dục đạo đức mà ta nói đến bao gồm giáo dục thế giới quan, nhân
sinh quan, giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục các phẩm chất đạo đức cao đẹp của
con người mới cho thế hệ trẻ.
Như vậy, giáo dục đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị, tư
tưởng và giáo dục pháp luật. Đó một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp
về không gian, từ mọi lực lượng xã hội; trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan
trọng.
Bản chất của giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể
giáo dục và yểu tố tự giáo dục của học sinh, sinh viên, giúp học sinh chuyển những
chuẩn mực, qui tắc, nguyên tắc đạo đức... từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái
các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý là một thuộc tính gắn liền với xã hội ở một giai đoạn phát triển của
nó. Thuộc tính này bắt nguồn từ bản chất của hệ thống của xã hội. Từ lao động tập thể,
lao động xã hội của con người. Ngay từ buổi sơ khai của xã hội loài người để đương
đầu với sức mạnh to lớn của tự nhiên, để duy trĩ sự tồn tại của mình con người phải
lao động chung, kết hợp lại thành tập thể, điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có
phân công và họp tác nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định trong lao động tức là
phải có sự quản lý.
- Theo Từ điển giáo dục học, quản lý là hoạt động tác động có định hướng, có
chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) den khách thể quản lý (người bị quản lý)
trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.
-
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể quản lý đến tập thể của những người lao động (nói chung là khách thể
quản lý ) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. [24, tr.22].
-
Theo Đặng Quốc Bảo: Công tác quản lý lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là
thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình
“Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái ổn định, quá trình “Lý”
gồm việc sửa sang sắp xếp, đổi mới đưa vào thế “phát triển”. [24, tr. 26].
-
Theo các thuyết quản lý hiện đại thì:”Quản lý là quá trình làm việc với và
thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một
môi trường luôn biến động”.
Qua các khái niệm trên về quản lý, chúng ta có thể quan niệm về quản lý như
Chức năng chỉ đạo
-
Chức năng kiểm tra
Ngoài ra, còn chức năng điều chỉnh báo cáo
1.2.2.2.
Khái niệm quản lý giáo dục
Từ điển giáo dục định nghĩa khái niệm quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là
thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục (nghĩa rộng). Quản lý giáo dục chủ yếu
là quản lý giáo dục thế hệ trẻ, giáo dục nhà trường, giáo dục trong hệ thống giáo dục
quốc dân (nghĩa hẹp).
-
Quản lý giáo dục gồm hai mặt là:
Thứ nhất, Quản lý nhà nước về giáo dục
Thứ hai, Quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác. Quản lý giáo dục là
việc thực hiện và giám sát những chính sách giáo dục đào tạo trên cấp độ quốc gia,
vùng, địa phương và cơ sở.
Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục có nhiều khái niệm
như sau:
-
Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế
hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau nhằm
mục đích đảm bảo cho sự hĩnh thành nhân cách thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức
quan trọng nhất của nhân cách, là nền tảng để xây dựng thế giới tâm hồn của mỗi con
người. Chính vĩ vậy, hĩnh thành trong người học ý thức, tình cảm và niềm tin đạo đức,
có những thói quen, hành vi đạo đức đáp ứng yêu cầu của toàn xã hội là trách nhiệm
của nhà quản lý.
Giáo dục đạo đức là quá trình hĩnh thành và phát triển ý thức, tình cảm, niềm
tin, hành vi và thói quen đạo đức của học sinh dưới những tác động có mục đích, có kế
hoạch được lực chọn về nội dung phương pháp, phương tiện phù hợp với đối tượng
giáo dục và sự phát triển kinh tế xã hội nhất định. Giáo dục đạo đức cho sinh viên là
một quá trình giáo dục bộ phận trong tổng thể cả quá trình giáo dục có quan hệ biện
chứng với các bộ phận giáo dục khác như: giáo dục trí tuệ, thẩm mỹ, thể chất, giáo dục
2
4
lao động và hướng nghiệp, giúp sinh viên hĩnh thành và phát triển nhân cách toàn
diện.
Như vậy, chúng ta có thể định nghĩa công tác quản lý giáo dục đạo đức là quá
trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thế quản lý đến các hoạt động giảo
dục đạo đức,sự tác động có ỷ thức của chủ thế quản lý tới khách thế quản lý bằng các
biện pháp hiệu quả nhẩt nhằm đưa hoạt động giảo dục đạo đức đạt tới kết quả mong
muốn.
1.3. Đặc điểm tâm lý sinh viên học Giáo dục quốc phòng - An ninh
1.3.1.
Vị trí và giai đoạn phát triển tâm lý lứa tuổi sinh viên
Sinh viên - là từ được dùng để chỉ những người đang học tập để nắm lấy
chuyên môn ở trình độ cao trong các trường đại học và cao đẳng, có những quyền nhất
định, đồng thời cũng có những nghĩa vụ nhất định. Sinh viên là những người
của nhóm xã hội đặc biệt, nhóm người đang chuẩn bị kiến thức và kinh nghiệm để bước
ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên là
sự phát triển tự ý thức. Nhờ có tự ý thức phát triển, sinh viên có những hiểu biết, thái
độ, có khả năng đánh giá bản thân để chủ động điều chỉnh sự phát triển bản thân theo
hướng phù hợp với xu thế xã hội. Lúc này,
ở sv
đã bước đầu hình thành thể giới
quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày. Sinh viên
là những trí thức tương lai, ở các em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt. Học
tập ở đại học là cơ hội tốt để sv được trải nghiệm bản thân, vĩ thế, sinh viên rất thích
khám phá, tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thể mạnh của bản thân,
thích học hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thử
thách để khẳng định mình.
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này là tình cảm ổn định của sinh
viên, trong đó phải đề cập đến tĩnh cảm nghề nghiệp - một động lực giúp họ học tập
một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn.
Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người. Họ là lóp
người giàu nghị lực, giàu ước mơ và hoài bão. Tuy nhiên, do quy luật phát triển không
đồng đều về mặt tâm lý, do những điều kiện, hoàn cảnh sống và cách thức giáo dục
khác nhau, không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu, độ chín muồi
trong suy nghĩ và hành động còn hạn chế. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào tính tích
cực hoạt động của bản thân mỗi sinh viên. Vĩ vậy, giáo dục đào đức trong thời kỳ này
rất quan trọng, giúp sinh viên định hướng đến giá trị cốt lõi, góp phần phát huy ưu
điểm và khắc phục những hạn chế về mặt tâm lý của sv.
Bên cạnh những mặt tích cực trên đây, mặc dù là những người có trình độ nhất
định, sinh viên không tránh khỏi những hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên. Đó là
sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động, đặc biệt, trong việc tiếp thu, học hỏi