Vai trò của đặng tiểu bình đối với công cuộc cải cách, mở cửa của trung quốc từ năm 1978 đến năm 1997 - Pdf 34

Khãa luËn tèt nghiÖp

1

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm qua nhờ thực hiện đường lối cải cách mở cửa nhân
dân Trung Quốc đã giành được nhiều thành tựu to lớn làm biến đổi bộ mặt xã
hội, sản xuất tăng vọt với tốc độ cao, hiện đại hóa đạt được những tiến bộ
vượt bậc, quan hệ kinh tế đối ngoại không ngừng mở rộng, nhiều đặc khu
kinh tế phồn vinh ra đời đất nước ổn định, đời sống của nhân dân được cải
thiện rõ rệt. Những thành tựu đáng khâm phục này đã góp phần nâng cao vị
thế của Trung Quốc trên trường quốc tế. Để đạt được những thành tựu to lớn
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là cả một quá trình phấn đấu lỗ
lực của toàn Đảng, nhà nước và nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo và chỉ
đạo theo đường lối cải cách mở cửa của Đặng Tiểu Bình - một nhà cải cách
lớn, tổng thiết kế sư của Trung Quốc từ năm 1978 đến nay.
Đặng Tiểu Bình là một nhân vật đã có hơn một nửa thế kỷ hoạt động
trên chính trường, sự nghiệp chính trị của ông gặp nhiều sóng gió, thác ghềnh
những ba lần đổ lại ba lần lên và lần nào ông cũng xuất sắc vượt qua. Năm
1977, Đặng Tiểu Bình được trở lại chính trường với việc được hồi phục chức
danh như: Phó thủ tướng kiêm chủ tịch quân ủy, Tổng tham mưu trưởng quân
đội. Sau khi quan sát tình hình nguy nan của đất nước, ông đã từng bước
khẳng định lại vị trí của mình và tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đất
nước. Điều này được đánh dấu tại Hội nghị Trung ương 3 khóa XI với bài
phát biểu: “Giải phóng tư tưởng thực sự cầu thị, đoàng kết nhất trí hướng về
phía trước” [10; 494]. Đây là bản tuyên bố mở ra thời kỳ mới cho sự nghiệp
xây dựng xã hội chủ nghĩa và công cuộc cải cách và mở cửa ở Trung Quốc.
Việc nghiên cứu về Đặng Tiểu Bình đặc biệt là vai trò của ông trong
công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc hiện nay ngày càng có ý nghĩa quan

tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.
Tháng 10 năm 1992, Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIV
họp và quyết định đưa lý luận Đặng Tiểu Bình vào một trong ba ngọn cờ xây
dựng chủ nghĩa xã hội của Trung Quốc, trong thời đại ngày nay đó là chủ
nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông và lý luận Đặng Tiểu Bình. Từ
đó việc nghiên cứu Đặng Tiểu Bình và lý luận của ông được đẩy mạnh ở
Trung Quốc. Hàng loạt các công trình nghiên cứu về lý luận Đặng Tiểu Bình
với các khía cạch khác nhau được thực hiện, Đặc biệt là việc nghiên cứu
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

3

Đặng Tiểu Bình và lý luận của ông đề ra trong công cuộc cải cách, mở cửa.
Từ những năm đầu thập kỉ 90 trở đi ở Trung Quốc đã xuất hiện nhiều công
trình nghiên cứu về Đặng Tiểu Bình và lý luận của ông dưới danh nghĩa quốc
gia hoặc cá nhân.
Năm 1996, cuốn “Mưu Lược Đặng Tiểu Bình” của tác giả Tiêu Thị
Mỹ, do nhà xuất bản Hồng Kỳ ấn hành. Cuốn sách này gồm có 7 chương, nói
về diễn biến tình hình chính trị ở Trung Quốc từ năm 1930 đến năm 1995 và
mưu lược của Đặng Tiểu Bình trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội
mang màu sắc Trung Quốc trên các lĩnh vực trị loạn, phát triển kinh tế, chính
trị, quân sự, mặt trận dân tộc thống nhất và mưu lược ngoại giao. Cùng với đó
tác giả cũng đề cập và nêu ra những kinh nghiệm phong phú về mọi mặt trong

tác giả Trần Tiên Khuê. Trong cuốn sách này tác giả đã nghiên cứu: Lý luận
Đặng Tiểu Bình về chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc, cương lĩnh hành
động trong điều kiện khác nhau và phương châm thi hành chính trị trong giai
đoạn đầu tiên của Chủ Nghĩa Cộng Sản. Qua đó tác phẩm đã làm sáng tỏ hơn
những lý luận của Đặng Tiểu Bình, đặc là viêc áp dụng những lý luận đó vào
thực tiễn của Trung Quốc, nhất là trong công cuộc cải cách mở cửa bắt đầu từ
1978.
Năm 2000, công trình “Trung Quốc cải cách và mở cửa 1978 - 1998”
của Nguyễn Thế Tăng. Nội dung của cuốn sách này viết về công cuộc cải
cách, mở cửa ở Trung Quốc thời gian từ năm 1978 đến năm 1998 với những
cải cách thể chế kinh tế, chính trị ở Trung Quốc, mở cửa đối ngoại và xây
dựng văn tinh thần xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Tuy nhiên tác giả mới nêu
được những nội dung cơ bản của công cuộc cải cách chứ chưa nêu ra được
những bài học, kinh nghiệm mà công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc
(1978 - 1998) đã thực hiện.
Trên đây là những công trình nghiên cứu của các nhà khoa học về Đặng
tiểu bình và xung quanh vấn đề về công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc
với những lĩnh vực tìm hiểu khác nhau. Có thể nói đây là những tài liệu quan
trọng để tôi hoàn thành khóa luận của mình. Cùng với những tác phẩm kể trên
còn có những bài viết chuyên sâu của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước
nghiên cứu về Đặng Tiểu Bình cũng như về Trung Quốc, góp phần làm phong
phú hơn kho tài liệu viết về Đặng Tiểu Bình.
Như vậy, mặc dù cho đến nay có một khối lượng đồ sộ nghiên cứu về
Đặng Tiểu Bình và công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc với những nội
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Tìm hiểu về tư tưởng, chủ trương đường lối của Đặng Tiểu Bình đối
với công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 1997.
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

6

Đánh giá vai trò của ông đối với công cuộc cải cách và mở cửa ở Trung
Quốc.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: nghiên cứu về Đặng Tiểu bình “Tổng thiết kế sư” của
công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc, trong đó tập chung chủ yếu vào
vai trò của ông đối với công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc.
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu vai trò của Đặng Tiểu Bình đối với
công cuộc cải cách mở cửa Trung Quốc trong khoảng thời gian từ năm 1978
đến năm 1997.
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
4.2. Nguồn tư liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết chủ yếu tiếp cận với nguồn
tài liệu đã được dịch ra tiếng Việt, bao gồm các tác phẩm tham khảo, sách
báo, bài phát biểu, văn kiện của Đảng và nhà nước Trung Quốc, các tác giả
của nhiều nước viết về Đặng Tiểu Bình và công cuộc cải cách mở cửa ở
Trung Quốc.
Bên cạnh đó là nguồn tư liệu của các tạp chí, các bài viết các đề tài

nguồn tư liệu ít nhiều liên quan đến đề tài nghiên cứu. Hy vọng đây sẽ là một
đóng góp nhỏ về mặt tư liệu cho việc nghiên cứu lịch sử Trung Quốc hiện đại,
công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc và đặc biệt là vai trò của “tổng
thiết kế sư” Đặng Tiểu Bình cha đẻ của công cuộc cải cách, mở cửa giai đoạn
từ năm 1978 đến năm 1997.
5.2. Về phương diện thực tiễn.
Qua việc tìm hiểu công cuộc cải cách, mở cửa. Đặc biệt là những thành
tựu mà công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc đạt được trong gần 20 năm
qua, người viết đã đưa ra một đánh giá khách quan về vai trò của Đặng Tiểu
Bình đối với công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc.
Trên cơ sở những chủ trương, đường lối mà Đặng Tiểu Bình đã chỉ
đạo, thực hiện thành công trong công cuộc cải cách, mở cửa ở Trung Quốc.
Người viết mong muốn đây sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam
trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới đất nước.
6. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận khóa luận được kết cấu thành 2 chương.
Chương 1: Cuộc Đời và sự nghiệp của Đặng Tiểu Bình.
Chương 2: Vai trò của Đặng Tiểu Bình đối với công cuộc cải cách
và mở cửa ở Trung Quốc từ năm 1978 đến năm 1997.
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

8




Khãa luËn tèt nghiÖp

9

hy vọng lớn lao của cơ nghiệp nhà họ Đặng vào người con trai của mình, gặp
nhiều khó khăn có lúc phải bán vợi gia sản nhưng ông vẫn cố gắng để cho
Đặng Tiên Thánh được đi học.
Thân mẫu Đặng Tiểu Bình là bà họ Đạm người làng Vạn Khuê, huyện
Quảng An, Tỉnh Tứ Xuyên. Bà là người không biết chữ nhưng rất tháo vát, rất
giỏi đạo lý nên thường hay được hàng xóm mời đến phân giải những vụ xích
mích. Bà rất giỏi nuôi tơ tằm, mọi việc nuôi con cái đều do bà đảm nhiệm.
Những tính cách này của mẹ đã ảnh hưởng không nhỏ đến Đặng Tiểu Bình.
Đặng Tiểu Bình lên 5 tuổi được cha cho đi học vỡ lòng ở trường tư
thục. Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng ông có lòng tự trọng rất cao biết chăm chỉ
học hành. Lúc lên 6 tuổi Đặng Tiểu Bình vào học trường tiểu học Bắc Sơn
của làng Hiệp Hưng. Được tiếp thu nền giáo dục mới, cậu càng cố sức chăm
chỉ tự giác học tập. Bấy giờ con đường từ nhà đến trường tiểu học Bắc Sơn là
là con đường nhỏ ngập nghềnh, rất khó đi. Tuy nhiên, Đặng Tiểu Bình không
hề sợ gian nan cho dù là xuân, hạ, thu, đông bốn mùa mưa nắng gian nan vẫn
không ngăn cản được ông đến trường. Với đức tính cần cù ấy, Đặng Tiểu
Bình luôn là một học sinh xuất sắc.
Năm 1915, Đặng Tiểu Bình 11 tuổi đã thi đỗ vào trường tiểu học phổ
thông cơ sở Quảng An. Lúc đó cả huyện Quảng An chỉ có duy nhất một
trường tiểu học phổ thông cơ sở, mỗi năm nhà trường tuyển hai lớp, mỗi lớp
chừng 20 học sinh. Chính vì vậy, nếu không có thành tích học tập xuất sắc thì
khó lòng mà thi đậu vào được. Thời bấy giờ, học sinh tiểu học tuổi từ 10 - 20
tuổi, không có nhà gần trường có thể ở nội trú. Đặng Tiểu Bình cũng ở trong
số đó. Những năm tháng đó đã rèn luyện cho ông trở thành người sớm có

nằm ở phía Tây Nam thành phố lúc bấy giờ. Cũng giống như lần thi lên cấp
học, lần này Đặng Tiểu Bình cũng đã thi đậu và trở thành 100 học sinh khóa
đầu tiên. Theo hồi ức của một bạn học sinh hồi đó của Đặng Tiểu Bình “Cậu
ta vào trường hơi muộn một chút. Cậu ta khi đó tỏ ra rất cứng rắn, tinh thần
và sức lực luôn luôn dồi dào, cậu ta ít nói, trong học tập vô cùng chịu khó
miệt mài”[ 10; 12].
Ngày 19 - 7 - 1920, sau một năm học tập, học sinh trường Cần Công
kiệm học tổ chức thi vấn đáp bằng tiếng Pháp và kiểm tra thực lực. kết quả
của đợt thi này chỉ lấy được 80 người đủ tiêu chuẩn. Đặng Tiểu Bình cũng có
tên trong danh sách 80 người đó, mà lại ít tuổi vừa tròn 16 tuổi. Cứ như vậy,
Trải qua mười năm vất vả miệt mài học tập, lên dần từng nấc thang một. Ngày
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

11

2 - 8 - 1920. Đặng Tiểu Bình và gần 80 người học sinh khác đến bến cảng
Trùng Khánh cùng đáp chuyến tàu “Cát khánh” theo đường thuỷ Nghi
Xương, Hán Khẩu, Cửu Giang bến tiếp là Thượng Hải để bắt đầu cuộc hành
trình lâu dài đưa Đặng Tiểu Bình tới du học tại Pháp.
Như vậy, có thể nói việc Đặng Tiểu Bình đi du học lúc này không phải
là chuyện du học hay du lịch như mọi thanh niên ngày nay, mà Đặng Tiểu
Bình phải mang một sứ mệnh, một trọng trách mà gia đình, dòng họ đã giao
cho. Học để lên người, mang lại vinh quang và sự phồn vinh cho gia đình và

Đặng Tiểu Bình là “một ngôi sao đặc biệt sáng chói” [8; 12] và ông
gọi đó là “người lùn không thể bị đánh đổ” [8; 12]. Đúng như vậy, trong số
các lãnh tụ Đảng Cộng sản Trung Quốc người thấp bé nhất và mấy lần bị
đánh mà không đổ thì chỉ có một người, đó là Đặng Tiểu Bình. Điều này được
minh chứng khá rõ trong sự nghiệp cách mạng của ông những ba lần bị ngã
lại ba lần vùng lên trên vũ đài chính trị.
Sau một thời gian ở Pháp làm đủ mọi nghề để kiểm sống, trước sự biến
động của tình hình thế giới và ở Trung Quốc: Cách mạng tháng Mười Nga
thành công đưa Chủ nghĩa Mác - Lênin tới Trung Quốc, Đảng Cộng sản
Trung Quốc thành lập 1 - 7 - 1921, đoàn thanh niên cộng sản Trung Quốc tại
châu Âu được thành lập… Đặc biệt ngày 8 - 8 - 1922, tổ chức thanh niên xuất
bản lý luận có tên “Thanh niên” đảm đương nhiệm vụ tuyên truyền lý luận
Chủ nghĩa Cộng sản, lấy tư tưởng, Chủ nghĩa Cộng Sản giáo dục đoàn kết
rộng rãi thanh niên Trung Quốc ở châu Âu. Sau khi xuất bản không lâu, Đặng
Tiểu bình đã tìm đến ban biên tập ở số nhà 17 phố Ca - te - lu - oa gần quảng
trường Xta - li và trở thành một thành viên trẻ tuổi nhất trong đó. Đây chính là
sự mở đầu việc Đặng Tiểu Bình trực tiếp tham gia công tác cách mạng và
cũng là mốc mở đầu cho sự nghiệp của ông.
Từ năm 1922 đến năm 1932, Đặng Tiểu Bình bắt đầu tham gia vào
Đảng Cộng sản thiếu niên Trung Quốc ở châu Âu (1922) và trở thành Đảng
viên chính thức của chi bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc (1929), thì ông ngày
càng hoạt động cách mạng tích cực và được cấp trên tín nhiệm giao cho nhiều
nhiệm vụ quan trọng. Tháng 1 - 1926 ông sang Liên Xô vào học tại trường
Đại học Phương Đông, sau đó ít lâu ông chuyển sang trường Đại học Trung
Sơn. Năm 1927, ông rời Liên Xô về Trung Quốc và được Đảng Cộng sản
Trung Quốc cử tới làm việc tại trường quân sự Trung Sơn của Quốc Dân
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2


lỳc bt u n lỳc kt thỳc mt ỳng ba nm, sau khi kt thỳc thỡ ng Tiu
Bỡnh tip tc c trng dng v tr thnh mt trong nhng v thng soỏi ba
i quõn ch lc ca Bỏt L quõn.

SV: Vũ Thị Hằng K34B CN Sử

phạm Hà Nội 2

Đại học S


Khãa luËn tèt nghiÖp

14

Từ năm 1935 đến năm 1978, trong thời gian hoạt động cách mạng này
sự nghiệp cách mạng của Đặng Tiểu Bình không ít thăng trầm có lúc ông giữ
rất nhiều chức vụ quan trọng. Năm 1935, sau khi được trọng dụng trở lại, ông
lần lượt được các nhà lãnh đạo Trung Quốc thời bấy giờ như Chu Ân Lai,
Mao Trạch Đông tin tưởng giao cho nhiều trọng trách quan trọng: Bí thư bộ
chỉ huy mặt trận (1949), ủy viên chính trị; ủy viên chính phủ Trung ương; phó
chủ tịch ủy ban quân chính Tây Nam… Đặc biệt là ngày 10 - 7 - 1952, Chu
Ân Lai - Thủ tướng Quốc Vụ đã gửi thư cho Mao Trạch Đông và Trung ương
“đề nghị Đặng Tiểu Bình đảm nhiệm chức phó thủ tướng và trong tháng 8 sẽ
trở về Bắc Kinh để chủ trì công tác của Quốc Vụ viện trong một thời gian”
[6; 570]. Ngày 7 - 8 - 1952, Đặng được bầu làm phó thủ tướng Quốc Vụ viện.
Chu Ân Lai đã tuyên bố trong hội nghị lần thứ 148 của Quốc Vụ viện họp
trong tháng 7 rằng: “Trong thời gian tội nhận lệnh của Mao Chủ tịch thăm
Liên Xô đồng chí Đặng Tiểu Bình thay tôi làm quyền thủ tướng” [6; 570]. Sau
đó ông lần lượt được phân nhiều công tác quan trọng như đường sắt, giao

chí thấy đấy chuyện gì làm được đều rất tốt… Đặng Tiểu Bình không có lỗi
với người khác ư, tôi không tin. Nhưng nói chung lại, con người này rất biết
lo cho toàn cục, rất nhân hậu giải quyết vấn đề rất công bằng. Đồng chí ấy
rất nghiêm khắc với sai lầm của mình. Đồng chí ấy có chút thật lòng lọ sợ.
Đồng chí ấy đã kinh qua đấu tranh trong Đảng” [10; 360].
Mặc dù được các nhân vật “khổng lồ” như: Mao Trạch Đông, Chu Ân
Lai đánh giá cao về tài năng cũng như đạo đức và được giao cho giữ nhiều
chức vụ quan trọng. Tuy nhiên vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX, trong cơn
giông bão “cách mạng văn hóa” chưa từng có trong lịch sử Trung quốc,
Đặng từ địa vị tổng bí thư bỗng bị chụp cho cái tội danh “tên đầu sỏ số hai đi
theo đường lối tư bản” [8; 31], bị Lâm Bưu đuổi xuông chuồng bò ở Giang
Tây suất trong hơn ba năm.
Có thể nói đến đây sự nghiệp của Đặng Tiểu Bình đã bị chấm dứt, vì
hơn ba năm bốn tháng là một thời gian dài đối với một ông già đã 65 tuổi,
huống chi ông lại không biết chắc lúc nào mình được giải phóng. Tính từ khi
sang Pháp cầu học lúc mới 15 tuổi ông đã hoạt động trên vũ đài chính trị
Trung Quốc chẵn nửa thế kỷ. Thế mà ngày nay cách xa trung tâm chính trị, bị
đày tới miền Giang Tây. Tuy nhiên, khi nhìn vào cuộc đời của Đặng Tiểu
Bình, ta thấy càng đặt trong hoàn cảnh khó khăn thì phẩm chất, trí tuệ của ông

SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

16

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

17

Sau một thời gian Đặng nhận được thông chuẩn bị về Bắc Kinh. Ngày 22 - 2
ông trở về Bắc Kinh, đến ngày 10 - 3 - 1173 căn cứ vào lời Mao, Chu Ân Lai
đã chủ trì hội nghị Bộ Chính trị vấn đề đưa Đặng trở lại làm việc. Hội nghị
quyết định khôi phục sinh hoạt đảng và chức vụ phó thủ tướng cho Đặng.
Năm tháng sau Đặng được vào Trung ương. Như vậy lần này sau khi bị đánh
đổ với tài năng, ý trí… Đặng đã vực được dậy tuy rất gian nan nhưng không
phải là bước đi mang tính quyết định.
Sau khi Đặng Tiểu Bình đứng lên từ tro tàn của cách mạng văn hóa, thì
con đường sự nghiệp của ông tiến lên một bước mới, được đánh giá cao và
trọng dụng. Tháng 8 - 1973, tại Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ
X, ông được bầu làm ủy viên Trung ương Đảng, sang tháng 1 - 1975 Đặng
Tiểu Bình được giữ chức Phó chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc, phó thủ
tướng, phó chủ tịch quân ủy Trung ương, tổng tham mưu trưởng quân giải
phóng nhân Trung Quốc, chủ trì các công tác hàng ngày của Đảng và nhà
nước.
Năm 1975, sau khi Đặng Tiểu Bình ở tuổi 71 những tưởng sau hai lần
bị hạ bệ rồi lại vươn lên được thì đến đây công danh sự nghiệp của ông không
còn bị trắc trở gì nữa. Vậy mà cuối năm 1975, trong phong trào “phê phán
Đặng Tiểu Bình, chống lại đợt xóa án hữu khuynh” một lần nữa Đặng lại bị
phê phán một cách sai lầm. Tháng 4 - 1976, sau sự kiện Thiên An Môn một
lần nữa Đặng bị cắt hết mọi chức vụ, trở thành “kẻ đi theo đường lối tư bản,

mạng lần thứ hai ở Trung quốc, đưa Trung Quốc từ hỗn loạn đến đại trị, từ bờ
vực sụp đổ đến phồn vinh thịnh vượng. Trung Quốc dưới công cuộc cải cách
và mở cửa do “Tổng thiết kế sư” Đặng Tiểu Bình lãnh đạo đã thay đổi hẳn bộ
mặt. Điều này đã phần nào minh chứng được sự thần thông trong mưu lược và
trí tuệ của Đặng. Sau ba lần xuống, ba lần lên vẫn đưa ra được những “chiêu
thức” cải cách quyết định vận mệnh của Trung Quốc.
Ngày 19 - 2 - 1997, Đặng Tiểu Bình từ biệt thế giới, nhưng sự nghiệp
cũng như cống hiến to lớn của ông đến tận ngày nay vẫn được các nhà lãnh
đạo, nhân dân Trung Quốc ghi nhớ, học hỏi làm theo, đồng thời cũng để lại
nhiều bài học, kinh nghiệm cho các nước trên thế giới đặc biệt là các nước xã
hội chủ nghĩa.
Như vậy, con đường sự nghiệp của Đặng Tiểu Bình bắt đầu từ rất sớm,
từ một cậu thiếu niên với tên gọi là Đặng Hy Hiền, đầy nhiệt huyết khao khát
cứu nước, dần đã trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên cường, xóa bỏ bóc lột,
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Khãa luËn tèt nghiÖp

19

xóa bỏ đói nghèo cho nhân dân, là sự nghiệp mà ông phấn đấu trọn đời. Cuộc
đời của ông có sự từng trải như câu chuyện truyền kì, ông là một học trò lặn
lộn học tập trong và ngoài nước, ông là người gieo ngọn lửa Hồng Quân, ông
là bí thư Bộ Tổng chỉ huy mặt trận đại chiến Hoài Hải, ông là Tổng bí thư
Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông là thiết kế sư cho công cuộc cải


20

nhanh chóng chiếm được vị trí quan trọng trong trung ương đảng. Năm 1929,
ở tuổi 25 với danh hiệu đại diện Trung ương Đảng, ông đã tham gia thành lập
Quân đoàn 7 Hồng quân công - nông Trung Quốc ở Quảng Tây do Dương
Văn Dật làm Quân Đoàn Trưởng, Đặng Tiểu Bình làm Bí thư ủy ban tiền
phương Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm chính ủy quân đoàn. Những ý kiến
của ông luôn luôn được các đồng chí của mình đánh giá cao. Vì vậy, mà trong
thời gian này Đặng và Mao được đánh giá là một trong người trẻ tuổi có triển
vọng.
Được đánh giá cao về tài năng trí tuệ và giữ nhiều chức vụ quan trọng,
nhưng không phải cuộc đời của ông không gặp sóng gió. Tác giả Harison sở
trường viết về truyện kí và nhân vật đã hết sức cảm khái trước việc ba lần
ngã, ba lần vùng lên của Đặng, đã nói “việc trở lại cầm quyền, của Đặng Tiểu
Bình dù có lục hết sử sách xưa của Trung Quốc cũng không tìm thấy truyện
nào ly kỳ hơn”[8; 13], đồng thời Harison đã gọi Đặng là ngôi sao đặc biệt
sáng chói và “người lùn không thể đánh đổ được” [8; 12]. Quả thật, đúng vậy
trong cuộc đời của Đặng Tiểu Bình những năm ba lần bị đánh đổ, lần nào
cũng tưởng trong hoàn cảnh đó Đặng không thể nào vực được dậy nhưng
không, sau mỗi lần bị chìm sâu ông lại vươn lên vị trí cao hơn. Điều này đã
phần nào chứng tỏ tài năng, ý chí hơn người của ông. Dường như ở vào
những lúc khó khăn nhất của cuộc đời mình thì Đặng Tiểu Bình lại càng tỏa
sáng hơn.
Tính cách của Đặng Tiểu Bình được tôi luyện trong chiến tranh cũng
như cuộc đời sóng gió của mình, nói về tính cách của ông Mao Mao viết:
“cha tôi là người có tính cách hướng nội, trầm tính, ít nói cuộc đời cách
mạng 50 năm khiến ông đã luyện thành tác phong gặp nguy nan không sợ
hãi, trước biến cố không lung lay. Đặc biệt đối với vận mệnh của cá nhân, thì
rất lạc quan. Trong nghịch cảnh ông khéo vận dụng tinh thần lạc quan để đối

iu cú th xy ra.
Ngoi ra, ng Tiu Bỡnh cũn ni ting l ngi cng rn, tớnh kiờn
nh v tớnh nguyờn tc ca ụng hũa quyn vi cỏi nhu lm mt. Trong ln
phc hi ln th hai ca mỡnh, ụng ó dựng Bn tay chnh n ton din
v phỏ tan bao tr lc to ln. Sau khi phc hi ln th ba, ụng cng kiờn trỡ
tớnh nguyờn tc hn, bin phỏp cng cng rn hn. ễng luụn phn i
mm, kiờn trỡ bin phỏp cng nhiu ln xng phi lm chc bng hai
tay, hai tay u phi cng ng Tiu Bỡnh ni ting l nghiờm khc, nhng
SV: Vũ Thị Hằng K34B CN Sử

phạm Hà Nội 2

Đại học S


Khóa luận tốt nghiệp

22

ụng khụng phi lỳc no cng l ngn giỏo sc ra e da ngi m
luụn gi kớn, cng trong nhu, cng nhu tng hp. ễng lónh o ng,
lónh o t nc khụng ch thun tỳy t nhng xung t tỡnh cm m bng
suy ngh rt thu ỏo, cn trng, quyt phi t mc ớch mi thụi.
Khi lm vic ụng rt nghiờm tỳc, thng thn khụng cn du gim quan
im ca mỡnh. Khi bn v tớnh cỏch ca ng Tiu Bỡnh, ngi ta cú n
tng sõu sc v sc t kim ch, tớnh nhn li s kiờn trỡ, khụng bc l s
bc tc ra ngoi. ú khụng phi l tớnh cỏch bm sinh ca ụng m tớnh cỏch
ny c nuụi dng trong cuc u tranh cỏch mng lõu di v t i sng
chớnh tr ca ụng m ra. Trong ú bao gm c nhõn t nh hng ca Lu Bỏ
Tha - Mt tri thc ln ca ng Cng Sn, mt nh quõn s ln mt ngi

này đã bị những người theo đường lối “tả khuynh” khép cho cái tội “kẻ đi
theo chủ nghĩa tư bản đến chết không chịu hối cải” [8; 67]. Tháng 2 - 1976,
Mao Trạch Đông nói: “con người đó không nắm đấu tranh giai cấp, xưa nay
không đề cập vấn đề chủ yếu đó, vẫn cứ mèo đên, mèo trắng, bất kể chủ
nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa Mác - lênin” [8; 64]. Đây là những đánh giá khi
ông bị phê bình đấu tố trong thời kỳ Trung Quốc hỗn loạn bởi cuộc cách
mạng văn hóa do Mao Trạch đông phát đông.
Dù đánh giá như thế nào đi nữa cũng thừa nhận rằng Đặng là một
người tài giỏi, kiên định luôn giữ vững lập trường “Đặng Tiểu Bình từ người
lãnh đạo bình thường trở thành một người lãnh đạo chủ yếu của một phương
diện quân, từ một lãnh đạo cao cấp trở thành một lãnh tụ kiệt suất trở thành
con người vĩ đại, chính tầm mắt chiến lược, tư tưởng chiến lược tư duy chiến
lược cùng với năng lực thực hiện là mặt cơ bản của ông” [8; 247].
Như vậy,với những phẩm chất cá nhân, đạo đức, trí tuệ, mưu lược hơn
người, Đặng Tiểu Bình là sự kết tinh những phẩm chất cao quý nhất, có nhiều
đóng góp to lớn không chỉ của dân tộc Trung Hoa mà còn của nhân loại. Điều
này được minh chứng rõ nét trong cuộc đời, sự nghiệp của ông. Đặng Tiểu
Bình là một nhà chính trị biết nhìn xa trông rộng, ông là người khai sinh ra
nước Trung Hoa mới - một vị hào kiệt làm thay đổi lịch sử Trung Hoa. Với
công cuộc cải cách đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Tiểu kết chương 1
Nhìn lại cuộc đời, sự nghiệp của Đặng Tiểu Bình. Chúng có ta thấy
lòng yêu nước và nhiệt huyết cách mạng đã bộc lộ và có sức phát triển mạnh
mẽ trong tư tưởng của ông ngay khi mới 15 tuổi. Đặng Tiểu bình ngay từ nhỏ
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S

Chương 2
VAI TRÒ CỦA ĐẶNG TIỂU BÌNH ĐỐI VỚI
CÔNG CUỘC CẢI CÁCH, MỞ CỦA CỦA TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 1978 ĐẾN NĂM 1997
2.1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG CUỘC CẢI CÁCH, MỞ CỬA Ở TRUNG
QUỐC TỪ NĂM 1978 ĐẾN NĂM 1997
2.1.1. Yêu cầu cải cách và mở cửa ở Trung Quốc
Cải cách là xu thế tất yếu trong sự phát triển của lịch sử. Cải cách mở
cửa ở Trung Quốc là sự tìm tòi gian khổ trên con đường xây dựng Chủ nghĩa
xã hội gần 20 năm qua và là kết quả tất yếu trong quá trình hoàn thiện chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc. Mục đích của nó là nhằm thay đổi căn bản
thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ, trói buộc sự phát triển của kinh
tế, xây dựng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, giải phóng và phát triển sức
sản xuất xã hội. Công cuộc cải cách, mở cửa của Trung Quốc ra đời được
triển khai trong bối cảnh và điều kiện lịch sử đặc thù với những biểu hiện chủ
yếu sau.
Nền kinh tế Trung Quốc suốt 30 năm sau khi thành lập nước Cộng Hòa
Nhân dân Trung Hoa có những đặc trưng cơ bản là tập trung cao, hiệu quả
kém kinh tế lệch lạc. Nói cách khác kinh tế Trung Quốc trước khi cải cách,
mở cửa là tăng trưởng không đi đôi với phát triển. Trong những năm này kinh
tế Trung Quốc đã tăng trưởng với số lượng khá cao. Theo thống kê: “Mức
tăng tổng sản phẩm xã hội của Trung Quốc giai đoạn 1952 - 1978 là 7,9%,
của giá trị tổng sản phẩm công nông nghiệp là 8,2%, của thu nhập quốc dân
là 8%” [1; 16]. Đó là nhịp độ tăng trưởng cao hơn nhịp độ tăng trưởng bình
quân của thế giới. Sau 30 năm Trung Quốc đã thay đổi đáng kể về cơ cấu
SV: Vò ThÞ H»ng K34B CN Sö

ph¹m Hµ Néi 2

§¹i häc S


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status