Lêi c¶m ¬n
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thị Phương đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Giáo dục
mầm non, phòng Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đinh Thị Lương
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDMT
: Giáo dục môi trường
GDBVMT
: Giáo dục bảo vệ môi trường
GDHVBVMT
: Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường
CĐSHHN
: Chế độ sinh hoạt hàng ngày
ĐC
Bảng 3.6: Kết quả khảo sát hành vi BVMT của trẻ nhóm ĐC..........95
và nhóm TN sau TN (tính theo TC).......................................................95
Bảng 3.7. Hiệu quả GDHVBVMT của nhóm ĐC và nhóm TN .........98
trường mầm non Trung Môn (Sau TN)..................................................98
Bảng 3.8. Hiệu quả GDHVBVMT của nhóm ĐC và nhóm TN .........99
trường mầm non Thắng Quân (Sau TN)...............................................99
Bảng 3.9. So sánh hiệu quả giáo dục hành vi bảo vệ môi tr ường c ủa
trẻ nhóm ĐC và nhóm TN giữa trước và sau thực nghiệm..........................99
Bảng 3.8. Kiểm định hiệu quả thực nghiệm giữa nhóm ĐC...........102
và nhóm TN (Sau TN)...........................................................................102
Bảng 3.9. Kiểm định hiệu quả thực nghiệm.....................................103
của nhóm TN giữa trước TN và sau TN..............................................103
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Thực trạng môi trường hiện nay đang trở thành vấn đề nóng bỏng
trên toàn cầu. Môi trường đang bị hủy hoại từng ngày, từng giờ ở khắp mọi
nơi trên thế giới. Loài người đang đứng trước những thách thức vô cùng to
lớn của tự nhiên như nạn lạm phát tài nguyên, cạn kiệt môi trường, ô nhiễm
môi trường. Có thể nói, môi trường đang thực sự lâm vào cuộc khủng hoảng
với quy mô toàn cầu và trở thành nguy cơ trực tiếp đối với cuộc sống hiện tại
và sự tồn vong của toàn xã hội trong tương lai. Nhận thức như thế nào và làm
gì để bảo vệ môi trường đó là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới
quan tâm.
Con người là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng suy
thoái môi trường nhưng chính con người cũng là nhân tố tích cực nhằm bảo
vệ môi trường và cải thiện môi trường sống. Nhằm khắc phục hậu quả do con
trường cho trẻ mầm non nhằm đưa vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Tuy nhiên, việc thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều hạn chế:
Quá trình giáo dục chưa thường xuyên, liên tục; nhiều giáo viên chưa biết
cách sử dụng các biện pháp giáo dục môi trường một cách phù hợp, chưa biết
phát huy thế mạnh của từng biện pháp; việc giáo dục cũng mới chỉ dừng lại ở
mức độ cung cấp những kiến thức thông thường mà chưa khai thác sâu ở mức
độ hình thành hành vi. Vì vậy mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ
mầm non chỉ có thể tốt khi có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa những tri thức
mà trẻ tiếp thu được với những biện pháp tích cực của giáo viên nhằm hình
thành hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ.
Chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non là sự phân phối
thời gian, trình tự các hình thức hoạt động và nghỉ ngơi luân phiên trong ngày
một cách hợp lý, nhằm tiến hành nội dung công tác giáo dục đạt hiệu quả cao
nhất. Chế độ sinh hoạt hàng ngày có nhiều ưu thế trong việc giáo dục hành vi
bảo vệ môi trường của trẻ mầm non. Cuộc sống hàng ngày là phương tiện tốt
2
nhất để giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ. Tổ chức chế độ sinh hoạt
cũng chính là tổ chức cuộc sống hàng ngày của trẻ. Vì vậy, nếu chúng ta biết
tổ chức tốt chế độ sinh hoạt hàng ngày thì mục tiêu giáo dục môi trường sẽ dễ
dàng được thực hiện. Chế độ sinh hoạt hàng ngày là nơi cung cấp cho trẻ
những tình huống thực tế để trẻ trải nghiệm, từ đó làm thay đổi thái độ, hành
vi của trẻ đối với môi trường một cách tích cực.
Xuất phát từ những lí do trên, căn cứ vào ưu thế của việc tổ chức chế
độ sinh hoạt hàng ngày đối với giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non,
tôi chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5
tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non”.
2. Mục đích nghiên cứu
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa
những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a/ Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket)
Thu thập ý kiến của giáo viên bằng phiếu nhằm tìm hiểu thực trạng
giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi ở một số trường mầm non
trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
b/ Phương pháp quan sát
Dự giờ, quan sát quá trình giáo viên tổ chức hướng dẫn giáo dục hành
vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày.
Quan sát hiệu quả của giáo dục hành vi bảo vệ môi trường của trẻ 4-5
tuổi thông qua các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày.
c/ Phương pháp đàm thoại
Sử dụng hệ thống câu hỏi, trao đổi, trò chuyện với giáo viên và trẻ về
những vấn đề liên quan đến biện pháp mà giáo viên đã sử dụng trong quá
trình giáo dục HVBVMT cho trẻ 4- 5 tuổi ở trường mầm non.
d/ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm hiệu
quả của các biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi
thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
6.4. Phương pháp thống kê toán học
Thu thập và phân tích số liệu nghiên cứu thông qua các tham số thống
kê: Tỉ lệ %, trung bình (X), độ lệch chuẩn (S), đại lượng kiểm định (T).
7. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu vấn đề giáo dục HVBVMT cho trẻ 4-5 tuổi thông qua
chế độ sinh hoạt hàng ngày ở một số trường mầm non trên địa bàn huyện
Yên Sơn- Tuyên Quang.
4
Năm 1948, tại cuộc họp Liên hợp Quốc về Bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng.
Tuy nhiên việc giáo dục môi trường thực sự được quan tâm khi những hiểm
họa về sự tồn vong của con người đã trở nên báo động. Trái đất – Ngôi nhà
chung của nhân loại bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng do chính những
hành động mà con người gây ra. Sau đó, các quốc gia trên thế giới đã lần lượt
tổ chức các hội nghị, hội thảo và đề ra được nhiều chiến lược, sách lược quan
trọng về vấn đề bảo vệ môi trường theo những hướng cơ bản sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về mục tiêu, nguyên tắc giáo dục môi trường.
Vào tháng 5 năm 1958, Hội đồng cộng đồng châu âu đã họp và thống nhất
đưa ra nghị quyết về giáo dục môi trường với những mục tiêu và nguyên tắc sau:
- Mục tiêu của giáo dục môi trường là nâng cao nhận thức của nhân dân
đối với các vấn đề về môi trường cũng như các giải pháp có thể, đặt nền móng
cho sự tham gia tích cực với đầy đủ kiến thức của từng cá nhân trong việc bảo
vệ môi trường và sử dụng một cách hợp lý, sáng suốt các tài nguyên thiên
nhiên.
Để đạt được những mục tiêu trên, giáo dục môi trường cần phải tính
đến các nguyên tắc mang tính chỉ dẫn sau:
- Môi trường phải được coi là tài sản của nhân loại.
- Nhiệm vụ chung đó là sự đóng góp cho việc bảo vệ sức khỏe con
người và giữ gìn cân bằng sinh thái, duy trì và bảo vệ môi trường.
- Sự cần thiết đối với việc sử dụng hợp lí, sáng suốt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên.
- Đường lối mà mỗi cá nhân với tư cách là người tiêu dùng có thể đóng
góp cho việc bảo vệ môi trường bằng hành vi, thái độ của mình.
Năm 1975, tại Belyrade (Nam Tư) Chương trình giáo dục môi trường
quốc tế (IEEP) ra đời. Tại Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về giáo dục môi
6
7
Trong năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có
báo cáo “ Tương lai chung của chúng ta” (WCED 1987). Bản báo cáo đã đưa ra
công bố “Chương trình nghị sự toàn cầu” Giáo dục được coi là trọng tâm của
chương trình này :“Sự thay đổi thái độ mà chúng ta cố gắng phụ thuộc vào các
chiến dịch giáo dục lớn, các cuộc thảo luận và sự tham gia của quần chúng”
Môi trường và sự phát triển có mối quan hệ với nhau. Chính sự suy
thoái về môi trường là vật cản chủ yếu đối với sự phát triển. Bảo vệ môi
trường là mục tiêu quan trọng nhất để đạt được tốc độ phát triển bền vững.
Hội nghị Thượng đỉnh (UNCED) diễn ra tại Rio de Janeco (Brazil) vào
năm 1992 có 170 nước tham dự. Hội nghị thảo luận vấn đề mấu chốt là “Chương
trình Nghị sự 21”. Chương trình nhằm chỉ ra cho các quốc gia biết cần phải làm
những gì để đạt được sự phát triển mang tính chất duy trì trong thế kỷ XXI. Hội
nghị nhất trí cao phát triển và giáo dục môi trường phải là một bộ phận thống
nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức. Hội
nghị cũng đưa ra dự kiến là mọi chính phủ phải nỗ lực phấn đấu để cập nhật hóa
hoặc chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển
thành vấn đề trọng tâm để đưa vào các cấp giáo dục.
Thứ ba, nghiên cứu về trách nhiệm của con người đối với việc phát
triển môi trường một cách bền vững.
Nghị định thư Kyoto năm 1997 đưa ra chỉ tiêu cắt giảm lượng khí thải
gây hiệu ứng nhà kính có tính ràng buộc pháp lý đối với các nước phát triển
và cơ chế đối với các nước đang phát triển nhằm đạt được sự phát triển kinh
tế xã hội một cách bền vững thông qua thực hiện “cơ chế phát triển sạch”.
Hội nghị quốc tế về môi trường với chủ đề: “Các công dân trên trái đất”
diễn ra tại Pari (Pháp) năm 2007 với mục đích đưa ra các giải pháp hiệu quả để
bảo vệ an toàn trái đất trước nguy cơ biến đổi bất lợi do con người gây ra. “ Lời
kêu gọi Pari” đã khuyến khích kêu gọi tất cả các nước, tất cả mọi người chung
9
+ Hình thành và phát triển kỹ năng bảo vệ môi trường.
+Hình thành thái độ và trách nhiệm đối với môi trường.
Ở nhiều quốc gia, giáo dục môi trường được đưa vào giảng dạy như
một môn học chính khóa nhưng cũng có nhiều nước lại đưa vào giảng dạy
như một môn học tự chọn. Các quốc gia này đều thấy được nếu chỉ học trên
lớp vẫn chưa đủ mà cần phải có kinh nghiệm của cuộc sống thực tế, giáo dục
nhận thức và hành động phải được tiến hành đồng thời, có hiệu quả.
Sau khi nghiên cứu vấn đề giáo dục ở một số quốc gia trên thế giới,
chúng tôi thấy có 2 xu hướng cơ bản: Thứ nhất, giáo dục môi trường bằng
cách tiếp cận như những môn học, những chuyên đề nhỏ, một khóa học với
những nội dung rất gần gũi, địa điểm học thú vị; Thứ hai, giáo dục môi trường
được lồng ghép, tích hợp vào các lĩnh vực, các hoạt động giáo dục khác nhau.
* Giáo dục môi trường bằng cách tiếp cận như những môn học, những
chuyên đề nhỏ, một khóa học với những nội dung rất gần gũi, địa điểm học thú vị.
Ở Mỹ: Liên đoàn quốc gia bảo vệ cuộc sống hoang dã (NWF) đã giảng
dạy tại các trường 33 bài học về môi trường. Tùy vào tình hình cụ thể mà có
thể áp dụng các bài học vào trong cuộc sống. Vào các kì nghỉ hè, nhiều khóa
học về môi trường kéo dài vài tuần với những nội dung rất gần gũi nhằm bổ
trợ kiến thức và xây dựng kỹ năng cho học sinh. Các khóa học này có thể diễn
ra ở viện bảo tàng, một trang trại hoặc công viên.
Philippines đã thực nghiệm một chương trình giáo dục môi trường trong
nhà trường và trong cộng đồng xã hội. Trong chương trình phổ thông có một
số bài chuyên về giáo dục môi trường, kèm theo những tài liệu đọc thêm về
tình hình môi trường của đất nước, của địa phương và có một chương trình
giáo dục môi trường cụ thể tại các trường đào tạo giáo viên và hiệu trưởng.
Indonesia thực hiện giáo dục môi trường với 8 chuyên đề: Bảo vệ rừng,
chống hoang hóa, chống xói mòn, hiện tượng bồi tụ lòng sông, bảo vệ nguồn
a. Những nghiên cứu ở tầm vĩ mô
11
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục môi trường được coi là một bộ phận không
thể tách rời của sự nghiệp giáo dục và là nhiệm vụ của toàn dân. Công tác giáo
dục môi trường đã được đặt ra trong các văn bản của Nhà nước, Bộ giáo dục và
đào tạo, là cơ sở triển khai công tác giáo dục môi trường trong thực tiễn.
Từ năm 1991, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm và chú trọng nhiều
đến việc tổ chức quản lí, đưa công tác bảo vệ môi trường vào cuộc sống, xây
dựng hệ thống luật pháp, nâng cao nhận thức của nhân dân, tăng cường đầu tư
cho công tác bảo vệ môi trường.
Năm 1993, Quốc hội đã thông qua Luật bảo vệ môi trường. Trong điều 4
của Luật đã xác định rõ giáo dục và đào tạo là một trong những nhiệm vụ bảo vệ
môi trường: “Nhà nước có trách nhiệm tổ chức việc thực hiện giáo dục và đào
tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ, phổ biến kiến thức về khoa học và pháp
luật bảo vệ môi trường. Các tổ chức và các cá nhân có trách nhiệm tham gia vào
các hoạt động bảo vệ môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường. ”
Đảng và Nhà nước ta đã thể hiện sự nỗ lực cải thiện và bảo vệ môi
trường thông qua việc tích cực tham gia các chương trình quốc tế về môi
trường cùng với việc hoạch định và thực hiện các chương trình hành động
quốc gia về môi trường.
Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25-06-1998 của Bộ Chính trị về “Tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước” đã coi vấn đề GDBVMT là giải pháp đầu tiên. Chỉ thị đề ra 8
giải pháp lớn về BVMT, phát triển bền vững trong thời gian tới ở nước ta,
trong đó có nhiều giải pháp liên quan đến giáo dục.
Quyết định số 1363/ QĐ-TTg ngày 17-10-2001 của Thủ tướng Chính
phủ về việc phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục môi trường vào hệ thống
môi trường là chính”, Nghị quyết tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
và trách nhiệm BVMT là giải pháp số 1 trong 7 giải pháp bảo vệ môi trường
và xác định “Đưa nội dung giáo dục BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân,
tăng cường thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khóa đối với các
lớp học phổ thông”
13
Xuất phát từ những chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước
trong các văn bản vừa kể trên, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành chính sách
và chiến lược giáo dục BVMT, tổ chức triển khai các nhiệm vụ về GDBVMT
và thực hiện tốt các hoạt động GDBVMT trong nhà trường, chủ trương xây
dựng các trường học xanh – sạch – đẹp, phong trào xanh hóa nhà trường.
Ngày 31-01- 2005, Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ra chỉ thị số
02/2005/CT/BGD&ĐT về “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường
trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Chỉ thị đã xác định rõ mục tiêu, nội dung
của công tác giáo dục bảo vệ môi trường.
Ngày 21-04-2006, Vụ giáo dục Mầm non, Bộ giáo dục và Đào tạo đã
có công văn 3200 hướng dẫn thực hiện chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc “Tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong
trường mầm non giai đoạn 2005-2010”. Công văn đã xác định rõ mục tiêu,
nội dung của công tác giáo dục bảo vệ môi trường và đề ra nhiệm vụ cụ thể
cho các cấp, các ngành tham gia vào công tác giáo dục bảo vệ môi trường.
b. Những nghiên cứu cụ thể về GDMT cho trẻ MN
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân. Trong chương trình chăm sóc trẻ hiện nay, nội dung giáo dục BVMT
được lồng ghép vào các hoạt động trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ
như: Vui chơi, học tập, lao động, ăn, ngủ, vệ sinh...
Trong những năm qua, có rất nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục
môi trường cho trẻ mầm non ra đời như:
Ngoài ra, có rất nhiều đề tài luận văn liên quan đến vấn đề giáo dục môi
trường và giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non của các tác giả Lê Thị
Thanh Hà, Phạm Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Thanh Đào (Khoa Giáo dục
Mầm non - Trường ĐHSP Hà Nội).
15
1.1.2. Khái niệm “Biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ
mầm non”
1.1.2.1. Khái niệm “Môi trường”
Môi trường có vai trò quan trọng đối với con người và động, thực vật trên
trái đất: Là không gian sinh sống của con người và các sinh vật khác: Là nơi
chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống, sản xuất của con người.
Đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Vậy môi trường là gì?
Theo Từ điển môi trường (Dictionary of Environment) của Gurdey Rej
(1981) định nghĩa môi trường như sau: “Môi trường là hoàn cảnh vật lý, hóa
học, sinh học bao quanh sinh vật, đó gọi là môi trường bên ngoài. Còn các
điều kiện, hoàn cảnh vật lý, hóa học, sinh học trong cơ thể được gọi là môi
trường bên trong”
Theo Từ điển bách khoa Larouse thì định nghĩa môi trường được mở
rộng hơn: “Môi trường là tất cả những gì bao quanh chúng ta hoặc sinh vật.
Nói cụ thể hơn, đó là các yếu tố tự nhiên và nhân tạo diễn ra trong không gian
cụ thể, nơi đó có thể có sự sống hoặc không có sự sống. Các yếu tố đều chịu
ảnh hưởng sâu sắc của những định luật vật lý mang tính tổng quát hoặc chi
tiết như luật hấp dẫn vũ trụ, bảo tồn vật chất...Trong đó hiện tượng hóa học và
sinh học là những đặc thù cục bộ. Môi trường bao gồm tất cả những nhân tố
tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp với sinh vật và quần xã sinh vật. ”
Theo định nghĩa của UNESCO: “Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ
thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (đô
thị, hồ chứa,...) và những cái vô hình (tập quán, nghệ thuật,...), trong đó con
toàn nhân loại. Khí hậu ngày càng khắc nghiệt và khó dự báo hơn, mưa, bão,
lũ quét thất thường, suy thoái đất, nước, suy giảm nguồn tài nguyên rừng. Ô
nhiễm môi trường gây ra trên diện rộng. Đó là các vấn đề môi trường mà toàn
nhân loại đã và đang phải đối mặt. Con người đã tác động quá nhiều đến môi
trường, khai thác đến mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc
hại làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề.
17
Bảo vệ môi trường là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại. Bảo
vệ môi trường nói chung và giáo dục, đào tạo về bảo vệ môi trường nói riêng
đã được Đảng, Nhà nước quan tâm từ nhiều năm nay và đã có một số chủ
trương, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trường.
Trong Luật Bảo vệ môi trường của nước ta ban hành ngày 12/12/2005,
khái niệm Bảo vệ môi trường được hiểu như sau: “Bảo vệ môi trường là hoạt
động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn chế tác động
xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy
thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học” (Điều 3, chương I, Luật Bảo vệ
môi trường năm 2005)
Theo các tác giả: Hoàng Thị Thu Hương, Trần Thị Thu Hòa, Trần Thị
Thanh [19;9] đã đưa ra khái niệm bảo vệ môi trường như sau: “Bảo vệ môi trường
là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng
sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây
ra cho môi trường, khai thác và sử dụng hợp lý các tài nguyên thiên nhiên”
Từ những quan điểm khác nhau về bảo vệ môi trường, chúng tôi khái
quát khái niệm bảo vệ môi trường như sau:
Bảo vệ môi trường là những hoạt động tích cực của con người tác
động đến môi trường giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động xấu đối
những cách thức để con người thích nghi với môi trường. Các quan điểm trên
chưa đánh giá đúng bản chất của hành vi, hạ thấp vai trò tích cực của con người.
Tâm lý học Macxit quan niệm hành vi con người là cuộc sống, lao
động, thực tiễn tức là hoạt động. Hành vi của con người là biểu hiện bên
ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ
thể, của nhân cách.
Theo L. X. Vưgotxki, hành vi con người được hiểu là quá trình nắm lấy
các chức năng tâm lý xã hội của bản thân, tức là hành vi được hiểu là hoạt động
19
nhằm vào bản thân để tổ chức hành vi của mình, đồng thời tham gia vào hoạt
động bên ngoài, tác động lên các đối tượng bên ngoài hoặc những người khác.
Hành vi của con người có sự khác biệt so với hành vi của con vật. Nét
đặc trưng của hành vi con người chính là có sự tham gia điều khiển của tâm
lý, ý thức. Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động được điều
chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ thể.
Như vậy có thể hiểu hành vi là những hành động và cách cư xử được
điều chỉnh bởi chủ thể có ý thức. Nghĩa là khi chủ thể hành động nắm được
cái nghĩa (lôgic của hành vi) và thực hiện hành vi đó theo một cái ý nhất định
(nhu cầu, tình cảm..) của cá nhân mình, đồng thời có khả năng thực hiện được
hành vi đó.
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra khái niệm “Hành vi bảo vệ
môi trường” như sau:
Hành vi bảo vệ môi trường là những hành động có ý thức của con
người tác động đến môi trường giúp ngăn chặn và hạn chế những tác động
xấu đối với môi trường làm cho môi trường thêm trong sạch, sử dụng hợp lí
và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường.
1.1.2.4. Khái niệm “Biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho