MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Có thể nói, trong suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo và văn hóa Phật
giáo đã đồng hành cùng dân tộc, trở thành một phần cốt yếu, quan trọng
của văn hóa Việt Nam; đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ đất nước; nuôi dưỡng tâm hồn và sức sống Việt Nam; xây dựng lối ứng
xử văn hóa trong quan hệ với đồng loại và với thế giới tự nhiên cho các thế
hệ, tạo nên vẻ đẹp và bản sắc dân tộc.
Lý - Trần là thời đại vàng son của lịch sử Việt Nam. Đây là thời đại
dân tộc được hồi sinh sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc. Thời này, Phật
giáo thịnh trị, tư tưởng triết lý Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống
tâm linh con người và đời sống văn học. Văn học Phật giáo nói chung, thơ
Thiền nói riêng là một bộ phận quan trọng của văn học Lý - Trần, là di sản
quý báu của một thời đại đáng tự hào của dân tộc ta. Tìm hiểu giá trị đích
thực của thơ Thiền là việc làm rất cần thiết cho nền văn hóa nước nhà, nhất
là trong thời đại mở cửa hội nhập hôm nay.
Ra đời trong bối cảnh “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên
cổ điện kim âu”(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá / Non sông nghìn thuở vững
âu vàng) của thời đại Đông A, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là kết tinh của
tinh thần Phật giáo Đại Việt trên cơ sở kế thừa truyền thống và tiếp thu tinh
hoa ngoại quốc. Trước tác của Thiền Trúc Lâm để lại cho hậu thế thực sự
là những viên ngọc quý, phản chiếu con người tinh thần của một thời đại
anh hùng. Trong xu thế nhìn lại quá khứ với niềm tự hào sâu sắc, Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử và các sáng tác của những Thiền sư dòng Thiền này
ngày càng được quan tâm một cách thỏa đáng từ giới nghiên cứu trong và
ngoài nước cũng như bạn đọc gần xa. Đặc biệt, cuộc đời và sự nghiệp của
Trần Nhân Tông - vị Tổ sáng lập Thiền phái được các học giả quốc tế chú ý
và đánh giá cao không chỉ bởi những cống hiến xuất sắc của ông cho lịch
1
cũng như hành trạng các Thiền sư: Thiền uyển tập anh ngữ lục, Tam Tổ
thực lục… Các tác phẩm: Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang), Lịch
sử Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát),… tổng kết quá trình hình thành và
phát triển của Phật giáo Việt Nam.
Thiền uyển tập anh ngữ lục là một tác phẩm văn xuôi viết bằng chữ
Hán ghi lại tương đối hệ thống các tông phái Thiền học và sự tích các vị
Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Lý và
một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều Trần; tức từ cuối thế kỷ
VI đến thế kỷ XIII. Ðây là tài liệu lịch sử cổ nhất của Phật giáo Việt
Nam hiện có.
Tam Tổ thực lục là tập sách trình bày hành trạng của ba vị Tổ sư
thuộc dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử (Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền
Quang). Ban Phật giáo Việt Nam thuộc Viện Nghiên cứu Phật học Việt
Nam giới thiệu, Hòa thượng Thích Phước Sơn dịch và chú giải.
Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang gồm 40 chương là
một tác phẩm nghiên cứu vào loại quy mô về Phật giáo Việt Nam. Tác
phẩm trình bày toàn bộ diễn tiến của Phật giáo từ thời Luy Lâu tới giữa thế
kỉ XX ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã dành 7 chương để giới thiệu về
Phật giáo đời Trần và Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
Lê Mạnh Thát, Nguyễn Tài Thư, Nguyễn Duy Hinh cũng đã có
những công trình nghiên cứu quy mô, quan trọng về lịch sử du nhập,
phát triển của Phật giáo Việt Nam. Các tác phẩm phải kể đến là: Lịch sử
Phật giáo Việt Nam (Lê Mạnh Thát), Lịch sử Phật giáo Việt Nam
(Nguyễn Tài Thư chủ biên), Triết học Phật giáo Việt nam (Nguyễn Duy
Hinh). Đặc biệt là Lê Mạnh Thát, người được coi là học giả viết sách về
văn học và lịch sử Phật giáo nhiều nhất Việt Nam. Ông là tác giả của:
Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam gồm 3 tập, Toàn tập Trần Thái
Tông, Toàn tập Trần Nhân Tông.
3
danh), Tam Tổ thực lục, Thánh đăng lục,…
4
Đến thế kỷ XX, những tác phẩm thơ ca thời Lý - Trần đã được tập
hợp và sưu tầm, ghi chép lại trong cuốn Thơ văn Lý - Trần (3 tập) do nhóm
tác giả Viện Văn học thực hiện. Tác giả Nguyễn Huệ Chi phân tích những
kết quả nghiên cứu những năm đầu thế kỷ XX trên các phương diện: thơ
chữ Hán, thơ chữ Nôm, các bài phú Nôm, các giả thiết xung quanh một vài
cuốn truyện thơ lục bát. Từ những văn bản đó, tác giả đã giới thuyết lại
diện mạo văn học Lý - Trần từ nội dung đến thể loại văn học. Đến năm
2004, thơ văn Lý - Trần được tuyển chọn và sưu tầm lại trong cuốn Tinh
tuyển văn học Việt Nam, tập 3 do PGS.TS Nguyễn Đăng Na chủ biên.
Nghiên cứu về thơ văn Lý - Trần đã có một quá trình lâu dài với
nhiều bài viết giá trị, đặc biệt từ những năm 40 của thế kỷ XX qua các công
trình như Việt Nam văn học sử yếu của Dương Quảng Hàm (1941), Việt
Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (1942), Văn học đời Lý và đời
Trần của Ngô Tất Tố (1942). Gần đây, văn học Lý - Trần đã được nhiều tác
giả như Nguyễn Huệ Chi, Trần Thị Băng Thanh, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn
Hữu Sơn, Đoàn Thị Thu Vân, Trần Nho Thìn, Nguyễn Phạm Hùng,
Nguyễn Công Lý,… đề cập tới. Mỗi tác giả có những cách tiếp cận và đánh
giá của riêng mình. Với Văn học trung đại Việt Nam, dưới góc nhìn văn
hóa, Trần Nho Thìn chọn cách tiếp cận từ phương diện văn hóa để tìm hiểu
thơ trung đại. Bên cạnh đó là việc đặt những tác phẩm thơ ca trung đại vào
tọa độ không gian và thời gian để tìm con đường giải mã từng tác phẩm
như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Na trong cuốn Con đường giải mã văn
học trung đại Việt Nam đã thực hiện. Hoặc tìm hiểu những tác phẩm thơ ca
nói chung và văn học trung đại Việt Nam nói riêng dưới góc độ thi pháp
học, từ quan niệm nghệ thuật về con người đến không gian, thời gian, ngôn
ngữ nghệ thuật,… như việc mà Trần Đình Sử đã làm trong cuốn Thi pháp
Thiền đời Lý: là sự kết hợp của cảm quan tôn giáo và cảm quan thế tục chủ
yếu trên bình diện con người. Phạm Ngọc Lan có bài “Trần Nhân Tông,
cảm hứng Thiền trong thơ” đăng trên TCVH, số 4 năm 1992,…
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều Hội thảo khoa học cấp
quốc gia và quốc tế đã được tổ chức nhằm trao đổi một số vấn đề học thuật
liên quan tới những nhân vật quan trọng của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
như Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Nhân Tông.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông
Việt Nam” năm 2000 đã tập hợp những những bài nghiên cứu về vai trò
của Tuệ Trung Thượng sĩ với lịch sử phát triển của Thiền tông Việt Nam.
Hội thảo: “Đức vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông, cuộc đời và sự
nghiệp” diễn ra vào tháng 11 năm 2008 tại Quảng Ninh được tổ chức trong
khuôn khổ Đại lễ tưởng niệm 700 năm ngày mất của Phật hoàng Trần Nhân
Tông. Kỷ yếu Hội thảo khoa học gồm 90 tham luận của các nhà nghiên
cứu, học giả đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, lãnh thổ Đài Loan,
Thái Lan và Việt Nam.
Kỷ yếu Hội thảo khoa học nhân Đại lễ tưởng niệm 705 năm ngày
nhập Niết bàn và khánh thành tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông: “Phật
giáo Trúc Lâm Yên Tử và công tác quy hoạch, bảo tồn và phát huy những
giá trị của khu di tích Yên Tử hiện nay” tập hợp gần 50 bài viết của các học
giả trong nước cùng đông đảo Phật tử thuần thành.
Tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong các sáng tác của Thiền phái Trúc
Lâm Yên Tử cũng được đề cập trong các luận án tiến sĩ triết học lấy đề tài
tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông (như đã nói ở trên) và qua một số
bài viết tản mạn của PGS. TS Nguyễn Kim Sơn, Hòa thượng Thích Phước
Đạt,… Có thể tìm thấy những bài viết này trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học
về Trần Nhân Tông.
7
Trước hết, nhận diện được những biểu hiện cùng quá trình vận động
của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử: từ cội nguồn sinh thành đến khi phát triển tới đỉnh cao và đi vào thế tục
dẫn tới quá trình điển phạm hóa loại hình văn học nhà Nho.
Hơn nữa, lý giải và đánh giá cội nguồn hình thành, sự vận động,
những đóng góp của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” đối với lịch sử và văn hóa
dân tộc từ góc độ lịch sử, văn hóa, tư tưởng.
Từ đó, rút ra những bài học thực tiễn đối với công tác bảo tồn và phát
huy các giá trị văn hóa truyền thống và xây dựng chủ trương sống “tốt đời
đẹp đạo”.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: xuất phát từ đối tượng nghiên
cứu của luận văn là tư tưởng “Cư trần lạc đạo” và sự vận động của nó trong
văn chương của một Thiền phái nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo được
sử dụng trong luận văn này là phương pháp liên ngành. Nghiên cứu liên
ngành là nghiên cứu liên khoa học, là sự kết hợp các môn học, các ngành
học khác nhau. Liên ngành là sử dụng lối tư duy tổng hợp để xem xét một
đối tượng mang tính nguyên hợp. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ nghiên
cứu đối tượng trên các bình diện văn học, triết học, sử học.
- Phương pháp nghiên cứu loại hình: xuất phát từ phạm vi nghiên
cứu, trong luận văn này chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu loại
hình tác giả Thiền sư - thi sĩ và loại hình tác phẩm văn học Phật giáo (kinh
kệ, thơ Thiền, ngữ lục)
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu giữa những tác phẩm, các tác giả
để nhận biết trục tâm tư tưởng và những sáng tạo của mỗi cá nhân, qua đó
thấy được sự vận động của tư tưởng “Cư trần lạc đạo” trong văn chương
Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.
9
một vị vua có trách nhiệm với sự tồn vong, hưng thịnh của đất nước, vừa
như một vị lãnh tụ dẫn dắt tinh thần và tâm linh của trăm dân, vừa như một
vị quốc sư tài ba tập hợp nên khối đoàn kết toàn dân tộc, vừa là một lãnh tụ
tôn giáo xây dựng tăng đoàn Phật giáo Đại Việt thống nhất. Ta thấy ý nghĩa
chân giáo của Thiền - cuộc sống qua cụm từ “Cư trần lạc đạo” đã diễn đạt
rất đắt tinh thần “tự tại”, “tự nhiên”, “vô trụ”, “vô chấp”, “Phật tại tâm” của
Thiền tông Việt Nam.
Tính khuynh hướng của một trường phái triết học, một giáo phái hay
cách ứng xử của một cá nhân, một nhóm xã hội bị quy định bởi rất nhiều
nhân tố. Nó thường là một tổng thể phức tạp, đan xen hữu cơ. Tách bạch
một vài nhân tố và coi đó là nguyên nhân của các khuynh hướng thực khó
có thể lột tả được đầy đủ và chính xác. Tuy nhiên nó vẫn là việc không thể
không làm. Theo kết quả nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, tinh
thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử cần được nhìn nhận từ hai
phương diện, một là những căn cội triết học và hai là cơ sở thực tiễn,
11
những lý do thực tiễn. [46; tr. 41]. Người viết căn cứ vào đó mà đi tìm cơ
sở hình thành và phát triển của tư tưởng “Cư trần lạc đạo”.
1.1. Sự dung thông Tam giáo – Cơ sở triết học của tư tưởng “Cư trần
lạc đạo”
Thái Tông, vị vua đầu tiên của vương triều Trần, từng phát biểu tôn
chỉ cuộc đời mình trong bài tựa sách Thiền tông chỉ nam: “Phương tiện
dẫn dụ đám người mê muội, con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo
của Đức Phật. Đặt mực thước cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai,
ấy là trách nhiệm của bậc tiên thánh. Cho nên Lục tổ có nói: “Bậc đại
thánh và đại sư đời trước người khác gì nhau”. Như thế đủ biết đại giáo
của Đức Phật, ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời.” [70; tr. 88]
Có thể nhìn một cách tổng quan về căn cội triết học của tinh thần
Trong Pháp bảo đàn kinh, Huệ Năng đưa ra mệnh đề rất quan trọng
“tức tâm tức Phật” (Tâm đấy chính là Phật đấy). Ông chỉ rõ nhất thiết
chúng sinh và chư Phật đều quy kết ở một điểm chung, đó là “Tự tâm”:
"Tự tâm chính là Phật, sao lại còn hồ nghi, ngoài tâm ra thì không
có vật nào kiến lập cả, bản tâm sinh vạn pháp. Cho nên mới nói: Tâm sinh
vạn pháp sinh, Tâm diệt vạn pháp diệt.
Nay ta dạy các ngươi, biết tự tâm chúng sinh, thấy tự tâm Phật tính.
Các ngươi nay nên tin rằng, thấy biết Phật, chỉ là tự tâm, ngoài ra
không có Phật nào khác… Ta cũng khuyên tất thảy mọi người, tự trong tâm
mình thường khai mở tri kiến Phật. Cho nên, biết về vạn pháp, tất thảy đều
ở tự tâm" [41; tr. 46].
“Tâm” mà Huệ Năng nói tới là “Tâm” của con người sống động và
cụ thể. Phật tính tồn tại tự trong “Tâm”, “tức tâm tức Phật”. Ngoài “Tâm”
ra không có Phật nào hết. Ông lại nói:
13
"Bồ đề chính chỉ hướng giác ngộ ở nơi tâm, sao lại nhọc nhằn đi cầu
điều huyền hư ở bên ngoài? Dựa theo điều này mà tu hành, Tây phương ở
ngay trước mắt. Cho nên cần biết, vạn pháp tất thảy đều ở trong tự thân ta,
sao chẳng quay về tự tâm đốn hiện chân như bản tính? Phật chính là tự
tính, chớ hướng ra ngoài thân mà truy cầu. Tự quay về quy y Phật nơi
mình, không nói quy y Phật nào khác. Tự tính không quy, sẽ không có chỗ
nào mà dựa hết" [41; tr. 62].
Huệ Năng đã chuyển từ sùng bái Phật ngoại tại sang sùng bái chính
bản tâm của mình. Phật tính cũng là Nhân tính, Nhân tính cũng là Phật
tính, do đó kiến tính, tri tính, minh tâm kiến tính (thấy tính, biết tính, làm
sáng lòng để thấy tính) chính là con đường giải thoát, con đường giác ngộ
thành Phật. Điều này có thể giải thích được nguồn cội sâu xa của tinh thần
Thiền sư Tiêu Dao (một pháp danh khiến người ta nghĩ tới Trang tử hơn là
mạch truyền thừa của Thiền Tông), lại “nhật dĩ Thiền duyệt vi lạc” (ngày
ngày lấy đạo Thiền làm vui). Có thể diễn đạt lại những thông tin mà Trần
Nhân Tông nói ở trên về sự nghiệp tu hành của Thượng sĩ là: hòa quang
đồng trần, tiêu dao tề vật, không phân biệt “ta” và “vật”, ngày ngày tràn
ngập lạc thú trong việc tu Thiền, và cũng chính bằng cách đó ông phù trì
mở mang được Phật pháp. Một vài tinh thần quan trọng của Đạo gia được
vận dụng, vừa là sự bổ sung tư tưởng, vừa là một cách nói cho Thiền.
“Hòa kỳ quang, đồng kỳ trần” [35; tr. 15] là một đặc sắc tư tưởng
của Lão tử. Lão tử nêu quan điểm “hòa quang đồng trần” để giải thích về lẽ
Huyền đồng Vương Bật chú là: “Không có chỗ nào đặc biệt vinh hiển, thì
vật không có chỗ nào tranh nhau; Không có chỗ nào đặc biệt ty tiện, thì
vật không có chỗ nào thẹn”. Ngô Trừng chú là: “Hòa, cũng là Bình vậy,
biểu thị ý nén mà giấu đi; Đồng, là để nói bình đẳng mà không có chỗ nào
khác. Gương vì bụi mà không sáng, phàm đã sáng thì tất có mờ tối, cho
15
nên trước hãy tự giấu ánh sáng đi để hoà cùng với bụi kia, không muốn thể
hiện cái sáng của mình, như vậy thì trước sau không bao giờ bị mờ tối”.
Người đời sau dùng “hòa quang đồng trần” để chỉ triết lý sống nổi chìm
cùng thế tục, tùy tục tùy thời hành xử, không để lộ ra một sự khác biệt hay
đặc biệt nào.
Như trên đã trình bày, trong sự tu tâm để giác ngộ kiến tính, “Dồi
cho vặc vặc tính gương; Nào có nhuốm căn trần huyên náo”, “Tâm” đã
sáng như gương, “căn trần huyên náo” không thể vướng bận. Giữ “Tâm”
sáng thì không gì làm mờ được. Vậy mới có thể giữa cõi trần mà vui đạo.
Nhưng muốn giữ cho gương luôn sáng thì giấu cái sáng đi để hòa cùng bụi
kia cũng là thêm một cách. Nó là “Phật - Đạo hỗ bổ” (Phật Đạo bổ sung
cho nhau). Tinh thần “hòa quang đồng trần” vừa giải thích rõ thêm phương
1.1.3. Tư tưởng “lạc đạo” của Nho gia với phương pháp tu dưỡng của
Thiền tông.
Sự dung hợp tư tưởng Nho - Phật đã diễn ra mạnh mẽ trong giai
đoạn hình thành Thiền tông Trung Hoa. Phật tính luận theo kiến giải của
Huệ Năng là sự dung hợp quan niệm bản thể Phật tính với Nhân tính, Tâm
tính luận của Nho gia. Không phải chỉ dung hợp về nội hàm của các khái
niệm, phạm trù, sự dung hợp đó còn thể hiện ở cả tính khuynh hướng và
phương pháp tu dưỡng.
Nho gia là học thuyết nhập thế. Tâm tính học của Nho gia chủ trương
tu tâm dưỡng tính ngay trong các quan hệ nhân tình thế tục cha con, anh
em chồng vợ. Phương pháp tu dưỡng của Nho gia là hướng vào nội tâm, tự
phản tỉnh, tự điều tiết. Nhà nho rất ráo riết trong phương diện truy cầu nội
tâm và tự ngã tu dưỡng. Khổng tử nói: “Vi nhân do kỷ diệc vi nhân hồ tai”
(làm người là do mình, nào phải do người) [37; tr. 15]; “Cầu chư kỷ vô cầu
chư ngoại” (cầu nơi mình, không cầu bên ngoài) [37; tr. 12],…
17
Quan niệm về Nhân tính là cơ sở triết học của thuyết tu dưỡng. Tu
dưỡng theo Nho gia, là nhằm đạt tới sự hoàn thiện của nhân cách, trong tu
dưỡng có lạc thú của sự rèn luyện. Nho gia không hướng tới thế giới siêu
việt, không có cõi giải thoát chung cục, nhưng lại cũng có một thế giới tinh
thần “tự lạc” phong phú đủ làm thỏa mãn tinh thần con người. Lạc thú của
Nho gia là lạc thú trong chính sự tu dưỡng, trong việc xử lý các quan hệ.
Lạc thú của Nho gia là lạc thú trong cõi hiện thế, cõi đời thực. Họ cảm thấy
vui thú khi học được điều gì áp dụng vào thực tiễn tu thân của mình “học
nhi thời tập chi, bất diệc lạc hồ” (học mà có thể thực hành, chẳng phải vui
sao), hay cảm giác “tự lạc” xuất hiện khi phản tỉnh nội tâm thấy không có
điều gì lầm lỗi “nội tỉnh bất cứu tắc hà ưu hà hoạn” (xoi xét mình thấy
không lầm lỗi thì chẳng phải âu lo, phiền muộn)… Sự siêu việt của Nho gia
ngay chính con đường tu dưỡng để minh tâm kiến tính, ngộ đạo giải thoát.
Nó dễ được cộng đồng cư sĩ tu tại gia chấp thuận và cả Phật tử bình dân
không xuất gia khác cũng thấy gần gũi, dễ tu.
Cư trần lạc đạo phú, dù là tác phẩm văn học Phật giáo nhưng nó
cũng có dáng dấp một bài thánh huấn của Nho gia, dạy dỗ đệ tử, giáo
hóa chúng dân. Trần Nhân Tông khuyên đệ tử, đồng thời cũng là tự
khuyên mình:
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo.
Mến đức cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ bẩy)
Như vậy, người thực hiện đạo quân thần phụ tử, thờ chúa thờ cha
ngay thảo, là một thực tiễn đạo đức, thực tiễn tu dưỡng. Nó là việc của đời
sống thế tục, nhưng tận đạo ấy, tâm tính cũng an nhiên tự lạc. Cái “tự lạc”
đó đồng nhất với việc “kiến tính thành Phật”. Nó là sự triển khai của tinh
19
thần nhập thế, là hiện thực hóa của “cư trần lạc đạo”. Nói cách khác nó lại
cũng chính là tùy duyên tự lạc. Với nhân nghĩa đạo đức ấy, lại thêm chay
lòng lắng dục, “thể tính an nhàn”, “muôn nghiệp đều lặng”, con người ấy
có thể tùy tục:
Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa, hoặc chằm hoặc xể;
Cơm cùng cháo đói no đòi bữa, dầu bạc dầu thoa.
(Cư trần lạc đạo phú, hội thứ năm)
Thực chẳng khác gì nhà Nho ẩn dật, “an bần lạc đạo” với giỏ cơm,
bầu nước, gối lên khuỷu tay mà nhìn phú quý tựa chiêm bao, tận hưởng
thân tâm nhàn dật.
Những vấn đề của Nho gia được nói tới trong các trước tác của Trần
Nhân Tông hoặc là những vấn đề của thực tiễn đạo đức rất gần gũi, thường
nhật mà không phải là những vấn đề lý luận cao siêu. Nó thành lời khuyên
trải qua hơn 200 năm xây dựng và phát triển dưới triều Lý (1009 - 1225),
đến triều Trần, nước Đại Việt đã trở thành một quốc gia cường thịnh. Một
mặt, phát huy những truyền thống vốn có từ nghìn năm dựng nước và giữ
nước, mặt khác kiến tạo thêm những giá trị mới mang hơi thở thời đại, triều
Trần đã đưa dân tộc bước vào giai đoạn trùng hưng với khí thế hồ hởi chưa
từng có. Tiềm năng của dân tộc được hồi sinh mạnh mẽ, nội lực dân tộc
được phát huy hết chiều kích tạo nên những thành tựu nổi bật về nhiều
phương diện.
Thời Trần, với sự lãnh đạo của những vị vua “anh minh thần võ” như
Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông; với tài năng của các
tướng lĩnh như Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật... và
đặc biệt là với sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, muôn người như một hừng
hực chung một “hào khí Đông A”, dân tộc ta đã tạo nên những kỳ tích
21
trong công cuộc bảo vệ Tổ quốc. Cả ba lần xua quân sang xâm lược, cả ba
lần quân Nguyên Mông - đạo quân xâm lược khét tiếng hung hãn từng tung
hoành từ Á sang Âu thời đó - phải chịu thất bại một cách nhục nhã. Chiến
thắng ấy vĩ đại đến mức nhà Nguyên phải tỏ ra kiêng dè, khiếp sợ. Sứ thần
nhà Nguyên là Trần Phu, sau khi sang sứ nước ta trở về đã phải thừa nhận
trong bài Giao châu sứ hoàn cảm sự (Đi sứ Giao châu về, cảm tác):
Dĩ hạnh quy lai thân kiện tại,
Mộng hồi do giác chướng hồn kinh.
(Đã may mà được trở về, tấm thân khỏe mạnh còn đây,
Sau giấc ngủ, tỉnh dậy còn thấy thần hồn kinh sợ)
Giai cấp phong kiến thời Trần là một lực lượng tiến bộ, trở thành đại
biểu của nhân dân. Với chủ trương “thân dân”, “trọng dân”, nhà Trần quy
tụ được sức mạnh toàn dân tộc trong kháng chiến chống ngoại xâm cũng
như trong xây dựng và phát triển đất nước. Lúc này, khoảng cách giữa triều
Từ thực tế trên, có thể nói thời Trần là một thời đại anh hùng. Chỉ
có thời ấy mới tạo ra được con người ấy - những con người mang trong
mình vẻ đẹp nhân văn sâu sắc. Lê Quý Đôn, học giả uyên bác thế kỷ
XVIII, đã nhận xét về con người thời Trần trong phần Tài phẩm, sách
Kiến văn tiểu lục như sau:“Đấy là những người trong trẻo, cứng rắn, cao
thượng, thanh liêm, có phong độ như sĩ quân tử thời Tây Hán, thật không
phải người tầm thường có thể theo kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ
phu rộng rãi mà không bó buộc, hòa nhã mà có lễ độ, cho nên nhân vật
trong thời ấy có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng vượt ra
ngoài thói thường, làm rạng rỡ sử sách, trên không hổ với trời, dưới
không thẹn với đất”.[16; tr.17]
23
Nhận xét trên của Lê Quý Đôn đã thâu tóm được một cách sâu sắc
bản lĩnh và khí tiết của con người thời Trần. “Hào khí Đông A” cùng với
khí thế hồ hởi của thời đại đã góp phần tạo nên hình ảnh những con người
mang vẻ đẹp đặc biệt. Đó là những con người đã sống một cuộc đời oanh
liệt và hoành tráng. Các bô lão muôn người như một hô vang “quyết đánh”
rung chuyển cả điện Diên Hồng. Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản vì nhỏ tuổi
không được dự hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than, phẫn uất đến mức bóp nát
quả cam lúc nào không biết. Trần Bình Trọng khi rơi vào tay kẻ thù vẫn
giữ tròn khí tiết của bậc làm tướng “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không
thèm làm vương đất Bắc”. Đó còn là những con người có hành động rất lạ,
chỉ xuất hiện trong thời này mà hầu như không thấy xuất hiện trong bất cứ
một thời đại nào khác. Trần Thái Tông sẵn sàng bao dung, tha tội cho
Hoàng Cự Đà khi ông này ức vì không được ăn xoài mà không cứu giá, bởi
lẽ vua hiểu sâu sắc tâm lý con người và biết cái lỗi trước hết là do mình.
Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông dám dùng Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn vào chức Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân đội mặc dù biết
cho nhà chùa. Thời Tiền Lê, sư tăng ngày càng có vai trò quan trọng trong
triều đình, được đặc biệt ưu đãi, thường giữ việc đi sứ hoặc tiếp sứ. Thời
Lý, Phật giáo trải qua giai đoạn hưng thịnh nhất. Bước sang thời Trần, chi
phối xã hội mạnh mẽ nhất lúc này là Phật giáo. Bấy giờ, chùa chiền được
dựng lên ở khắp nơi, từ kinh đô Thăng Long cho đến mọi miền của đất
nước; số người xuất gia tu hành rất đông, nói như nhà Nho Lê Quát đời
Trần:“phân nửa thiên hạ đi tu”. Trong số đó có cả những người trong
hoàng tộc, thậm chí là cả hoàng đế. Họ thường thỉnh các bậc cao tăng về tư
dinh để được nghe giảng đạo. Ba vị vua đầu tiên của vương triều là Thái
Tông, Thánh Tông, Nhân Tông không chỉ là các vị vua Phật tử mà còn là
những người có kiến thức Phật học ở trình độ cao, và hơn hết đều là những
Thiền giả đã chứng ngộ. Các vua Anh Tông, Minh Tông kế tiếp đều là Phật
25