MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội càng phát triển, càng phát sinh nhiều nguy cơ tiềm tàng cho sức
khỏe con người, đặc biệt là sức khỏe tâm trí. Nhiều người trong chúng ta có
thể tự mình vượt qua những khó khăn mà không cần tới sự trợ giúp của người
khác, nhưng cũng có không ít người không tìm được giải pháp, cá nhân có thể
sẽ tự hủy hoại bản thân và người khác, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Đối với tuổi thiếu niên là giai đoạn phát triển của trẻ từ 11 - 15 tuổi, các
em được vào học ở trường THCS (từ lớp 6 - 9). Lứa tuổi này có một vị trí đặc
biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ
chuyển tiếp từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những
tên gọi khác nhau như: “Thời kỳ quá độ", “Tuổi khó bảo“, “Tuổi khủng
hoảng", “Tuổi bất trị “..v.v
Thực tế chỉ ra rằng ở mỗi giai đoạn lứa tuổi các em có những vấn đề
tâm lý lứa tuổi riêng. Ở lứa tuổi học sinh THCS, tâm lý của các em thường
chưa ổn định, đôi khi các em tự trầm trọng hóa những vướng mắc của mình,
dẫn đến dễ chán nản, bất lực. Bên cạnh đó, trước sự phát triển nền kinh tế,
văn hóa, xã hội với nhiều biến động của nền kinh tế thị trường, đô thị hóa, sự
phát triển của công nghệ thông tin, sức ép của nhà trường, gia đình..v.v đã đặt
ra những yêu cầu ngày càng cao đối với các em. Mặt khác, kỳ vọng quá cao
của cha mẹ, thầy cô đang tạo nên áp lực rất lớn và gây căng thẳng cho học
sinh trong cuộc sống và trong học tập. Trong khi đó, sự hiểu biết của các em
về bản thân cũng như kỹ năng sống của các em vẫn còn nhiều hạn chế.
Một bộ phận không nhỏ các em lứa tuổi học sinh đang gặp phải những
vấn đề về tâm lý. Nhu cầu được đồng cảm, chia sẻ, định hướng và chăm sóc
tâm hồn của các em đã và đang trở thành vấn đề hiện hữu, mang tính phổ biến
và bức xúc trong xã hội. Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập,
1
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng nhu cầu được hỗ trợ TLHĐ của học
sinh THCS trường THCS trên 7 lĩnh vực: (1) Học tập; (2) Phát triển tâm
sinh lý của bản thân; (3) Giao tiếp/ứng xử; (4) Quan hệ với thầy cô giáo; (5)
Quan hệ với cha mẹ/người thân; (6) Tình bạn khác giới/tình yêu; (7) Định
hướng nghề nghiệp.
4.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
130 học sinh thuộc các khối lớp 6,7,8,9; 120 phụ huynh và 30 giáo viên
trường THCS xã Vĩnh Khúc.
4.3. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Trường THCS xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên.
5. Giả thuyết khoa học
Học sinh trường THCS xã Vĩnh Khúc có nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường
cao trong 4 lĩnh vực chủ yếu đó là: Học tập; Phát triển tâm sinh lý; Quan hệ với
cha mẹ; Tình bạn khác giới/tình yêu; 3 lĩnh vực: Giao tiếp/ứng xử; Quan hệ với
thầy cô giáo và định hướng nghề nghiệp; các em cũng có nhu cầu được hỗ trợ
TLHĐ nhưng không nhiều.
Có sự khác biệt về nhu cầu hỗ trợ TLHĐ giữa học sinh các khối lớp, giữa
học sinh nam với học sinh nữ; Có sự khác biệt về nhận định khó khăn và nhu cầu
TLHĐ ở HS của HS, GV, PH. Thực trạng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ TLHĐ từ phía
gia đình là tốt nhất, tiếp sau đó là từ phía nhà trường và xã hội.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản có liên quan đến TLHĐ;
Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ của HS THCS.
6.2. Khảo sát thực trạng nhu cầu hỗ trợ TLHĐ của học sinh THCS và
mức độ đáp ứng nhu cầu này cho các em từ phía gia đình và nhà trường;
Những nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến nhu cầu hỗ trợ TLHĐ
của học sinh THCS.
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ NHU CẦU HỖ TRỢ TÂM LÝ
HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH THCS
1.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường
Tâm lý học đường (TLHĐ) hay còn gọi là tâm lý học trường học
(TLHTH), là lĩnh vực tâm lý quan tâm tới sự phát triển tinh thần, cảm
xúc và xã hội của trẻ em và thanh thiếu niên trong môi trường sống của
các em từ nhà trường, gia đình đến xã hội.
Trên thế giới, có không ít các nghiên cứu về TLHĐ cũng như nhu cầu
TLHĐ. Nhiều công trình tập trung nghiên cứu về tham vấn TLHĐ. Vào
khoảng cuối thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX, một số lý thuyết tâm lý ra đời và
phát triển đánh dấu một bước ngoặt thật sự có ý nghĩa cho sự ra đời của công
tác tham vấn tâm lý.
Đến nay, mặc dù chưa có mã ngành, mã nghề TLHTH ở Việt Nam song rất
nhiều nghiên cứu về các vấn đề TLHĐ ở những góc độ khác nhau. Vấn đề được
tập trung nghiên cứu nhiều nhất là nhu cầu tham vấn tâm lý, nhu cầu tâm lý học
đường, những khó khăn tâm lý cần được trợ giúp của học sinh, sinh viên.
Những nghiên cứu trong khuôn khổ các luận án tiến sĩ Tâm lý học tại
Viện tâm lý học, luận văn thạc sĩ tâm lý học tại khoa Tâm lý học, Đại học
KHXH & NV được thực hiện đều đề cập đến nhiều khía cạnh về TLHĐ như:
động cơ học tập của học sinh, sinh viên, phát triển trí tuệ của trẻ Mẫu giáo,
lớp 1, khó khăn tâm lý của trẻ, tính người lớn của học sinh THCS, giao tiếp
giữa cha mẹ và con cái... [19]
Hiện nay, các nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ tâm lý học đường trong nước và
ngoài nước đã và đang có nhiều xu hướng quan tâm đến việc đưa TLHĐ vào trong
nhà trường với mong muốn hỗ trợ nhu cầu TLHĐ thực sự cho số lượng lớn học
sinh sinh viên đang gặp những vướng mắc khó khăn tâm lý khó giải quyểt.
6
con người, một nhóm xã hội hoặc toàn bộ xã hội nói chung. Nhu cầu là động cơ
bên trong của tính tích cực [7].
Nhà tâm lý học xô viết A.G.Covaliop cho rằng: “ Nhu cầu là sự đòi hỏi
của các cá nhân và nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định
để sống và để phát triển. Nhu cầu quy định sự hoạt động xã hội của cá nhân,
các giai cấp và tập thể” [2].
Abraham Maslow (1908 - 1970) - Nhà tâm lý học Mỹ đại diện cho
trường phái tâm lý học nhân văn, với lý thuyết Phân bậc nhu cầu đã nhận định
rằng: “Khi một nhu cầu được thỏa mãn thì nó không còn là động lực thúc đẩy.
và những nhu cầu cơ bản của con người được ông xác định theo cấp tăng dần
và thể hiện trong các mức độ khác nhau”.
B.Ph. Lomov nhà tâm lý học Nga nổi tiếng cho rằng: “Nhu cầu cá nhân
là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho
việc tồn tại và phát triển. Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình
xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của
mình. Dĩ nhiên, nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một
cái gì đó nằm ngoài cá nhân” [20]
A.N.Lêônchiep (1903 - 1979) - nhà tâm lý học Nga cho rằng: “Nhu cầu
là một trạng thái của con người cần một cái gì đó cho cơ thể nói riêng. Nhu
cầu luôn có đối tượng, có thể là vật chất hoặc tinh thần chứa đựng khả năng
thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu có vai trò định hướng, là động lực bên trong kích
thích hoạt động của con người” [1]
Theo từ điển tiếng Việt - Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con
người; Là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và
tinh thần để tồn tại và phát triển.
Trên cơ sở phân tích các quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu
động thì đối tượng của nhu cầu mới được bộc lộ và đáp ứng nhu cầu. Chỉ có
thông qua hoạt động có đối tượng nhu cầu mới được cụ thể hóa về mặt tâm lý
học và mới được thỏa mãn. Chính vì lẽ đó mà nhu cầu luôn có mối liên hệ
mật thiết với động cơ. Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thỏa mãn trong quá trình
chủ thể tiến hành hoạt động tương ứng.
8
d) Trạng thái ý chí xúc cảm
Nhu cầu thường đi kèm với các trạng thái ý chí, cảm xúc, đặc biệt khi
nhu cầu ở mức độ cao. Những trạng thái cảm xúc tiêu biểu như tính hướng
dẫn của một đối tượng có liên quan đến một nhu cầu nhất định, sự không hài
lòng hoặc thậm chí đau khổ khi nhu cầu không được thỏa mãn. Trạng thái ý
chí-cảm xúc thúc đẩy hoạt động tìm kiếm cách thức cần thiết nhằm thỏa mãn
nó. Chính vì vầy, nhu cầu trở thành một trong những động cơ mạnh mẽ thúc
đẩy chủ thể hoạt động nói chung và thực hiện các hành vi ý chí nói riêng.
Tóm lại bản chất của nhu cầu là sự đòi hỏi của chủ thể về một đối tượng
nào đó.. Nó là nguồn gốc của tính tích cực đồng thời được bộc lộ thông qua
tính tích cực của chủ thể. Hoạt động là phương thức thỏa mãn nhu cầu. Mặt
khác thông qua hoạt động nhu cầu và cả hoạt động của con người cũng không
ngừng được phát triển.
1.2.1.3. Mối quan hệ của Nhu cầu với một số thành tố xu hướng của
nhân cách
a) Nhu cầu và động cơ
Nhu cầu có quan hệ chặt chẽ với động cơ. Bất cứ hoạt động nào của chủ thể
cũng có động cơ. Đây là thành phần không thể thiếu, đóng vai trò thúc đẩy hoạt
động của chủ thể. Khi quan niệm nhu cầu là những đòi hỏi về vật chất, tinh thần
của cá nhân, cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển, mà chỉ có thể thỏa mãn
được bằng hoạt động chiếm lĩnh đối tượng của chính cá nhân đó, thì mặc nhiên
của hành vi, quyết định lối sống của chủ thể. Định hướng giá trị và nhu cầu của
chủ thể có mối quan hệ biện chứng, trong đó nhu cầu quyết định sự hình thành,
phát triển của định hướng giá trị. Ngược lại định hướng giá trị lại là cơ sở bên
trong quyết định sự lựa chọn đối tượng cũng như phương thức thỏa mãn nhu cầu.
d) Nhu cầu và lý tưởng
Nhu cầu là cơ sở của lý tưởng, còn lý tưởng là biểu hiện ở mức độ cao
của nhu cầu. Lý tưởng là một hình ảnh mẫu mực, tương đối hoàn chỉnh, có
sức lôi cuốn con người vươn tới để đạt được. Nhờ có lý tưởng nên cá nhân
luôn có những cảm xúc tích cực trong quá trình hoạt động để tìm kiếm đối
tượng thỏa mãn nhu cầu cá nhân.
10
1.2.1.4. Phân loại Nhu cầu
Thông thường, người ta căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu để phân
chia các nhu cầu thành hai loại, đó là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Theo B.Ph.Lomov, các nhu cầu được chia thành nhu cầu nền tảng và nhu
cầu thứ phát. Nhu cầu nền tảng liên quan đến điều kiện vật chất, phương tiện
sống và nhu cầu giao tiếp, nhận thức, hoạt động và nghỉ ngơi. Trên cơ sở các
nhu cầu nền tảng đó, nhu cầu thứ phát được hình thành. Chúng liên quan đến
nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu học tập. Mỗi nhu cầu nền tảng hay thứ phát lại có
cấp độ khác nhau.
Theo C.M. Clelland thì nhu cầu được chia làm ba loại cơ bản:
- Nhu cầu về quyền lực: Nhu cầu này thúc đẩy cá nhân thực hiện những
hoạt động tạo ra ảnh hưởng đối với người khác.
- Nhu cầu liên kết: Cá nhân mong muốn được yêu mến, được tham gia
vào các nhóm, tập thể …
- Nhu cầu về sự thành đạt: Cá nhân luôn mong muốn thành công trong
công việc, trong cuộc sống, khó chấp nhận sự thất bại.
cơ sở kế thừa và phát triển. Ý hướng là cơ sở của ý muốn, ý muốn kế thừa và
phát triển ở mức độ cao hơn so với ý hướng, và mức độ của ý định là sự
chuyển tiếp của ý hướng lên ý muốn và từ ý muốn lên ý định.
12
1.2.1.6. Sự hình thành Nhu cầu
Quan điểm của các nhà tâm lý học phương Tây cho rằng nhu cầu sinh
vật sẽ quyết định đến nhu cầu xã hội. Nhu cầu sinh vật là cơ bản và mang tính
bẩm sinh, con người không thể ý thức và can thiệp bằng ý chí.
Các nhà tâm lý học Macxit muốn khẳng định mối quan hệ chặt chẽ giữa nhu
cầu và hoạt động: “Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực của hoạt động, nhưng bản
thân nhu cầu lại được nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt động” [6].
A.N.Leonchiev đã giải thích về mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động:
“Thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện như một điều kiện, một tiền đề cho hoạt
động. Nhưng khi chủ thể hoạt động thì sẽ xảy ra sự biến hóa của nhu cầu. Sự
phát triển của hoạt động mạnh bao nhiêu thì sự chuyển hóa nhu cầu thành kết
quả của hành động càng mạnh mẽ bấy nhiêu”.
Theo A.N.Leonchiev, bản thân thế giới đối tượng đã hàm chứa tiềm tàng
những nhu cầu nên trong quá trình chủ thể hoạt động tích cực sẽ nhận thức
được các đòi hỏi cần đáp ứng để tồn tại và phát triển, tức là xuất hiện nhu cầu
mới. Thông qua hoạt động, con người thỏa mãn nhu cầu hiện tại và trên cơ sở
đó nảy sinh nhu cầu mới, thúc đẩy con người không ngừng tích cực hoạt động.
Như vậy, để hình thành nhu cầu về một đối tượng nào đấy, chúng ta phải
làm cho chủ thể có cơ hội làm quen với đối tượng, thực hiện hoạt động trong quá
trình đó, chủ thể có điều kiện thấy được ý nghĩa của đối tượng với cuộc sống bản
thân, từ đó hình thành mong muốn về đối tượng, nhu cầu sẽ xuất hiện.
1.2.2. Tâm lý học đường ( Tâm lý học trường học)
1.2.2.1. Khái niệm Tâm lý học đường
Hội nghị quốc tế lần 2 về tâm lý học đường ở VN đã cho rằng: “Tâm lý
học đường là chuyên ngành khoa học hướng hoạt động nghiên cứu và ứng
dụng của mình đến mục tiêu giải quyết những vấn đề tâm lý nảy sinh trong
môi trường học đường” [21].
Dựa trên những tài liệu và các nghiên cứu của các cán bộ tâm lý học
đường có uy tín hiện nay, các chuyên gia tâm lý học đường đã thống nhất
14
đưa ra một số khái niệm thường gặp và đang được sử dụng rộng rãi trong lĩnh
vực tâm lý học đường:
Tâm lý học trường học (TLHTH hay TLHHĐ) là một chuyên ngành thực
hiện công việc đánh giá (phòng ngừa) nhằm phát hiện những học sinh có thể có
khó khăn về nhận thức, cảm xúc, xã hội hay hành vi; phát triển và thực hiện các
chương trình can thiệp tâm lý học sinh; cố vấn học sinh; tham gia phát triển và
lượng giá chương trình; nghiên cứu, giảng dạy, hỗ trợ và giám sát cho những
người đang học nghề.
Ngày 14/01/2011, Nhóm tác giả PGS. TS. Trần Thị Lệ Thu, TS. Lê văn
Hảo, TS. Lê Nguyên Phương, GS. TS. Brent Duncan, TS. Đặng Hoàng Minh đề
xuất khái niệm TLHTH/TLHHĐ như sau:
“Tâm lý học trường học (hay còn gọi là Tâm lý học học đường) là một
chuyên ngành Tâm lý ứng dụng nhằm thực hiện công tác phát hiện sớm, phòng
ngừa và can thiệp cho trẻ em- thanh thiếu niên trong các lĩnh vực nhận thức,
học tập, hành vi, cảm xúc hoặc xã hội ở môi trường học đường, gia đình và
cộng đồng; đồng thời tham gia nghiên cứu, xây dựng, phát triển và lượng giá
các chương trình này” [9].
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn sử dụng khái niệm của nhóm
năm tác giả nói trên.
1.2.2.2. Bản chất và một số đặc điểm cơ bản của Tâm lý học đường
khác và phụ tá. Các can thiệp có thể được hướng vào việc phòng ngừa ban
đầu, giảm thiểu khó khăn một khi chúng xảy ra (ví dụ, phòng ngừa thứ phát),
và phòng ngừa những khó khăn có thể được dự kiến xảy ra trong một số năm.
TLHĐ là một chuyên ngành ứng dụng do vậy, cùng với công tác phòng
ngừa, phát hiện và can thiệp sẽ là những hoạt động cụ thể như nghiên cứu,
xây dựng, phát triển và lượng giá chính những chương trình phát hiện, phòng
ngừa và can thiệp này.
1.2.2.3. Công việc của nhà TLHĐ / Chuyên viên TLHĐ
1Vai trò của nhà TLHĐ là cộng tác với giáo viên, phụ huynh học sinh và
các cán bộ nhà trường để có thể trợ giúp tốt nhất cho sự phát triển của học
sinh về mặt tâm lý giáo dục.
16
2 a) Nhà TLHĐ làm việc với học sinh
3Ưng dụng tâm lý học và giáo dục học nhằm giúp các em học sinh, sinh
viên hay nói rộng hơn là trẻ em và thanh thiếu niên đang hưởng thụ giáo dục có
được điều kiện và cơ hội học tập cũng như phát triển bản thân tốt tới mức có thể
Phát hiện sớm những vấn đề tâm lý của học sinh. Hướng vào mọi trẻ em
và thanh thiếu niên trong môi trường giáo dục (các trường học, các cơ sở giáo
dục tư nhân, các tổ chức giáo dục khác trong xã hội v.v), phòng ngừa được
thực hiện trên toàn trường/toàn cơ sở giáo dục và cho mọi đối tượng khách
thể). Tham vấn cho những học sinh đang gặp khó khăn về cảm xúc, hành vi
và các vấn đề xã hội. Tức là (tham vấn, tư vấn, trị liệu) trong các lĩnh vực cụ
thể của trẻ em và thanh thiếu niên, đó là: nhận thức, học tập, hành vi, cảm xúc
hoặc xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng- những môi
trường thực hiện công tác giáo dục cho trẻ em- thanh thiếu niên.
4Hỗ trợ nâng cao thành tích học tập bằng cách đánh giá các rào cản trong
học tập để xác định chiến lược tốt nhất nhằm cải thiện giảng dạy/học tập. Thúc
diện về sức khỏe tâm thần
e) Nhà TLHĐ phối hợp với mạng lưới hỗ trợ:
1Phối hợp để cung cấp các dịch vụ cho học sinh và gia đình của họ trong
và ngoài trường học. Giúp học sinh từ nơi khác chuyển đến trường và học
sinh từ trường học về môi trường học tập cộng đồng, đảm bảo xây dựng môi
trường công bằng cho học sinh.
1.2.3. Nhu cầu hỗ trợ Tâm lý học đường
1.2.3.1. Khái niệm Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ
“Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ là những đòi hỏi, mong muốn và nguyện vọng
trong việc thực hiện phòng ngừa, phát hiện và can thiệp khó khăn tâm lý của
trẻ em và thanh thiếu niên trong các lĩnh vực nhận thức, hành vi, cảm xúc
hoặc xã hội ở môi trường học đường, gia đình và cộng đồng” [16].
1.2.3.2. Các loại nhu cầu hỗ trợ TLHĐ
a) Nhu cầu hỗ trợ phòng ngừa
Nhu cầu phòng ngừa phát sinh các rối nhiễu tâm lý ở học sinh còn thể hiện
ở việc đào tạo kĩ năng sống cho học sinh, sinh viên, các bậc phụ huynh đã và
đang rất được chú trọng ở nước ta hiện nay.
18
Trên thế giới, cụ thể là ở Mỹ, bên cạnh việc đánh giá, phòng ngừa, tư vấn
và trị liệu tâm lý, một nhiệm vụ quan trọng của các nhà TLHĐ là thiết kế và phụ
trách các chương trình tập huấn về kỹ năng xã hội, kỹ năng quản lý cơn giận dữ,
xây dựng trường học thân thiện, an toàn hay chương trình hỗ trợ riêng dành cho
những học sinh có nguy cơ thất bại học đường. Tại các thành phố lớn ở Việt
Nam đã có một số trường học hoặc lồng ghép, hoặc đưa kỹ năng sống vào
chương trình đào tạo như một môn học chính khóa.
b) Nhu cầu hỗ trợ phát hiện và can thiệp
thân, Nhu cầu được trợ giúp trong giao tiếp ứng xử, Nhu cầu được trợ giúp
trong quan hệ với bạn bè, Nhu cầu được trợ giúp trong quan hệ với cha
mẹ/người thân, Nhu cầu được trợ giúp trong quan hệ với thầy cô giáo, Nhu
cầu được trợ giúp trong quan hệ với bạn khác giới/người yêu, Nhu cầu được trợ
giúp trong định hướng nghề nghiệp.
1.2.4.2. Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ của HS THCS trong một số lĩnh vực
a) Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ trong lĩnh vực học tập
Trong những khó khăn các em thường gặp phải về học tập, nổi cộm lên là
các vấn đề liên quan đến chuyện học tập sút kém, về kết quả kì thi học sinh giỏi
sắp tới, về kì thi Tốt nghiệp, Đại học, định hướng nghề nghiệp..v.v. Ngoài ra, các
em còn gặp những khó khăn như: Khó lập kế hoạch học tập; Phương pháp học
tập chưa hiệu quả; Chưa có hứng thú học tập; Tình trạng học lệch; sức ép của gia
đình; Áp lực điểm số, thi cử; Lo lắng về năng lực bản thân (khả năng tiếp thu bài
còn hạn chế, tập trung chú ý chưa cao …); Lịch học dày đặc; Nội dung môn học
khó/yêu cầu học tập ngày càng cao/nhiệm vụ học tập khó khăn; Khó chấp nhận
phương pháp giảng dạy của giáo viên; Bị điểm kém nhiều lần.
b) Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ trong lĩnh vực phát triển tâm sinh lý bản thân
Ở lứa tuổi học sinh THCS, sự phát triển về tâm sinh lý phát triển mạnh
mẽ, có những bước nhảy vọt, có sự biến đổi lớn về tâm lý, ý thức cũng như
dần tiến đến sự ổn định hài hòa về mặt cơ thể. Trong sự phát triển tâm sinh lý
của bản thân, các em thường gặp những khó khăn như: Không có hiểu biết cơ
bản về sự phát triển tâm sinh lý của bản thân; Khó kiềm chế, khó làm chủ cảm
20
xúc, hành vi của bản thân; Không tự tin về hình ảnh bản thân; Hay so sánh
mình với người khác; Đánh giá quá cao về bản thân; Hay lo lắng vẩn vơ (về
sức khỏe, về các mối quan hệ xung quanh …); Tính tình thất thường (hay bối
rối, khó chịu, vui buồn vô cớ …); Lơ đễnh, thiếu tập trung; Có những thắc
em chịu sức ép vì gia đình có căng thẳng tâm lý (có tang/tai nạn/người đau
ốm…); Các em không muốn cha mẹ can thiệp quá nhiều vào những vấn đề cá
nhân; Các em bị ức chế vì cha mẹ hay trách mắng hay cha mẹ đề ra yêu cầu
quá cao; Gia đình có những bất hòa; Cha mẹ/ người thân xa cách.
f) Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ trong lĩnh vực quan hệ với bạn khác giới/người
yêu
Tình bạn khác giới là một trong những quan hệ có ảnh hưởng với các em.
Những khó khăn trong lĩnh vực này mà trẻ thường gặp phải như: Các em mong
muốn bạn khác giới biết tình cảm của mình, muốn chia tay vì có người mới;
Khó xây dựng tình bạn với bạn khác giới; Bị các bạn khác giới trêu chọc; bị gán
ghép/ghép đôi với bạn khác giới; Khó khăn trong giao tiếp, ứng xử với bạn khác
giới/người yêu; sợ người khác hiểu lầm khi mình chơi với bạn khác giới; Quá lo
lắng trong tình bạn khác giới/ tình yêu; Mất quá nhiều thời gian cho tình bạn
khác giới, tình yêu; Bị lạm dụng trong tình bạn khác giới/ tình yêu.
g) Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ trong lĩnh vực quan hệ với thầy cô giáo
Trong quan hệ với các thầy cô giáo, các em thường gặp phải những khó
khăn như: Không được thầy cô quan tâm, thấu hiểu; Cảm thấy thầy cô giáo xa
cách đến khó hiểu; Lo lắng, sợ hãi khi thầy cô kiểm tra bài hoặc khiển trách;
bất bình vì thầy cô giáo đối xử thiên vị; Hay bị thầy cô phê bình, khiển trách;
Không tự tin khi trao đổi với thầy cô về học tập và cuộc sống; Thiếu tin tưởng
thầy cô giáo; Thiếu tôn trọng thầy cô giáo.
h) Nhu cầu hỗ trợ TLHĐ trong lĩnh vực định hướng nghề nghiệp
Trong định hướng nghề nghiệp, những khó khăn mà các em thường gặp
phải là: Lo lắng về nghề nghiệp tương lai; Không biết mình phù hợp với ngành
nghề nào; Không biết rõ nghề mình chọn có yêu cầu gì về phẩm chất và năng
lực; Thiếu thông tin về trường đào tạo nghề; Áp lực từ sự tác động của bạn bè;
Áp lực từ sự tác động của cha mẹ/ người thân; Không hiểu nhu cầu nghề nghiệp
22
23
Sự thay đổi điều kiện sống, điều kiện hoạt động của thiếu niên ở trong
gia đình, nhà trường, xã hội mà vị trí của các em được nâng lên. Việc học tập
ở trường trung học cơ sở là một bước ngoặt quan trọng, mỗi môn học gồm
những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối
sâu sắc. Điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập cao.
Trong quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng khác trước. Các em được
học với nhiều giáo viên. Các giáo viên có cách dạy và yêu cầu khác nhau đối
với học sinh, có trình độ nghề nghiệp và phẩm chất, uy tín khác nhau. Quan
hệ giữa giáo viên và học sinh “xa cách” hơn so với bậc tiểu học.
Trong quan hệ của thiếu niên với người lớn xuất hiện một cảm giác rất
độc đáo: “cảm giác mình đã là người lớn”. Các em cảm thấy mình không còn
là trẻ con nữa, nhưng các em cũng có cảm giác mình chưa thực sự là người
lớn. Cảm giác về sự trưởng thành của bản thân là nét đặc trưng trong nhân
cách thiếu niên, vì nó biểu hiện lập trường sống mới của thiếu niên đối với
người lớn và thế giới xung quanh. Cảm giác mình đã là người lớn được thể
hiện rất phong phú về nội dung và hình thức. Các em quan tâm đến hình thức,
tác phong, cử chỉ…và những khả năng của bản thân.
Trong học tập các em muốn độc lập lĩnh hội tri thức, muốn có lập trường
và quan điểm riêng. Trong phạm vi ý thức xã hội, các em muốn được độc lập
và không phụ thuộc vào người lớn ở một mức độ nhất định. Các em đòi hỏi,
mong muốn người lớn quan hệ đối xử với mình bình đẳng như đối xử với
người lớn, không can thiệp quá tỉ mỉ vào một số mặt trong đời sống riêng của
các em. Thiếu niên bắt đầu chống đối những yêu cầu mà trước đây nó vẫn
thực hiện một cách tự nguyện.
Trong quan hệ với bạn bè cùng lứa tuổi có sự phức tạp, đa dạng hơn. Sự
giao tiếp của các em đã vượt ra ngoài phạm vi học tập, phạm vi nhà trường,
mà còn mở rộng trong những hứng thú mới, những việc làm mới, những quan
được xác định trên hai nhân tố cơ bản là nhân tố khách quan và chủ quan.
1.4.1. Nhân tố khách quan gồm: Gia đình, bạn bè, nhà trường và
các môi trường khác
Gia đình là nơi diễn ra những mối quan hệ xã hội đầu tiên của con
người. Những mối quan hệ trực tiếp giữa đứa trẻ và cha mẹ là những tác động
qua lại đầu tiên trong đời sống xã hội của đứa trẻ. Trong gia đình, các em
nhận được những kinh nghiêm và kỹ năng sống đầu tiên.
25