Vận dụng kết hợp một số phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy thực hành 6 bước vào dạy học thực hành tin học lớp 12 - Pdf 34

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ đã làm thay
đổi về cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động của hầu hết các lĩnh vực trong
đời sống xã hội. Thế giới bước sang một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên lấy tri thức
làm động lực phát triển. Trình độ đổi mới, khả năng nghiên cứu, ứng dụng
khoa học công nghệ quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia. Khoa học
công nghệ trở thành động lực cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát
triển của khoa học, công nghệ thông tin đã làm thay đổi nội dung, phương
pháp giáo dục trong nhà trường, đồng thời đòi hỏi cung cấp nguồn nhân lực
có trình độ chuyên môn cao, có khả năng thích ứng với điều kiện phát triển
của xã hội.
Trước những đòi hỏi phát triển về kinh tế – xã hội, đặc điểm tâm – sinh
lý của người học, hệ thống giáo dục của nước ta đặt ra những yêu cầu cần đổi
mới. Nguyên lý của giáo dục phổ thông được ghi trong điều 3.2 luật Giáo dục
2005: “Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi
với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực
tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.
Nguyên lý này được thể hiện rõ nét trong chương trình, sách giáo khoa hiện
nay. Về phương pháp giáo dục trong Luật Giáo dục năm 2005 điều 28.2, đã
ghi: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác,
chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem
lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh ". Chính vì thế, giáo viên cần phải
chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học,
không những giúp người học có thể chủ động, tích cực, kiến tạo kiến thức,

1





Trong khuôn khổ của luận văn, đề tài sẽ tập trung vào việc nghiên cứu,
vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào quá trình dạy học thực
hành tin học ở lớp 12 các trường trung học phổ thông tại Lâm Đồng.
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Vận dụng kết hợp một số
phương pháp dạy học tích cực với phương pháp dạy thực hành 6 bước
vào dạy học thực hành tin học lớp 12”, bên cạnh đó đề tài cũng đề xuất việc
chuẩn bị, cách tổ chức lớp học, triển khai bài dạy nhằm khai thác hiệu quả
việc ngồi theo nhóm của học sinh trong phòng thực hành từ đó giúp giáo viên
đang giảng dạy ở các trường THPT vận dụng trong thực tế để đạt được kết
quả cao.
2. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trước đây, phương pháp dạy học (PPDH) thực hành cũng đã được
thường xuyên áp dụng tại các trung tâm KTTH-HN, các trường Đại học và
Cao đẳng nhằm mục đích rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo và các kĩ năng nghề
nghiệp cho học sinh, sinh viên. Vì thế PPDH thực hành được nhiều nhà khoa
học, cán bộ nghiên cứu ở các viện nghiên cứu, các trường Đại học quan tâm
nghiên cứu hoàn thiện và phát triển các vấn đề lý luận dạy học thực hành vào
các lĩnh vực đào tạo khác nhau. Tác giả Nguyễn Đức Trí, Trần Khánh Đức,
Phan Văn Kha, Nguyễn Thành Hưng, Nguyễn Viết Sự đã có công trình
nghiên cứu về lí luận dạy học thực hành nghề trong các trường dạy nghề. Là
giáo trình dành cho sinh viên ngành kỹ thuật [13], các tác giả đã trình bày
những vấn đề cơ bản, ngắn gọn nhưng đầy đủ nhằm cung cấp cho sinh viên
các kiến thức lí thuyết làm cơ sở cho việc vận dụng PPDH thực hành ở trường
phổ thông. Trong giáo trình này tác giả đã hướng dẫn phương pháp tổ chức
bài dạy thực hành ở trường phổ thông, mẫu cấu trúc dạy bài thực hành để giáo
sinh có thể vận dụng PPDH thực hành vào bài dạy thực hành kĩ thuật môn
Công nghệ một cách dễ dàng. Trong công trình nghiên cứu của tác giả



4


hành kĩ thuật số cho học sinh trung cấp nghề. Tác giả đã xây dựng quy trình
chuẩn bị và triển khai bài thực hành theo phương pháp hợp tác nhóm với ba
giai đoạn và mười một bước cụ thể. Tác giả đã tiến hành thực nghiệm và rút
ra kết luận áp dụng PPDH thực hành hợp tác nhóm trong thực hành là một
giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh góp phần nâng cao chất lượng
giờ dạy học thực hành.
Đối với bộ môn Tin học, tác giả Trương Trọng Cần [5] cho rằng môn
Tin học là môn học công cụ giúp học tập các môn học khác, có đặc điểm là:
tính trừu tượng cao độ, tính thực tiễn phổ dụng, tính logic và tính thực
nghiệm. Các tác giả Hồ Sĩ Đàm, Nguyễn Hải Châu, Hồ Cẩm Hà, Trần Đỗ
Hùng và Quách Tất Kiên [12] đã trình bày các bước xây dựng kế hoạch bài
học theo PPDH tích cực và cách tổ chức các hoạt động dạy học trong môn Tin
học. Tuy nhiên các tác giả chưa đề cập đến việc hướng dẫn triển khai bài dạy
thực hành như thế nào. Trong giáo trình [16] của tác giả Trần Văn Hạo, Lê
Đức Long đã trình bày những việc giáo viên phải làm trong thực hành Tin
học, các tác giả cũng xác định phương pháp dạy học thực hành môn Tin học
gồm có 3 nhóm phương pháp: Thực hành quan sát, thực hành bắt chước, thực
hành chính xác. Với mỗi nhóm phương pháp các tác giả cũng hướng dẫn cụ
thể trình tự thực hiện. Tuy nhiên 3 nhóm phương pháp này chỉ phù hợp với
bài thực hành Tin học lớp 10. Trong sách [26] của các tác giả Nguyễn Bá
Kim, Lê Khắc Thành đã trình bày các PPDH không truyền thống có thể áp
dụng trong bộ môn Tin học như: dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, dạy
học dựa vào lý thuyết tình huống, dạy học chương trình hóa, dạy học phân
hóa, dạy học theo dự án...là những phương pháp tổ chức cho học sinh học tập
trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo.
Trong luận văn Thạc sĩ, tác giả Vũ Thị Hà [15] đã nghiên cứu và trình bày

6


6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh khối 12, giáo viên giảng dạy Tin học, cơ sở vật chất phục vụ
dạy học Tin học tại Lâm Đồng.
7. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI:
- Về mặt lý luận: Đã hệ thống hóa được các vấn đề cơ bản của PPDH
thực hành nói chung làm cơ sở vận dụng vào dạy học thực hành tin học.
- Về mặt thực tiễn:
+ Điều tra, phân tích thực trạng: phòng máy tính, cách quản lý phòng
máy tính, dạy thực hành Tin học của giáo viên, nhu cầu học tập của học sinh
làm cơ sở thực tiễn đề xuất giải pháp phát huy tính tích cực của học sinh.
+ Nghiên cứu, lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với đặc
điểm bài thực hành Tin học, phù hợp với đối tượng học sinh, phù hợp với tình
hình cơ sở vật chất hiện có ở các trường THPT tại Lâm Đồng nhằm tăng sự
hứng thú và nâng cao kết quả học tập bộ môn Tin học của học sinh lớp 12.
+ Đề xuất các bước chuẩn bị, thiết kế, triển khai bài dạy thực hành Tin
học 12 theo hướng vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào phương
pháp dạy thực hành 6 bước và bước đầu cho kết quả có thể tham khảo cho
giáo viên bộ môn.
8. PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
8.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu lý luận
về phương pháp dạy học thực hành, lý luận dạy học môn tin học, các phương
pháp, kỹ thuật dạy học tích cực...
8.2 Phương pháp khảo sát, quan sát, phỏng vấn sâu:
- Điều tra thực trạng máy tính, máy chiếu, bố trí chỗ ngồi trong phòng
Tin học;

7

cho từng bài thực hành đáp ứng mục tiêu dạy học: gây được hứng thú cho học
sinh, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi đối tượng học sinh, nâng cao chất lượng
học tập bộ môn đồng thời rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khác.
1.1. Một số khái niệm liên quan
1.1.1. Thực hành
Theo từ điển tiếng Việt [27], Thực hành là áp dụng lý thuyết vào thực tế.
Thực hành là hình thức luyện tập nhằm trau dồi kĩ năng kĩ xảo để hiểu
rõ và nắm vững lý thuyết [33].
Theo Trần Văn Hạo, Lê Đức Long [16]: Thực hành là sự phối hợp mật
thiết, phức tạp giữa lời nói, công cụ và phương tiện máy tính và bài tập thực
hành do giáo viên tổ chức, và học sinh thực hiện. Qua thực hành giúp học
sinh hiểu rõ mối quan hệ cấu trúc - chức năng, hiện tượng - bản chất, nguyên
nhân - kết quả kéo theo rèn luyện kĩ năng và kĩ xảo bộ môn.
1.1.2. Phương pháp dạy thực hành:
Phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học dựa vào sự quan
sát giáo viên làm mẫu và thực hành tự lực của học sinh dưới sự hướng dẫn

9


của giáo viên thể hiện bằng lời nói, câu hỏi hay bài tập thực hành nhằm giúp
học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành [33].
1.1.3. Dạy học thực hành Tin học
Theo từ điển tiếng Việt [27], dạy học thực hành là truyền đạt để nâng
cao kiến thức, kĩ năng.
Dạy học thực hành tin học là một quá trình sư phạm do giáo viên tổ chức
với mục đích dạy học sinh vận dụng kiến thức đã học từ đó hình thành kĩ năng, kĩ
xảo. Thông qua các bài tập và thực hành, học sinh có điều kiện trải nghiệm, tiếp
cận dần với các công việc và các khái niệm trừu tượng trong Tin học.
1.1.4. Kĩ năng:

hơn vào hành động đó. Ngược lại nếu không có hứng thú, dù là hành động gì
cũng sẽ không đem lại kết quả cao. Đối với các hoạt động nhận thức, sáng
tạo, hoạt động học tập, khi không có hứng thú sẽ làm mất đi động cơ học, kết
quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc tiêu cực. [23]
Trong học tập, hứng thú thể hiện ở việc: tham gia đầy đủ các buổi học,
chăm chú nghe giảng, hăng hái giơ tay phát biểu ý kiến, luôn hiểu bài và trả lời
câu hỏi một cách đúng đắn, kết quả kiểm tra cao. Hứng thú thể hiện ở mức cao
như: Tự đọc thêm tài liệu, có sổ tay ghi chép nội dung liên quan...Có thể đo
hứng thú học tập qua việc quan sát hoạt động và kết quả học tập của học sinh.
1.2. Một số vấn đề lý luận về dạy thực hành
1.2.1 Cơ sở triết học về dạy học thực hành
Tri thức cần phải kiểm tra và vận dụng qua thực tiễn. Thực tiễn có vai
trò là tiêu chuẩn, thước đo giá trị của những tri thức đã đạt được, đồng thời
thực tiễn bổ sung, điều chỉnh, sửa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: “Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là
mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý”.
Mỗi con người đều có nhu cầu nhận thức, giải thích và cải tạo thế giới.
Chính nhu cầu đó buộc con người tác động trực tiếp vào đối tượng bằng hoạt

11


động thực tiễn của mình. Thông qua hoạt động thực tiễn, con người nhận biết
được cấu trúc; tính chất và các mối quan hệ giữa các đối tượng để hình thành
tri thức về đối tượng. Hoạt động thực tiễn bổ sung và điều chỉnh những tri
thức đã được khái quát. Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, cách thức, khuynh
hướng vận động và phát triển của nhận thức. Chính sự tác động đó đã làm cho
các đối tượng bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và các quan hệ khác
nhau giữa chúng đem lại cho con người những tri thức, giúp cho con người
nhận thức được các quy luật vận động và phát triển của thế giới. Trên cơ sở

1.2.2.2. Cơ sở tâm lý học:
Lý luận dạy học thực hành Tin học dựa trên những thành tựu tâm lý
học, cụ thể:
+ Cơ chế hình thành trí tuệ của trẻ em: lúc đầu bắt chước tiếp theo là
học tập và tự học.
+ Các bước của sự hình thành trí tuệ: các nhà tâm lý học cho rằng hoạt
động tâm lý là kết quả của việc chuyển các hoạt động bên ngoài vào bên trong
lĩnh vực phản ánh qua hình thức tri giác, biểu tượng và khái niệm. Quá trình
đó chuyển hóa thành một số bước và mỗi bước có một sự phản ánh mới.
Ngoài ra các đặc điểm tâm lí có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình luyện tập,
cũng như quá trình dạy học thực hành. Bất cứ sự luyện tập cho các loại kĩ
năng, kĩ xảo của hoạt động nghề nghiệp nào cũng đều liên quan trực tiếp đến
các hoạt động tâm lý. Bản chất của việc hình thành bất cứ một loại kĩ năng, kĩ
xảo nào cũng là sự thành lập hàng loạt các phản xạ có điều kiện. Đó là sự
thành lập các động hình tương ứng với hành động. Các yếu tố tâm lý ảnh
hưởng tới quá trình luyện tập của từng cá nhân có những yếu tố mang tính
tạm thời có những yếu tố mang tính ngẫu nhiên, nhưng cũng có những đặc
điểm mang tính chất bền vững. Vì vậy tâm lý học là cơ sở của lý luận dạy học
thực hành.

13


1.3- Phân tích quá trình lao động và việc hình thành kĩ năng:
Kĩ năng có nhiều loại, nhưng chúng được hình thành theo những quy
luật nhất định, thường bắt đầu từ sự nhận thức (để thông hiểu về mục đích cơ
chế, tiến trình, ý nghĩa...) và kết thúc được biểu hiện ở hành động cụ thể.
Có thể mô tả tóm tắt quá trình này như sơ đồ sau:
Lĩnh hội
hiểu biết


14


tích, tự đánh giá và điều chỉnh vận động (luyện tập). Do đó giai đoạn này giáo
viên cần phải tổ chức huấn luyện cho học sinh.
Hình thành kĩ năng là nhiệm vụ trung tâm của dạy học thực hành nói
chung và dạy thực hành Tin học nói riêng. Việc phân tích con đường hình
thành kĩ năng trên đây chỉ là cơ sở để xây dựng cấu trúc bài dạy cũng như xác
định các phương pháp cụ thể cho việc dạy thực hành có hiệu quả.
Qua quá trình phân tích ở trên chúng ta có thể nhận thấy rằng quá trình
hình thành kĩ năng cũng là quá trình tổ chức hoạt động nhận thức và thực
hành cho học sinh hay chính là quá trình tư duy (từ nhận thức trừu tượng đến
cụ thể....)
1.4 – Phân bậc hoạt động [26]:
Hiện nay tuy trong sách giáo khoa các tác giả đã cố gắng lựa chọn cách
trình bày, bài tập từ đơn giản nhất đến phức tạp để học sinh có thể tự học nhưng
có một số nội dung, bài tập còn quá khó đối với học sinh. Người thầy giáo cần
thiết phải cố gắng thực hiện sự phân bậc hoạt động một cách linh hoạt.
Những căn cứ để phân bậc hoạt động:
- Sự phức tạp của đối tượng hoạt động: Đối tượng càng phức tạp thì
hoạt động đó càng khó thực hiện. Vì vậy có thể dựa vào sự phức tạp của đối
tượng để phân bậc hoạt động.
- Sự trừu tượng, khái quát của đối tượng: Đối tượng hoạt động càng
trừu tượng, khái quát có nghĩa là yêu cầu thực hiện hoạt động càng cao.
- Nội dung của hoạt động: là những tri thức liên quan đến hoạt động và
những điều kiện khác của hoạt động. Nội dung hoạt động càng gia tăng thì
hoạt động càng khó thực hiện.
- Sự phức hợp của hoạt động: Một hoạt động phức hợp bao gồm nhiều
hoạt động thành phần.

16


Phương pháp dạy học thực hành phân loại theo hình thức gồm có 3
phương pháp: Phương pháp thực hành 4 bước, phương pháp thực hành 3 bước
và phương pháp thực hành 6 bước.
1.5.1. Phương pháp thực hành 4 bước:
Phương pháp thực hành 4 bước là một phương pháp quan trọng mà học
sinh có thể phát triển trí tuệ và kỹ năng thực hành. Phương pháp này xuất phát từ
thuyết hành động và được cải tiến thành 4 bước có sự diễn trình của giáo viên.
Bước 1: Thông tin để gây động cơ và vào bài.
Ở bước này giáo viên tạo nên mối giao tiếp với học sinh, khơi dậy sự
chú ý của học sinh từ đó làm rõ nhiệm vụ và kiến thức sơ bộ.
Bước 2: Giáo viên làm mẫu và giải thích.
Giáo viên giải thích các khái niệm, nguyên tắc tồn tại, điều kiện tồn tại,
các bước thực hiện, tại sao phải thực hiện...Giáo viên làm mẫu các bước thực
hiện trên máy tính để học sinh quan sát. Giáo viên đưa ra những điểm cơ bản,
các bước tổng quát thực hiện để học sinh nắm và lặp lại.
Bước 3: Học sinh làm lại và giải thích
Trong bước này học sinh làm lại các bước công việc và giải thích lại:
làm cái gì, như thế nào, tại sao...Còn giáo viên chỉ đặt câu hỏi kiểm tra, sửa
lỗi, đem đến sự chắc chắn, tạo động cơ học tập, khen ngợi, khiển trách, phê
bình có thể.
Bước 4: Học sinh tự luyện tập và chuyển hóa:
Học sinh tự thực hiện các công đoạn công việc là chủ yếu, tự kiểm tra
lại kết quả theo các tiêu chuẩn đánh giá. Giáo viên chỉ giúp đỡ học sinh khi
cần thiết và hướng dẫn các kĩ năng tiếp theo.
Phương pháp dạy thực hành 4 bước phù hợp với các bài dạy kỹ năng lần
đầu cho học sinh. Trong chương trình Tin học lớp 12, sau khi học xong bài lý
thuyết thì học sinh bước đầu đã biết một số thao tác trên máy tính. Các bài thực

học sinh độc lập giải quyết nhiệm vụ học tập, hình thành nhân cách. Phương

18


pháp dạy thực hành này thích hợp với hình thức tổ chức hoạt động theo nhóm,
phương pháp này cũng phù hợp với xu hướng hiện nay: giúp học sinh tích cực
hoạt động, phát triển năng lực hợp tác, tự thu nhận thông tin và kỹ năng lập kế
hoạch lao động.
1. Thông
tin

6. Đánh giá

2. Kế hoạch

5. Kiểm tra
3. Quyết định
4. Thực
hiện

Hình 2: các bước trong PPDH thực hành 6 bước
Bước 1: Giáo viên cung cấp thông tin ban đầu về nhiệm vụ thực hành.
Bước 2: Nhóm học sinh tự lập kế hoạch, qui trình làm việc.
Bước 3: Nhóm trao đổi chuyên môn với giáo viên để đi đến quyết định
thống nhất về kế hoạch, qui trình thực hiện.
Bước 4: Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo kế họach.
Bước 5: Kiểm tra: Rà soát việc thực hiện kế hoạch, qui trình, kết quả
thực hiện so với yêu cầu.
Bước 6: Đánh giá: Học sinh sẽ tự rút kinh nghiệm cho bản thân để làm

lập sáng tạo sẽ phát triển tự giác, hứng thú, bồi dưỡng động cơ học tập.

20


Biểu hiện tính tích cực học tập như: hăng hái trả lời các câu hỏi của
giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thích phát biểu ý kiến của mình
trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề
chưa đủ rõ; chủ động vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức vấn đề
mới; tập trung chú ý vào vấn đề đang học; kiên trì hoàn thành các bài tập,
không nản trước những tình huống khó khăn…
Tính tích cực học tập thể hiện qua các cấp độ từ thấp lên cao như:
- Bắt chước: gắng sức làm theo mẫu hành động của thầy, của bạn…
- Tìm tòi: độc lập giải quyết vấn đề nêu ra, tìm kiếm cách giải quyết
khác nhau về một số vấn đề…
- Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, độc đáo, hữu hiệu.
Trong quá trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạt động dạy,
lại vừa là chủ thể của hoạt động học. Thông qua hoạt động học, dưới sự chỉ
đạo của thầy, người học phải tích cực chủ động cải biến chính mình về kiến
thức, kĩ năng, thái độ, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay cho mình
được. Vì vậy, nếu người học không tự giác, chủ động, không chịu học, không
có phương pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách
học, nhưng ngược lại thói quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy
của thầy. Vì vậy, giáo viên phải kiên trì dùng cách dạy hoạt động để dần dần
xây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ
thấp lên cao. Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của
thầy và trò, sự phối hợp nhịp nhàng hoạt động dạy với hoạt động học thì mới
thành công [6].
Như vậy, khi đã coi trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì

những tình huống thực tế.

22


1.6.2 – Một số phương pháp dạy học tích cực:
Mục tiêu giáo dục của nước ta không chỉ nhằm trang bị cho học sinh
những kiến thức, kĩ năng đã có của nhân loại mà chú trọng đến vận dụng
kiến thức, kĩ năng vào cuộc sống, đặc biệt là quan tâm đến phát triển năng
lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh. Việc thay
đổi mục tiêu giáo dục cần phải có những phương pháp dạy học phù hợp để
đạt được mục tiêu đó. Trong việc đổi mới phương pháp dạy và học theo
hướng tích cực thì phương pháp học của học sinh là mối quan tâm hàng đầu
của giáo viên, làm sao để học sinh có được cảm giác thoải mái và tích cực
tham gia trong quá trình kiến tạo kiến thức. Để thiết kế và tổ chức dạy học
hiệu quả, giáo viên cần suy nghĩ về các vấn đề: Đâu là mối quan tâm hàng
đầu của người học? Học sinh nên học thế nào thì hiệu quả? Điều gì tạo nên
động cơ thúc đẩy học sinh học tích cực? Từ đó giáo viên cần quan tâm đến
quá trình học tập, đến việc xây dựng kiến thức của học sinh. Trên cơ sở đó,
giáo viên điều chỉnh các hoạt động dạy học sao cho phù hợp với năng lực, sở
thích và nhu cầu của người học.
1.6.2.1. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề [26]
Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, thầy giáo tạo ra những
tình huống gợi vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự
giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề. Từ đó học sinh sẽ kiến
tạo tri thức, rèn luyện kĩ năng và những mục tiêu học tập khác.
Tình huống gợi vấn đề là một tình huống gợi cho học sinh những khó
khăn về lí luận hay thực tiễn mà họ thấy cần thiết và có khả năng vượt qua
nhưng không phải ngay tức khắc nhờ một thuật toán hay dựa trên một cách
làm nào đó đã biết mà phải trải qua một quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động

hành Tin học lớp 12 học sinh vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết các
bài toán trong thực tiễn thì việc sử dụng phương pháp phát hiện và giải quyết
vấn đề là rất cần thiết.

24


1.6.2.2.Dạy học phân hóa [26]
Dạy học phân hóa là một trong những phương pháp phát huy tính tích
cực của học sinh. Mỗi học sinh có kiến thức khác nhau, khả năng tiếp thu
khác nhau, cách học cũng khác nhau...Người thầy giảng dạy phải đảm bảo
thực hiện tốt các mục tiêu dạy học đối với tất cả mọi học sinh, đồng thời
khuyến khích phát triển tối đa khả năng cá nhân. Người thầy giáo phải lấy
trình độ phát triển chung của học sinh trong lớp làm nền tảng, sử dụng các
biện pháp phân hóa đưa học sinh yếu kém lên trình độ chung đồng thời có
những biện pháp phân hóa giúp học sinh khá giỏi đạt được những yêu cầu
nâng cao trên cơ sở đã đạt được những yêu cầu cơ bản.
Dạy học phân hóa, người thầy có thể sử dụng các biện pháp sau:
- Đối xử cá biệt ngay trong những pha dạy học đồng loạt: Trong quá
trình giảng dạy đồng loạt nhiều học sinh, thông qua quan sát, vấn đáp, kiểm
tra người thầy giáo phát hiện ra những sai khác giữa các học sinh về khả năng
lĩnh hội, trình độ phát triển thì người thầy có thể đưa ra các tình huống phân
hóa nhẹ như: giao nhiệm vụ phù hợp với từng loại đối tượng, khuyến khích
học sinh khi họ muốn trả lời, giúp đỡ nhiều hơn với học sinh yếu kém, phân
hóa khi kiểm tra đánh giá từng loại đối tượng học sinh.
- Tổ chức để học sinh hoạt động phân hóa tạm thời: Thầy giáo giao cho
học sinh những nhiệm vụ phân hóa hoặc bài tập phân hóa, điều khiển quá
trình giải bài tập một cách phân hóa và tạo điều kiện giao lưu gây tác động
qua lại trong những người học.
+ Bài tập phân hóa: có thể bài tập phân bậc từ dễ đến khó, có thể nhiều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status