Lêi c¶m ¬n
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Hoàng Thị Phương đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo trong khoa Giáo dục
mầm non, phòng Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em trong thời gian học tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình học tập và hoàn thành công trình nghiên cứu này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2014
Tác giả
Đinh Thị Lương
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDMT
: Giáo dục môi trường
GDBVMT
: Giáo dục bảo vệ môi trường
GDHVBVMT
: Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường
CĐSHHN
: Chế độ sinh hoạt hàng ngày
ĐC
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội thông qua
ngày 27/12/1993 và có hiệu lực từ ngày 10/01/1994 coi giáo dục môi trường
là một trong những nhiệm vụ hàng đầu.
Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường đã được đưa vào giảng dạy tại rất
nhiều trường ở tất cả các cấp học từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông đến đại học và sau đại học. Giáo dục bảo vệ môi trường cho
học sinh, sinh viên là điều hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với bậc học mầm
non vì đây là bậc học nền móng, là cơ sở, là mắt xích quan trọng cho các bậc
1
học tiếp theo. Vì vậy việc giáo dục ý thức, thái độ, hành vi đúng đắn trong
việc bảo vệ môi trường phải bắt đầu ngay từ tuổi mầm non.
Môi trường là nguồn tri thức thực tế mà trẻ có thể lĩnh hội được một
cách có ý thức dựa trên nhận thức cảm tính và giáo dục thái độ đúng đối với nó.
Sự thiếu hụt tri thức, biểu tượng không đúng sẽ là nguyên nhân gây nên thái độ
thiếu nhân hậu của trẻ đối với động vật, dẫn đến hành vi tàn sát chúng. Điều này
không chỉ làm hại môi trường mà còn ảnh hưởng xấu đến tâm lý của trẻ. Hơn
nữa việc sửa đổi những biểu tượng không đúng ở trẻ thường khó hơn là hình
thành biểu tượng mới. Chính vì vậy, điều quan trọng là ngay từ lứa tuổi mầm
non cần hình thành những tri thức, hành vi đúng về vấn đề bảo vệ môi trường.
Thực tiễn dạy học mầm non hiện nay, vấn đề giáo dục bảo vệ dục môi
trường cho trẻ cũng đã được các nhà quản lý cũng như các giáo viên quan
tâm. Có rất nhiều công trình nghiên cứu về nội dung giáo dục bảo vệ môi
trường cho trẻ mầm non nhằm đưa vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ.
Tuy nhiên, việc thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cũng còn nhiều hạn
chế: Quá trình giáo dục chưa thường xuyên, liên tục; nhiều giáo viên chưa
biết cách sử dụng các biện pháp giáo dục môi trường một cách phù hợp, chưa
biết phát huy thế mạnh của từng biện pháp; việc giáo dục cũng mới chỉ dừng
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi ở trường
mầm non.
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi
thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho
trẻ 4-5 tuổi theo hướng tận dụng cơ hội để trẻ trải nghiệm hành vi bảo vệ môi
trường trong các hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ ở trường mầm non
thì hành vi bảo vệ môi trường của trẻ sẽ được nâng cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 . Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của việc giáo dục
hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng
ngày của trẻ ở trường mầm non.
3
5.2. Đề xuất các biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ
4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
5.3. Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả của các biện pháp đã đề
xuất và khẳng định tính khả thi của đề tài nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.2. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa
những tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6.3. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a/ Phương pháp điều tra bằng phiếu (Anket)
Thu thập ý kiến của giáo viên bằng phiếu nhằm tìm hiểu thực trạng
- Làm rõ thực trạng của việc giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ 4-5
tuổi ở trường mầm non và chỉ ra nguyên nhân của trực trạng.
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho
trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
9. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị.
Phần nội dung có 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục hành vi bảo vệ môi
trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
Chương 2 : Đề xuất một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi trường
cho trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
Chương 3: Thực nghiệm một số biện pháp giáo dục hành vi bảo vệ môi
trường cho trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
PHẦN 2: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC HÀNH VI
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO TRẺ 4-5 TUỔI THÔNG QUA CHẾ ĐỘ
SINH HOẠT HÀNG NGÀY Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hàn vi bảo vệ môi trường cho
trẻ 4-5 tuổi thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non.
1.1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề.
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài
5
a. Những nghiên cứu, chiến lược mang tính quốc tế
Năm 1948, tại cuộc họp Liên hợp Quốc về Bảo vệ môi trường và tài
nguyên thiên nhiên ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng.
Tuy nhiên việc giáo dục môi trường thực sự được quan tâm khi những hiểm
- Nâng cao nhận thức và quan tâm tới mối quan hệ tương tác về kinh tế,
chính trị, xã hội, sinh thái giữa nông thôn và thành thị.
- Cung cấp cho mỗi cá nhân những cơ hội tiếp thu kiến thức, những giá
trị, quan niệm, trách nhiệm và các kỹ năng cần thiết nhằm bảo vệ và cải tạo
môi trường.
- Tạo ra những mô hình ứng xử với môi trường cho các cá nhân, các tổ
chức cũng như toàn xã hội.
Thứ hai, nghiên cứu tầm quan trọng của giáo dục đối với các vấn đề
về môi trường.
Năm 1977, tại Tbilisi (Liên Xô) UNESCO đã tổ chức Hội nghị Liên
chính phủ đầu tiên về giáo dục môi trường bao gồm 66 nước tham dự. Hội
nghị đưa ra các ý kiến đóng góp cho việc áp dụng rộng rãi nội dung giáo dục
môi trường trong chương trình giáo dục chính thức và không chính thức. Nội
dung về giáo dục môi trường trong văn kiện của Hội nghị có thể tóm tắt như
sau: “ Nếu như muốn đạt được các mục tiêu bảo tồn thì hành vi cư xử của một
xã hội đối với sinh quyển bắt buộc phải thay đổi... Nhiệm vụ lâu dài của giáo
dục môi trường là khuyến khích hoặc củng cố các hành vi, thái độ mang tính
đạo đức mới”
Sau đó vào năm 1987, nhân kỷ niệm 10 năm Hội nghị Tbilisi đầu tiên,
một loạt các vấn đề cơ bản về môi trường được đưa ra thảo luận, trong đó
nhấn mạnh đặc biệt tới tầm quan trọng của giáo dục môi trường, và khẳng
định sẽ không thể giảm được mối đe dọa mang tính khu vực và quốc tế đối
với môi trường trừ phi ý thức của đại đa số quần chúng được thức tỉnh.
7
Trong năm 1987, Ủy ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có
báo cáo “ Tương lai chung của chúng ta” (WCED 1987). Bản báo cáo đã đưa ra
công bố “Chương trình nghị sự toàn cầu” Giáo dục được coi là trọng tâm của
đó là quyền được sống trong một môi trường an toàn được bảo vệ.
Như vậy, thông qua diễn biến của các hội nghị, hội thảo về vấn đề môi
trường trên thế giới trong nhiều năm qua cho thấy các quốc gia trên thế giới
đều xem giáo dục là công cụ quan trọng nhất để giáo dục môi trường, là tác
nhân có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thay đổi nhận thức của con người đối
với các vấn đề môi trường. Tất cả các hội nghị, hội thảo đều hướng tới việc
làm cho môi trường toàn cầu được cải thiện tốt đẹp hơn.
Ngày môi trường thế giới (WED) đặt ra thông điệp cụ thể trong mỗi
giai đoạn nhất định. Chủ đề ngày môi trường thế giới năm 2013 là “Hãy nghĩ
về môi trường trước khi tiêu thụ thực phẩm” Nhằm khuyến khích mọi người
có ý thức hơn về các tác động tới môi trường từ việc lựa chọn thực phẩm của
mình, từ đó đưa ra được những quyết định sáng suốt. Chủ đề ngày môi trường
thế giới năm 2014 là “Hãy hành động để ngăn chặn nước biển dâng”
b. Những nghiên cứu, chiến lược cấp quốc gia
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có cách thức bảo vệ môi trường riêng
biệt phù hợp với thực trạng môi trường, con người và điều kiện kinh tế xã hội
ở nước đó. Giáo dục môi trường được tiến hành song song giữa giáo dục gia
đình, nhà trường và xã hội bằng các biện pháp, phương pháp đa dạng nhằm
tác động đến ý thức của mỗi công dân.
Nhìn chung giáo dục môi trường thường được tiến hành dựa trên những
điểm cơ bản sau đây:
+ Tiếp cận và trải nghiệm các vấn đề môi trường trong thực tế.
+ Tăng cường những hiểu biết về môi trường.
+ Khuyến khích tham gia các hoạt động vì môi trường.
9
+ Hình thành và phát triển kỹ năng bảo vệ môi trường.
+Hình thành thái độ và trách nhiệm đối với môi trường.
Ở nhiều quốc gia, giáo dục môi trường được đưa vào giảng dạy như
* Giáo dục môi trường được lồng ghép, tích hợp vào các lĩnh vực, các
hoạt động giáo dục khác nhau.
Ở Liên Xô (cũ) những chủ đề bảo vệ môi trường không chỉ được lồng
ghép vào những môn học có liên quan đến môi trường như sinh học, địa lí,
hóa học...mà còn lòn ghép vào trong các môn học khác như: Giáo dục công
dân, đạo đức, thẩm mĩ. Khối kiến thức giáo dục môi trường được đưa vào bao
gồm: Mối quan hệ của con người với tự nhiên, vẻ đẹp thiên nhiên, phong tục,
luật pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên.
Ở Tiệp Khắc, sự lồng ghép và tích hợp giáo dục môi trường được thể
hiện ở cả chiều dọc và chiều ngang. Tích hợp theo chiều dọc là sự liên thông
logic các kiến thức giáo dục môi trường và các kỹ năng qua các bậc học và
năm học. Tích hợp theo chiều ngang là sự lồng ghép giáo dục môi trường vào
các môn học ở bậc học đó.
Ở Nhật Bản, giáo dục môi trường được gắn liền với nhiệm vụ giáo dục
đạo đức, phát triển các kỹ năng xã hội, cụ thể là “Ý thức nhóm”. Khuynh
hướng giáo dục này đã đạt được những thành tựu đáng kể trong giáo dục sinh
thái và môi trường cho thế hệ trẻ.
Qua các công trình nghiên cứu về giáo dục môi trường ở các quốc gia
trên thế giới thì giáo dục môi trường trong gia đình, nhà trường và cộng đồng
là 3 phạm vi cơ bản. Các quốc gia cũng đã nhận ra vai trò quan trọng của giáo
viên trong việc giáo dục bảo vệ môi trường ở tất cả các bậc học. Vì vậy việc
trang bị kiến thức về môi trường cho giáo viên là điều mà nhiều quốc gia
quan tâm đặc biệt.
1.1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước.
a. Những nghiên cứu ở tầm vĩ mô
11
Ở Việt Nam, vấn đề giáo dục môi trường được coi là một bộ phận không
có kiến thức về môi trường để tự giác thự hiện bảo vệ môi trường. Bên cạnh
đó, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên
cứu khoa học công nghệ và cán bộ quản lý về BVMT.
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020. Bốn quan điểm của chiến lược như sau:
- Chiến lược bảo vệ môi trường là bộ phận cấu thành không thể tách rời
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là cơ sở quan trọng để phát triển bền
vững đất nước. Đầu tư bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.
- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các
ngành, các tổ chức, cộng đồng và mọi người dân, bảo vệ môi trường mang
tính quốc gia, khu vực và toàn cầu cho nên phải kết hợp giữa phát huy nội lực
với tăng cường hợp tác quốc tế.
- Bảo vệ môi trường phải trên cơ sở tăng cường quản lý nhà nước, thể
chế và pháp luật đi đôi với việc nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của
mọi người dân, của toàn xã hội về bảo vệ môi trường.
- Bảo vệ môi trường là việc làm thường xuyên, lâu dài, coi phòng ngừa
là chính, kết hợp với xử lý và kiểm soát ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải
thiện chất lượng môi trường, tiến hành có trọng tâm, trọng điểm, coi khoa học
và công ngệ là công cụ hữu hiệu trong bảo vệ môi trường.
Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 41/NQ/TW về “Bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” với phương châm “Lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với
môi trường là chính”, Nghị quyết tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
và trách nhiệm BVMT là giải pháp số 1 trong 7 giải pháp bảo vệ môi trường
và xác định “Đưa nội dung giáo dục BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân,
tăng cường thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khóa đối với các
lớp học phổ thông”
13
- Dự án thiết kế thử nghiệm chương trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức
cho cán bộ giáo viên ngành học mầm non về môi trường (Trường CĐSP NTMGTW 1, 1998-1999)
- Đề tài “Xây dựng nội dung bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi
trong trường mầm non” (Trung tâm nghiên cứu GDMN – Viện khoa học giáo
dục, 1998-2000)
- Đề tài “Giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ từ 3-6 tuổi trong trường
mầm non theo quan điểm tích hợp” (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ - Tiến sĩ Lê
Thanh Vân – Khoa GDMN – Trường ĐHSP Hà Nội, 2003-2004)
- Giáo trình giáo dục môi trường cho trẻ mầm non (Hoàng Thị Phương,
NXB ĐHSP, 2013)
- Tài liệu hướng dẫn về GDMT ở mẫu giáo (Hoàng Đức Nhuận – Chủ
biên, Trung tâm nghiên cứu giáo dục dân số và môi trường, 1998)
- Biên soạn tài liệu nâng cao nhận thức cho giáo viên mầm non về bảo
vệ môi trường (Trường CĐSP NT-MGTW 1, 2001-2002)
- Nâng cao năng lực giáo dục môi trường của sinh viên trường CĐSP
mầm non (Trường CĐSP NT-MGTW 2, 2001-2003)
- Hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong
trường mầm non (Nhà xuất bản GDVN, 2011)
- Nghiên cứu về giáo dục hành vi BVMT cho trẻ mấu giáo có tác giả
Lê Thị Kim Anh với đề tài: Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mẫu
giáo 5 – 6 tuổi thông qua các sự kiện xã hội (luận văn thạc sĩ khoa học giáo
dục mầm non, trường Đại học Sư phạm Hà Nội)
Ngoài ra, có rất nhiều đề tài luận văn liên quan đến vấn đề giáo dục môi
trường và giáo dục bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non của các tác giả Lê Thị
Thanh Hà, Phạm Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Thanh Đào (Khoa Giáo dục
Mầm non - Trường ĐHSP Hà Nội).
15
Chương trình Môi trường của UNEP định nghĩa:“ Môi trường là tập
hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá
thể hay cả cộng đồng”
Ở Việt Nam, khái niệm môi trường được thể hiện trong Luật môi
trường và đã được Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 4 (ngày 27 tháng 12 năm
1993) thông qua: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất
nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau bao quanh con người, có ảnh hưởng tới
đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên” (Điều
1, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam)
Các định nghĩa về môi trường mặc dù có khác nhau nhưng cũng có
những điểm chung về sự thống nhất bản chất hệ thống của môi trường và mối
quan hệ của con người với môi trường.
Từ các định nghĩa trên, chúng tôi hiểu môi trường một cách khái quát
như sau:
Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh bao
quanh sinh vật có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới sự sống, phát triển
và sinh sản của sinh vật
1.1.2.2. Khái niệm “Bảo vệ môi trường’’
Dù ở bất kỳ thời đại nào, môi trường đều rất quan trọng đối với con
người. Giữa con người và sự phát triển có mối quan hệ chặt chẽ. Môi trường
là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, phát triển là nguyên nhân tạo nên
các biến đổi môi trường. Môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng bỏng của
toàn nhân loại. Khí hậu ngày càng khắc nghiệt và khó dự báo hơn, mưa, bão,
lũ quét thất thường, suy thoái đất, nước, suy giảm nguồn tài nguyên rừng. Ô
nhiễm môi trường gây ra trên diện rộng. Đó là các vấn đề môi trường mà toàn
nhân loại đã và đang phải đối mặt. Con người đã tác động quá nhiều đến môi
trường, khai thác đến mức cạn kiệt các nguồn tài nguyên, thải nhiều chất độc
hại làm cho môi trường bị ô nhiễm nặng nề.
pháp, giải pháp kịp thời và phù hợp. Vì vậy vấn đề đặt ra với mỗi quốc gia là cần
18
có sự quan tâm thích đáng, tới môi trường, có những luật lệ, chính sách cụ thể về
bảo vệ môi trường góp phần vì nhiệm vụ bảo vệ môi trường chung của toàn cầu.
Trong việc bảo vệ môi trường, giáo dục môi trường được coi là biện
pháp có hiệu quả cao vì nó giúp con người có được nhận thức đúng đắn về
việc khai thác, sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên và có ý thức trong việc
bảo vệ môi trường.
1.1.2.3. Khái niệm “Hành vi bảo vệ môi trường’’
Thuật ngữ “Hành vi” được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà sinh học (Đại diện là E.L. Toocđai): Hành
vi được xem xét là cách sống và hoạt động trong một môi trường nhất định
dựa trên sự thích nghi của cơ thể với môi trường. Hành vi của con người bó
hẹp trong các hoạt động thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của
cá thể trong môi trường đó.
Quan điểm của chủ nghĩa hành vi: Bao gồm chủ nghĩa hành vi cổ điển
(G. Oat- xơn (1878-1958)), chủ nghĩa hành vi mới (Tôn – men (1886-1958)),
chủ nghĩa hành vi bảo thủ (B. Ph. Skin- nơ) cho rằng: Hành vi được thực hiện
không có sự tham gia cơ bản của chủ thể, của nhân cách. Mọi hành vi đều
được biểu thị bằng công thức nổi tiếng S-R (kích thích- phản ứng)
Cả hai trường phái này đều cho rằng hành vi là tất cả những phản ứng hay
những cách thức để con người thích nghi với môi trường. Các quan điểm trên
chưa đánh giá đúng bản chất của hành vi, hạ thấp vai trò tích cực của con người.
Tâm lý học Macxit quan niệm hành vi con người là cuộc sống, lao
động, thực tiễn tức là hoạt động. Hành vi của con người là biểu hiện bên
ngoài của hoạt động được điều chỉnh bởi cấu trúc tâm lý bên trong của chủ
thể, của nhân cách.
cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thông qua các hoạt
động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm
truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.
20
Theo nghĩa hẹp, giáo dục là một bộ phận của quá trình sư phạm nhằm
hình thành niềm tin, lí tưởng, động cơ, hành vi, tình cảm, thái độ, những nét
tính cách, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn trong xã hội.
Giáo dục với nhiệm vụ là đào tạo con người không những có tri thức
mà cần có đủ kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Đào tạo ra những con người làm việc trong những lĩnh vực khác nhau, tham
gia vào các hoạt động có ảnh hưởng đến môi trường sống. Vì vậy công tác
giáo dục môi trường trong trường học có tính chất quyết định đối với sự phát
triển bền vững của đất nước.
Giáo dục môi trường là một công cụ nhằm thúc đẩy những thái độ tích
cực đối với môi trường, đồng thời cung cấp các kỹ năng giúp con người có
thể phân tích và đưa ra những quyết định sáng suốt về cách ứng xử của mình
với môi trường.
Từ những khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường và các định
nghĩa khác có liên quan, chúng tôi đưa ra khái niệm về giáo dục hành vi bảo
vệ môi trường như sau:
Giáo dục hành vi bảo vệ môi trường là quá trình tác động có mục đích,
có kế hoạch của nhà giáo dục nhằm hình thành ở người học cách ứng xử tích
cực đối với môi trường, làm cho môi trường thêm trong sạch, sử dụng hợp lí
và tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời tái tạo môi trường.
Mục đích của giáo dục hành vi bảo vệ môi trường là nhằm vận dụng
những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường đảm
bảo bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Nó cũng bao hàm cả việc
1.1.3. Nội dung giáo dục hành vi bảo vệ môi trường cho trẻ mầm non.
Trong GDMN, nội dung GDBVMT được các nhà tâm lý, giáo dục
mầm non xác định trên nhiều cơ sở khác nhau.
Tác giả Trần Lan Hương [20;16] đã chỉ ra một số nội dung giáo dục
môi trường mà bậc học mầm non cần tập trung như sau: Giáo dục sự tôn
trọng, tình yêu quý đối với thiên nhiên và MTXQ. Hình thành ý thức tôn
22