TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP THEO CHUYÊN ĐỀ TẠI TRUNG TÂM HỌC TẬP CỘNG ĐỒNG TỈNH BẮC GIANG - Pdf 34

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Trung tâm học tập cộng đồng

TTHTCĐ

2. Giáo dục không chính quy

GDKCQ

3. Giáo dục thường xuyên

GDTX

4. Ủy ban nhân dân

UBND

5. Khoa học, công nghệ

KHCN

6. Giáo dục thường xuyên đáp ứng yêu cầu người học

GDTXĐƯYCNH

7. Giáo dục người lớn

GDNL

8. Khoa học kỹ thuật


chỉ có GD nhà trường (Chính quy) mà giáo dục ngoài nhà trường (GD cộng đồng –
GD không chính quy (GDKCQ) đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong sự
nghiệp phát triển nguồn nhân lực. Nền giáo dục Việt Nam hiện cũng không nằm
ngoài xu thế đó.
Đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, trong kế hoạch giáo dục cho mọi người từ 2003-2015 được thủ tướng
chính phủ phê duyệt tháng 7/2003 khẳng định: Bảo đảm rằng tất cả người lớn, đặc biệt
phụ nữ và các nhóm thiệt thòi được tiếp cận với các chương trình giáo dục có chất
lượng. Phát triển GDKCQ như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng để
xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi
nơi có thể học tập suốt đời phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi cá nhân.
Để có thể đóng góp vào sự phát triển của đất nước, người dân trong cộng
đồng cần học tập để có những kỹ năng đáp ứng với yêu cầu của kinh tế xã hội,
không chỉ học cách sản xuất, tăng thu nhập,… mà cần phải học cả cách sống, cách
ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, cần hình thành những kỹ năng sống cần
thiết. Họ cần học tập thường xuyên, học tập suốt đời, tham gia vào các chương trình
học tập nhằm đáp ứng nhu cầu của bản thân và của xã hội.
Trung tâm học tập cộng đồng là mô hình giáo dục đã và đang được phát
triển, duy trì và củng cố ở Việt Nam. TTHTCĐ là một mô hình phù hợp để triển
khai giáo dục vì sự phát triển bền vững, nơi tạo cơ hội cho mọi người tham gia học
tập suốt đời. Hiện nay mô hình này đang được nhân rộng trên quy mô cả nước. Tính
đến tháng 1/2011 cả nước đã có 10.428 TTHTCĐ/11.113 xã/phường/thị trấn cả
nước (Chiếm gần 93,87 số xã/phường/thị trấn trong cả nước). TTHTCĐ hiện nay
đã và đang cố gắng xây dựng những chương trình, nội dung, phương pháp, đảm bảo

2


các điều kiện phù hợp với người dân ở cộng đồng, đáp ứng nhu cầu “cần gì học
nấy”, học thường xuyên, học suốt đời. Tuy nhiên chất lượng cũng như hiệu quả hoạt

2. Mục đích nghiên cứu
Xây dựng quy trình tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề tại TTHTCĐ
tỉnh Bắc Giang nhằm góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức hoạt động
học tập tại các TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Quy trình tổ chức hoạt động học tập theo chuyên để tại TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
3.2Khách thể nghiên cứu
Hoạt động học tập tại TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
4. Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc tạo cơ hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời cho người
dân tại cộng đồng là điều cần thiết trong đó có việc tham gia học tập tại TTHTCĐ.
Tuy nhiên trên thực tế, việc tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề ở TTHTCĐ
tỉnh Bắc Giang còn gặp nhiều khó khăn, bất cập. Nếu khảo sát, đánh giá được thực
trạng tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề tại TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang trên cơ
sở đó đưa ra quy trình tổ chức hoạt động học tập một cách khoa học, phù hợp thì sẽ
tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của TTHTCĐ ở tỉnh Bắc giang, đáp ứng
được nhu cầu “cần gì học nấy” của người dân tại cộng đồng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1Hệ thống hóa cơ sở lý luận của tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề
ở TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
5.2Khảo sát thực trạng tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề ở
TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
5.3 Xây dựng và thực nghiệm sư phạm quy trình tổ chức hoạt động học tập
theo chuyên đề ở TTHTCĐ tỉnh Bắc Giang.
6. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
TTHTCĐ là mô hình được thành lập và quản lý ở cấp xã/phường, một mô
hình mang tính chất linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập cũng đa dạng của người dân
cộng đồng. Đối tượng tham gia học tập tại TTHTCĐ rất đa dạng về độ tuổi, trình độ


1.1.1 Trên thế giới
Học tập suốt đời là xu thế phát triển tất yếu.Kiến thức học được trong nhà
trường chính quy, đại học và sau đại học trở nên ít ỏi, không đủ để chúng ta vận
dụng trong suốt cuộc đời. Do đó, ngày càng nhiều người có nhu cầu học tập thường
xuyên, học tập suốt đời để có thể sống và tồn tại. Việc học ngày nay không chỉ dành
cho trẻ em mà còn dành cho người lớn. Trên thế giới, chuyên ngành giáo dục học
người lớn đã được quan tâm phát triển. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, từ
những năm 50 của thế kỷ XX các nhà tâm lý học, giáo dục học người lớn phương
tây như CyrillO, Houle, Allen Tough, Kidd đã nghiên cứu quá trình học tập của
người lớn, cách học,động cơ học tập của người lớn.
Năm 197, báo cáo nổi tiếng “Học để tồn tại” của Edgar Faure đã phân tích
khủng hoảng giáo dục thế giới trên phạm vi toàn cầu trước sự phát triển nhanh
chóng của khoa học kỹ thuật trong những năm 60 và đã khẳng định học thường
xuyên là cần thiết, học là để tồn tại.
Năm 1996,trong báo cáo “ Học tập –một kho báu tiềm ẩn”, Jacques Delors
đã dự báo giáo dục trong thế kỉ XXI và phân tích những thay đổi về động cơ học tập
trong thế kỷ XXI: Học không chỉ biết, mà học còn để làm việc, học để tồn tại và
học để cùng chung sống.
1.1.2 Ở Việt Nam
Trong thời gian qua tại Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về
giáo dục người lớn,TTHTCĐ.
- Thái Xuân Đào: Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ
“Xây dựng mô hình thí điểm TTHTCĐ cấp xã ở nông thôn”. Mã số B99-49-79
- Thái Xuân Đào“Chất lượng dạy học người lớn ở cộng đồng: Quan niệm và
tiêu chí đánh giá”. Bài trích, Hà Nội, 2007.

6


- Thái Xuân Đào“Học tập suốt đời và yêu cầu đặt ra đối với nghiên cứu khoa



hình thành nhân cách của chúng [10.tr100]. Mục đích của hoạt động dạy là giúp trẻ
lĩnh hội nền văn hóa xã hội, phát triển tâm lý, hình thành nhân cách.
Như vậy, dạy là một hoạt động chuyên biệt (theo phương thức nhà trường) do
người lớn (người được đào tạo nghề dạy học) đảm nhiệm nhằm giúp trẻ lĩnh hội nền
văn hóa xã hội, phát triển tâm lý thông qua tái tạo nền văn hóa đó. Sự tái tạo nền văn
hóa phải được dựa trên cơ sở hoạt động tích cực của trẻ (người học) [10. tr103].
• Hoạt động học
Trong tâm lý học, học là sự thay đổi bền vững trong hành vi hay kiến thức do
kinh nghiệm hay luyện tập tạo nên. Nó bao gồm cả sự học - tiếp thu kinh nghiệm
trong cuộc sống và hoạt động học - tiếp thu tri thức các môn học, hình thành các kỹ
năng, kỹ xảo trong nhà trường.
Theo lý thuyết hoạt động, học được điều khiển bởi mục đích tự giác của nhà
trường, trong đó diễn ra quá trình nhận thức nhất là tư duy mới được gọi là hoạt
động học tập. Hoạt động học là một trong những dạng hoạt động cơ bản, đặc trưng
của con người. Hoạt động học đươc tổ chức một cách tự giác mà bản chất là quá
trình từng người lĩnh hội những thành tựu văn hóa vật chất và tinh thần mà thế hệ
trước để lại trong thế giới đồ vật và tinh thần biến nó thành cái riêng của mình dưới
sự hướng dẫn, tổ chức của nhà sư phạm.
Hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục
đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành
vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị [10.tr106].
1.2.2. Hoạt động học tập theo chuyên đề
Chúng ta biết rằng, trong giáo dục chúng ta thường sử dụng thuật ngữ “chủ
đề” hay “môn học” gần đây chúng ta có đề cập đến thuật ngữ “Module”. Vậy
chúng ta hiểu việc tổ chức dạy học theo chuyên đề như thế nào? Dạy học theo
chuyên đề có đặc trưng gì?. Khi bàn về các thuật ngữ: “môn học”, “chủ đề”,
“chuyên đề ” có nhiều ý kiến khác nhau.
* Theo cuốn “Thuật ngữ giáo dục đại học và chuyên nghiệp” [14].

-

Theo từ điển Việt –Anh của Bùi Phụng. NXB GD- Công ty phát hành

sách HN 1993 [1] “Chuyên đề - Semina
“Chủ đề: Topical subject, Topical theme, mian subject, mian topic
Ví dụ: chủ đề lòng yêu nước: theme of patriotism…
* Theo từ điển Tiếng Việt - Viện ngôn ngữ học – NXB Đà Nẵng 2000 [23 ]:
“Chuyên đề: Vấn đề chuyên môn có giới hạn, được nghiên cứu riêng”.

9


Như vậy, qua đây chúng ta thấy rằng có rất nhiều quan niệm khác nhau khi
nói về các thuật ngữ giáo dục nêu trên. Tuy nhiên, với vấn đề nghiên cứu, đối tượng
nghiên cứu trong luận văn của mình, chúng tôi cho rằng: “Chuyên đề ” là một vấn
đề nghiên cứu, trao đổi hoặc học tập có tính riêng biệt nhằm giải quyết một nội
dung chuyên sâu, hẹp. Trong xã hội, người ta sử dụng nhiều hình thức hội thảo
chuyên đề. Hình thức dạy học theo chuyên đề được sử dụng nhiều trong đào tạo,
đặc biệt là đào tạo cao học và nghiên cứu sinh như chúng ta vẫn đề cập đến các
“chuyên đề bắt buộc” và “chuyên đề tự chọn”
Trong dạy học nói chung và trong dạy học người lớn nói riêng, mỗi chuyên
đề phải có cấu trúc chặt chẽ theo logic nội dung và phải giải quyết vấn đề một cách
trọn vẹn. Mỗi chuyên đề phải xác định mục tiêu, nội dung và cách thức tiến hành để
đạt mục tiêu. Mục tiêu của chuyên đề không chỉ đưa ra các yêu cầu cần đạt về nhận
thức mà con cần phải cả tình cảm, thái độ và rèn luyện kỹ năng. Mỗi chuyên đề
được tiến hành trong một khoảng thời gian xác định. Có thể 2 - 3 tiết và cũng có thể
trong 1 ngày, 1 tuần nhưng được triển khai một cách liên tục. (Chủ đề có thể triển
khai không liên tục. Ví dụ: “ chủ đề xã hội”, “chủ đề tự nhiên” trong chương trình
môn tự nhiên và xã hội lớp 1, 2,3. Mỗi chủ đề được triển khai ở cả 3 lớp với mức độ

1.2.3 Quy trình tổ chức hoạt động học tập theo chuyên đề
1.2.3.1 Khái niệm Quy trình
Trong bất cứ lĩnh vực nào cũng vậy, hoạt động muốn có hiệu quả cần phải
thực hiện theo một quy trình nhất định theo các bước, các công đoạn cụ thể. Các
bước hay công doạnđược quy định tùy theo đặc thù của từng hoạt động. tuy nhiên
về cơ bản đã là quy trình thì nó đều được coi như là một nguyên tắc cần phải tuân
theo,không được đốt cháy hay bỏ qua bất cứ một bước nào,công đoạn nào.
Theo từ điển TV của viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê làm chủ biên thì:
“quy trình là trình tự tuân theo để tiến hành một công việc nào đó ” [6]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu quy trình là các bước cần tuân theo để đạt mục
tiêu xác định. Hay nói cách khác, quy trình là một trình từ các thao tác, các bước,
các công đoạn…để thực hiện một hoạtđộng nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra.
Nói đến quy trình là nói đến một giải pháp kỹ thuật hay công nghệ nào đó. Quy
trình chính là con đường chỉ dẫn cho việc thực hiện hoạt động, mà trong đó có
những nguyên tắc cần phải tuân theo.

11


1.2.3.2 Quy trỡnh t chc hot ng hc tp theo chuyờn
Quy trỡnh t chc hot ng hc tp theo chuyờn v thc cht l mt quy
trỡnh giỏo dc,nờn nú cng th hin bn cht ca quy trỡnh giỏo dc, bao gm nhiu
bc khỏc nhau. Cỏc bc tỏc ng v h tr qua li ln nhau. hot ng t
c kt qu mong mun cn phi thc hin cỏc bc,cỏc cụng on ú theo mt
quy trỡnh nht nh.Hot ng hc tp cng vy, quy trỡnh l bao gm cỏc bc
khỏc nhau, theo mt trỡnh t nht nh.
Qua ú chỳng ta cú th hiu: Quy trỡnh t chc hot ng hc tp theo chuyờn
l cỏc bc cn phi tuõn theo khi t chc hot ng nhm to iu kin cho Hv ti
TTHTC tham gia tớch cc vo quỏ trỡnh hc tp nhm nõng cao hiu qu hot ng
hc tp ti TTHTC, ỏp ng nhu cu ca ngi dõn ti a phng.

TT (nm 2006) ph khp 90% tng s thnh ph, th trn, lng xó Nht Bn.
Ngoi 18.000 KO-MIN-KAN ca cỏc a phng, cũn cú 76.883 KO-MIN-KAN t
qun. Nhng KO-MIN-KAN ny do ngi dõn t thnh lp, t t chc qun lý hot
ng, thng vựng nụng thụn v thng cú qui mụ nh.
Cỏc nguyờn tc c bn ca KO-MIN-KAN
Nguyờn tc t do v bỡnh ng.
Nguyờn tc min phớ.
Vi t cỏch l mt c s giỏo dc, KO-MIN-KAN phi t chc ging day
hoc tp hun
KO-MIN-KAN phi cú i ng cỏn b, giỏo viờn.
KO-MIN-KAN cn phi t ni gn, thun tin i vi ngi dõn.
KO-MIN-KAN phi c cung cp y cỏc trang thit b phự hp.
S hỡnh thnh, phỏt trin v t chc qun lý TTHTC Thỏi Lan
Thỏi Lan l mt nc sm nhn thc c vai trũ ca GDKCQ, ca giỏo dc
ngoi nh trng v ó chỳ ý phỏt trin cỏc TTHTC (cỏch gi khỏc l Trung tõm
c sỏch lng xó).
Cỏc TTHTC Thỏi Lan thng do nhõn dõn t ng ra thnh lp, qun lớ,
t lo a im v kinh phớ xõy dng, cũn Chớnh ph h tr phng tin dy hc v
kinh phớ cho cỏc hot ng hc tp phự hp vi nhu cu ca cng ng v c cỏn
b Nh nc xung phi hp vi ngi ph trỏch TTHTC. Cỏc Trung Tõm ny
chu s qun lớ ca dõn lng v k hoch hot ng ca Trung tõm do Hi ng xó

13


lập ra. Tại những trung tâm này có thư viện, phòng đọc sách, phòng họp cộng đồng,
phòng xem tivi, nghe đài, một số phương tiện giáo dục cơ bản cần thiết và một số
phương tiện cho hoạt động xã hội như đài, loa phát thanh, nhạc cụ, dụng cụ thể dục,
thể thao v.v...
Các TTHTCĐ ở Thái Lan thường thực hiện 3 chức năng chủ yếu sau:

không chính quy của xã, phường, do cộng đồng thành lập và quản lý nhằm nâng cao
chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển cộng đồng thông qua việc tạo cơ
hội học tập suốt đời của người dân trong cộng đồng. Trung tâm học tập cộng đồng là
thiết chế giáo dục không chính quy của cộng đồng; do cộng đồng và vì cộng đồng.
Có thể nói rằng, ở Việt Nam TTHTCĐ không phải là mô hình hoàn toàn
mới. Trước đây, tại cộng đồng đã tồn tại các thiết chế văn hóa - giáo dục như “nhà
Rông”, “Đình làng”…Là nơi hội họp, nơi sinh hoạt chung của người dân ở cộng
đồng, là nơi chuyển giao tiếp nhận kinh nghiệm văn hóa, xã hội,…TTHTCĐ là sự
kế thừa, phát huy các yếu tố tích cực các thiết chế truyền thống. Tuy nhiên nó là
bước phát triển mới về chất, được thiết kế hoàn thiện hơn, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh hiện nay, với ý tưởng của thời đại, đáp ứng nhu cầu học thường xuyên,
học suốt đời của người dân.
Mô hình TTHTCĐ đã được Viện khoa học giáo dục Việt Nam thiết kế trên
cơ sở tham khảo kinh nghiệm của các nước trong khu vực và trên thế giới. Đồng
thời là sự kế thừa các mô hình, các thiết chế văn hóa – giáo dục trong nước trước
đó. Trong giai đoạn từ 1997 – 2000 đã tiến hành thử nghiệm 10 TTHTCĐ tại một
số tỉnh đại diện cho vùng miền trong cả nước như Hà Nội, Hòa Bình, Lai Châu,
Tiền Giang, Thái Bình….Với giúp đỡ, hỗ trợ tích cực của UNESSCO Bangkok và
Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESSCO Nhật Bản (NFUAJ). Từ năm 2007 đến
nay, UNESSCO Hà Nội tiếp tục hỗ trợ duy trì, củng cố các TTHTCĐ trong cả nước
thông qua dự án “ Phát triển Chiến lược hệ thống nguồn lực hỗ trợ sáng kiến nâng
cao năng lực xóa mù chữ tại Việt Nam” (dự án LIFERSS).
Ở Việt Nam, TTHTCĐ đã được chính thức hóa trong luật giáo dục năm 2005
với tư cách là cơ sở của GDTX. Theo Điều 46 (thuộc mục 5 - Giáo dục thường
xuyên) Luật giáo dục năm 2005, “Trung tâm học tập cộng đồng là cơ sở giáo dục
thường xuyên, được tổ chức tại xã, phường, thị trấn”. [ 11 ]
Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của TTHTCĐ được quy định rất rõ trong điều
2,3,4 thuộc “Quy chế tổ chức và hoạt động của TTHTCĐ tại xã, phường, thị trấn“

15

thức học tập phù hợp với đặc điểm từng nhóm đối tượng; Thứ tư, Quản lý tài chính,
cơ sở vật chất trang thiết bị của trung tâm theo quy định của pháp luật. [17.tr 2]

16


- Phân cấp quản lý: Quy định về phân cấp quản lý TTHTCĐ, TTHTCĐ do
ủy ban nhân dân xã quản lý trực tiếp và chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ
của phòng Giáo dục – Đào tạo. [17 tr 3]
Tuy mới được hình thành và phát triển từ năm 2000 đến nay, nhưng
TTHTCĐ được đánh giá cao, được coi là mô hình giáo dục có hiệu quả trong việc
thực hiện mục tiêu “Giáo dục cho mọi người” và xây dựng “ xã hội học tập” đặc
biệt là người nghèo, người dân tộc. Bên cạnh đó TTHTCĐ góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của người dân ở cộng đồng. Thông qua tổ chức các lớp học xóa
mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, các lớp chuyên đề, các lớp tập huấn,
chuyển giao khoa học kỹ thuật - công nghệ…TTHTCĐ góp phần tích cực trong
việc nâng cao dân trí, cải thiện đời sống dân sinh, thực hiện dân quyền, ổn định và
nâng cao chất lượng dân số và cải thiện môi trường dân cư. TTHTCĐ đã tạo điều
kiện cho “dân được biết”, dân được thông tin – là điều kiện tiên quyết đầu tiên để
“Dân được bàn”, “Dân được làm”và “Dân được kiểm tra”.
Bằng các hoạt động thiết thực, cụ thể và đa dạng của mình TTHTCĐ không
chỉ góp phần giúp các địa phương thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, phát triển
kinh tế, thực hiện các mục tiêu về văn hóa xã hội như xóa mù chữ, nâng cao dân trí,
giảm các tệ nạn xã hội… Đặc biệt, TTHTCĐ cò góp phần quan trọng trong việc nâng
cao hiểu biết, kỹ năng, nâng cao ý thức của người dân về bảo vệ môi trường - yếu tố
quan trọng đối với phát triển bền vững của mỗi cộng đồng. Vì vậy, có thể nói
TTHTCĐ góp phần quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các địa phương.

Biểu đồ 1: Sự phát triển của Trung tâm học tập cộng đồng từ 2001 đến 2010


đóng góp của các tổ chức, các ban ngành, đoàn thể và của người dân. Lúc này,
TTHTCĐ sẽ chuyển dần sang cộng đồng tự quản, tự thu chi. Có thể hình dung các

18


giai đoạn phát triển của TTHTCĐ ở Việt Nam là: Giai đoạn đầu TTHTCĐ là của
Nhà nước và nhân dân, sau đó là của nhân dân với Nhà nước, cuối cùng mới hoàn
toàn là của dân.
TTHTCĐ là một mô hình giáo dục mới trong hệ thống giáo dục quốc dân
nhằm đáp ứng nhu cầu HTTX, HTSĐ cho mọi người dân. TTHTCĐ góp phân nâng
cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương. TTHTCĐ có điểm
giống và chung với nhà trường chính quy là cùng có chức năng giáo dục nhưng
những điểm khác với nhà trường chính quy, như sau:
- Ban quản lí của TTHTCĐ làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, họ là lãnh đạo xã,
cán bộ quản lí của ngành giáo dục, hội Khuyến học hoặc các tổ chức đoàn thể khác.
- Đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên của TTHTCĐ là những người tự
nguyện, không lương.
- Việc học tập ở TTHTCĐ không quy định chặt chẽ về mặt thời gian (người
học có thể tham gia học bất kì lúc nào, học thường xuyên, học suốt đời, không bị
giới hạn về độ tuổi).
- Đối tượng phục vụ của TTHTCĐ là cho mọi người, mọi độ tuổi, mọi giới
trong cộng đồng.
- Mục đích học tập ở TTHTCĐ là không định hướng bằng cấp (người học
không nhằm đạt được bằng cấp mà học để cập nhật, nâng cao kiến thức, kĩ năng
phục vụ sản xuất, nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển cộng đồng).
- Chương trình và hoạt động linh hoạt đáp ứng kịp thời các nhu cầu của cộng
đồng (ngoài việc thực hiện một số chương trình của quốc gia, thì chủ yếu trung tâm
thực hiện chương trình đáp ứng yêu cầu của người học).
- Nội dung, hình thức học tập đa dạng, tùy thuộc vào bối cảnh kinh tế- xã hội

thừa kết quả nghiên cứu về giáo dục trẻ em là cần thiết, nhưng không được làm mất
đi dặc thù riêng của GDNL. Nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức GDNL phải
xuất phát từ đặc điểm đối tượng người lớn. Không thể áp đặc cho những đối tượng
đặc biệt này những gì đã được dùng - dù có kết quả ở nhà trường chính qui..” [3]
Mục đích học rất đa dạng, ví dụ với đối tượng thanh thiếu niên chưa hoàn
thành phổ cập, không có điều kiện theo học ở trường lớp chính quy muốn tham gia
các lớp phổ cập. Hoặc phần đông những người dân ở cộng đồng đi học không phải
lấy bằng cấp mà họ mong muốn TTHTCĐ cung cấp cho họ những kiến thức, kỹ

20


năng để tăng thu nhập, nâng cao đời sống. Hay đơn giản họ tham gia học tại
TTHTCĐ vì họ thích được giao lưu, được có thêm bạn bè khi về hưu…
Nhìn chung, phần đông đối tượng tham gia học tập tại TTHTCĐ có một số
đặc điểm sau:
- Họ đều hoặc phần lớn là những người lớn tuổi, đã trưởng thành về thể chất
cũng như về tâm lý.
- Do lớn tuổi nên một số có tâm lý ngại học lý thuyết, ngại khó, một số lại có
những mặc cảm trong quá trình học tập, có thái độ tự ti. Họ dễ nảy sinh tư tưởng
bảo thủ, khó khăn khi chấp nhân những kiến thức mới.
- Hoạt động lao động là chính, tham gia trực tiếp vào quá trình lao động sản
xuất. Do đó, họ có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống và trong lao động sản xuất.
- Nhu cầu học tập đa dạng, nhu cầu học tập để nâng cao hiểu biết bồi dưỡng
kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp để nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập…Họ
có mục đích, động cơ học tập rõ ràng.
- Phần lớn họ là những đối tượng chịu thiệt thòi, gặp nhiều khó khăn trong
quá trình học tập như về địa lý, dân tộc, giới tính…Đặc biệt là trẻ em gái và phụ nữ,
bị hạn chế về kiến thức cơ bản, kiến thức không có hệ thống, bận lao động sản xuất,
ít thời gian dành cho việc học tập.

và hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn (Được sửa
đổi, bổ sung bởi Thông tư số 40/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo) như sau:
- Không bố trí biên chế theo chế độ công chức, viên chức ở các TTHTCĐ.
- Cán bộ quản lý TTHTCĐ được bố trí theo chế độ kiêm nhiệm, bao gồm
một cán bộ quản lý cấp xã kiêm giám đốc trung tâm, một cán bộ của hội khuyến
học và một cán bộ lãnh đạo của trường tiểu học hoặc trung học cơ sở trên địa bàn
kiêm phó giám đốc. Các cán bộ này được hưởng phụ cấp từ kinh phí hỗ trợ của nhà
nước.
- Căn cứ nhu cầu thực tế và nguồn lực của giáo viên ở địa phương Phòng
Giáo dục và Đào tạo xem xét quyết định việc bố trí giáo viên trường tiểu học hoặc
trường trung học cơ sở làm việc tại Trung tâm học tập cộng đồng, sau khi đã có ý
kiến của Uỷ ban nhân dân cấp xã và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân cấp
huyện. [17.tr 5]

22


Quy định về Giám đốc TTHTCĐ Theo điều 12 - Quy chế tổ chức và hoạt
động của Trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn (Được sửa đổi, bổ
sung bởi Thông tư số 40/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ
Giáo dục và Đào tạo) [17,tr 5]
- Giám đốc TTHTCĐ là người quản lý, điều hành mọi hoạt động của trung
tâm và chịu trách nhiệm trước pháp luật và cơ quan quản lý cấp trên về mọi hoạt
động của trung tâm. Giám đốc TTHTCĐ do chủ tịch UBND cấp huyện quyết định
bổ nhiệm trên cơ sở đề nhị của UBND cấp xã.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc TTHTCĐ:
+ Lập kế hoạch tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ của TTHTCĐ
+ Tuyên truyền vận động mọi thành viên của cộng đồng tham gia các hoạt
động của TTHTCĐ

Bộ Giáo dục và Đào tạo) [17. tr 7]
Đội ngũ hướng dẫn viên tham gia giảng dạy tại TTHTCĐ bao gồm:
+ Giáo viên được phòng GD-ĐT biệt phái để dạy chương trình xóa mù chữ
và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ, củng cố chất lượng phổ cập giáo dục.
+ Báo cáo viên dạy các chuyên đề, các cộng tác viên, hướng dẫn viên và
những người tình nguyện tham gia hướng dẫn học tập tại TTHTCĐ theo hợp đồng
thỏa thuận với giám đốc TTHTCĐ.
- Nhiệm vụ của hướng dẫn viên tại TTHTCĐ:
+ Giảng dạy theo nội dung, chương trình và viết tài liệu phục vụ giảng dạy
và học tập theo quy định.
+ Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung và phương
pháp dạy học.
+ Hướng dẫn, giúp đỡ người học
+ Rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống.
Ngoài ra, đối với đội ngũ hướng dẫn viên giảng dạy các chuyên đề theo chương
trình GDTXĐƯYCNH thì đội ngũ HDV còn là những chuyên gia thuộc những chuyên
ngành hoặc những nội dung mà chuyên đề giáo dục đó đề cập tới. Như vậy, đội ngũ
GV/HDV/BCV giảng dạy chuyên đề tại TTHTCĐ rất đa dạng, từ các Ban, Ngành,
Đoàn thể và các tổ chức xã hội khác. Cụ thể, đội ngũ GV/HDV/BCV có thể là:

24


- Giáo viên tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, TTGDTX;
- Cán bộ, kỹ sư của các ban, ngành, chương trình, dự án…(Nông lâm nghiệp,
y tế, văn hoá, pháp luật…);
- Cán bộ Hội khuyến học, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân, Hội
cựu chiến binh, Hội người cao tuổi,…;
- Cán bộ, giáo viên, bộ đội, kỹ sư đã nghỉ hưu;
- Những nghệ nhân, người có nhiều kinh nghiệm trong những lĩnh vực cụ thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status