Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Đơn vị: Trường THPT Kiệm Tân
Tổ: Ngữ Văn
Đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Môn Ngữ Văn
VẬN DỤNG KẾT HỢP MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
ĐỂ TIẾP CẬN TÁC PHẨM CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA
CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
Người thực hiện: Ngô Thị Xuyến
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lí giáo dục
Phương pháp giảng dạy bộ môn x x
Phương pháp giáo dục
Lĩnh vực khác.
Có đính kèm:
Mô hình
x
Phần mềm
Phim ảnh
Trang 1
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao.
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những phương pháp đã có và đã triển khai
áp dụng tại đơn vị có hiệu quả.
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao.
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng tại đơn vị có hiệu quả.
3. Khả năng áp dụng
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách:
Tốt
Khá
Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực
hiện và dễ đi vào cuộc sống:
Tốt
Khá
Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt
hiệu quả trong phạm vi rộng:
Tốt
Khá
Đạt
Trang 2
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN
2. Lòng nhân đạo của Nguyễn Du qua một số tác phẩm trong trường THPT
3. Một vài suy nghĩ về phương pháp tiếp cận tác phẩm từ ngôn từ văn học
4. Sơ đồ tư duy- phương pháp giúp học sinh 12 hệ thống kiến thức.
Trang 4
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
Mục lục
Trang
A. ĐẶT VẤN ĐỀ .....................................................................................................2
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI..................................................................................2
I. CƠ SỞ KHOA HỌC............................................................................................2
1. Cơ sở lí luận................................................................................................2
2. Cơ sở thực tiễn............................................................................................3
II. NỘI DUNG..........................................................................................................3
1. Lí thuyết về phương pháp dạy học tích cực...........................................................4
1.1 Phương pháp dạy học................................................................................4
1.2 Phương pháp dạy học tích cực .................................................................4
1.3 Vai trò của giáo viên và học sinh trong học tích cực ...............................4
2. Một số phương pháp dạy học tích cực ..................................................................6
2.1 Phương pháp nêu vấn đề ....................................................................................6
2.2 Phương pháp thuyết trình .................................................................................7
2.3 Phương pháp dung sơ đồ tư duy ....................................................................... 8
2.3 Phương pháp đóng vai .....................................................................................10
3. Cách thức chung .................................................................................................10
4. Cách thức cụ thể .................................................................................................11
có vai trò đặc biệt trong việc giúp con người trả lời những câu hỏi trong nội tâm
mình, giúp học sinh hiểu được hương vị của cuộc sống.
Với ngôi trường Kiệm Tân xa xôi, đầu vào của học sinh chưa cao, kinh
nghiệm của giáo viên còn ít ỏi như chúng tôi; đổi mới phương pháp dạy học còn
là vấn đề cấp bách. Một câu hỏi lớn đặt ra cho chúng tôi: Làm thế nào để học sinh
hứng thú với môn Ngữ Văn? Phương pháp dạy học đóng vai trò quan trọng và
quyết định với hiệu quả của việc dạy hoc. Dạy học có phương pháp và đúng
phương pháp sẽ không chỉ truyền đạt được kiến thức một cách đầy đủ mà thêm
vào đó, khơi gợi được hứng thú, tinh thần tự giác và chủ động cho học sinh. Trái
lại, việc dạy học sai phương pháp dạy học sẽ làm cho việc học trở thành việc nhồi
nhét kiến thức, khiến cho học sinh ngày một thụ động, đối phó. Thậm chí ảnh
hưởng đến cả lối tư duy và đạo đức của các em. Giáo viên phải luôn cập nhật và
đổi mới phương pháp dạy học, tạo hiệu quả trong việc học nói riêng và nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo nói chung.
Thiết nghĩ, mỗi bộ môn, mỗi giáo viên đều có một cách riêng để giúp học
sinh tiếp cận với kiến thức trong bài học. Với tôi, tôi thường vận dụng kết hợp
nhiều phương pháp khác nhau trong cùng một bài học, một đơn vị kiến thức; hơn
thế nữa, các lớp khác nhau, các đối tượng học sinh khác nhau cũng phải sử dụng
những phương pháp khác nhau. Tuy vậy, khi giáo viên kết hợp nhiều phương
pháp mà không nắm rõ đặc trưng của các phương pháp đó hoặc thiếu sự linh hoạt
thì bài học sẽ rối, học sinh khó tiếp thu bài học. Không những không tạo được
hứng thú cho học sinh mà còn gây ra sự chán học cho các em.
Trong bài viết này, tôi sẽ đề cập đến vấn đề “Vận dụng kết hợp một số phương
pháp dạy học tích cực để tiếp cận tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của
Nguyễn Minh Châu”. Trong đó, tôi chú trọng đến phương pháp nêu vấn đề,
phương pháp thuyết trình, sơ đồ tư duy và phương pháp đóng vai.
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
I. CƠ SỞ KHOA HỌC:
1. Cơ sở lí luận:
- Trong tài liệu tập huấn cán bộ quản lý của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2012
với các em, giúp các em định hướng đúng để học tập tốt môn văn. Học văn nhằm
tạo cho tâm hồn các em hôm nay và mai sau được trong sáng hơn, giúp các em
nhận thức đầy đủ góp phần giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, đồng thời xây
dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Học văn mà chưa hiểu văn, chưa cảm thụ được văn học là một hiện tượng
đáng báo động cho thầy và trò. Hiện nay, một thực trạng đáng buồn vẫn đang diễn
ra là học sinh ít chú ý đến môn Văn, hoặc có chú ý chăng cũng chỉ để thi Tốt
Nghiệp! Còn định hướng lâu dài thì không nhiều.
- Theo suy nghĩ của học sinh, môn văn là môn học thuộc lòng, không cần sáng
tạo. Nếu giáo viên dạy theo ý chính của bài thì học sinh không biết triển khai
thành đọan văn hoặc bài văn hoàn chỉnh. Thậm chí, khi các em làm bài không
theo đáp án thì không đạt điểm cao.
- Một thực tế khi lên lớp, tôi vẫn thường gặp là dù giáo viên cố gắng dùng
phương pháp gợi để tạo hứng thú cho học sinh thì vẫn còn một số em không chịu
suy nghĩ để trả lời câu hỏi. Các em luôn “thủ” sẵn một câu “em không biết” “em
không tìm được” “em không làm được”…
Khi tôi sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học thì những giờ độc thoại
giảm dần, thay vào đó là sự hào hứng của học sinh trong giờ học. Đến nay, tôi đã
thực hiện thành công việc vận dụng nhiều phương pháp dạy học tích cực. Tôi đã
có thể khơi gợi được cái hồn của tác phẩm đồng thời giúp học sinh nói lên suy
nghĩ của mình một cách tích cực.
II. NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI:
Trang 7
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
1. Lí thuyết về phương pháp dạy học tích cực:
Giáo viên là người tổ chức việc tiếp
nhận các kiến thức
Giáo viên như là người “làm hộ” cho Giáo viên là người tạo điều kiện để học
học sinh
sinh tự học
Tập trung vào chủ đề cụ thể
Tập trung vào việc học toàn diện
+ Giáo viên – người dạy – người hướng dẫn: là tác nhân chính trong việc nỗ lực
tạo ra các điều kiện tốt nhất giúp học sinh tiếp nhận kiến thức đồng thời phát triển
các kĩ năng ngay tại lớp học bằng việc ứng dụng các nghiệp vụ sư phạm chuyên
nghiệp của mình trong mối quan hệ trực tiếp với người học. Giáo viên cần khuyến
khích và hỗ trợ người học suy nghĩ ở mức tối đa.
+ Giáo viên còn là người quản lí, điều phối và đánh giá thành tích của học
sinh trong giờ học.
Ví dụ: khi tiết học bắt đầu, giáo viên hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động,
tùy theo nội dung bài học, đối tượng học sinh để quyết định thời gian cho mỗi
hoạt động. Ngoài ra, giáo viên cần điều phối nhằm góp phần tăng tính năng động
cho các hoạt động trong tiết học.
Trang 8
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
Có một số học sinh thờ ơ trước câu hỏi của giáo viên hoặc trả lời theo hướng tiêu
cực “em không biết” “em không nghĩ ra”…(dù đó là những câu hỏi đơn giản, câu
hỏi tái hiên kiến thức). Trong trường hợp học sinh thiếu sự hợp tác, giáo viên cần
động viên khuyến khích, động viên bằng những lời lẽ nhẹ nhàng. Học sinh không
muốn học mà giáo viên còn phản ứng gay gắt thì không khí sẽ trở nên căng thẳng
Từ
Học sinh là người tiếp nhận kiến thức
một cách thụ động
Học sinh vào việc trả lời những câu hỏi
Học “nhồi nhét”
Đến
Học sinh là người học tích cực và cùng
tham gia
Học sinh đặt ra những câu hỏi
Chịu trách nhiệm cho việc học của
mình. Học – phản ánh
Học sinh cạnh tranh với nhau trong học Học sinh hợp tác với nhau trong học tập
tập
Học sinh tự nói lên ý kiến của mình
Học sinh lắng nghe ý kiến tích cực của
người khác
Học sinh tiếp thu các kiến thức riêng rẽ Học sinh kết nối các kiến thức đã học
được.
Học sinh - người học - người tham gia: là người tiếp nhận các kiến thức và phát
triển các kỹ năng trong điều kiện tốt nhất do người dạy và tài liệu học tập tạo ra.
Người học chính là chủ thể mọi họat động và là mục đích hướng tới của việc học
tập.
Như vậy, vận dụng phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm
văn chương trong trường phổ thông mới có khả năng khơi dậy và phát huy những
tiềm lực, tiềm tàng vẫn còn ngủ quên trong mỗi học sinh. Phương pháp dạy học
tích cực gõ mạnh vào trí thông minh, sở trường ở người học để phát huy tính tự
giác. Phương pháp này thể hiện sự vận động và có định hướng cần thiết của họat
động trí tuệ trong việc hình thành kiến thức và sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy
và trò theo hướng tích cực.
một vướng mắc cần tháo gỡ, một câu hỏi cần tìm câu trả lời…
Trong quá trình tạo những câu hỏi, tình huống có vấn đề, giáo viên khơi gợi
cho học sinh suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo để đưa ra cách giải quyết mới, ý tưởng
mới. Thậm chí, trong các ý tưởng mới đó lại có một vài vấn đề mới được nảy sinh
và có thể vấn đề đó giáo viên chưa từng nghĩ đến. Trong trường hợp này, những
học sinh khác trong lớp càng có cơ hội để thể hiện suy nghĩ của mình. Phát huy
mạnh mẽ tính độc lập trong suy nghĩ của học sinh, giúp học sinh thực sự trở thành
chủ thể của họat động học tập. Phương pháp này còn có thề phát triển khả năng
diễn đạt bằng lời của học sinh, tăng cường hoạt động, kích thích nỗ lực của học
sinh trong việc chiếm lĩnh tác phẩm văn chương.
- Đặc trưng của phương pháp dạy học nêu vấn đề: Đây là một phương pháp phức
hợp có 3 đặc trưng cơ bản:
+ Phương pháp này gồm một hoặc một vài vấn đề chứa đựng sự mâu thuẫn
hoặc có vấn đề (là những tình huống trái khoáy, ngược đời, con người được đặt
trong sự bế tắc, bi kịch..) yêu cầu học sinh phải tìm tòi, phát hiện.
+ Chính những mâu thuẫn hoặc vấn đề đó được đặt trong sự cấp thiết mà
học sinh phải giải quyết bằng được.
+ Trong quá trình giải quyết vấn đề học sinh phải chiếm lĩnh được kiến
thức, kĩ năng, thái độ (niềm vui sướng của sự nhận thức sáng tạo)
- Các yếu tố của tình huống có vấn đề:
+ Có mâu thuẫn nhận thức, có điều chưa biết cần tìm. Có mâu thuẫn nhận
thức giữa cái đã biết và cái phải tìm. Điều chưa biết có thể là mối liên hệ giữa cái
đã biết và cái phải tìm. Điều chưa biết có thể là mối liên hệ chưa biết, hoặc cách
thức hay điều kiện hành động. Đó chính là kiến thức mới sẽ được khám phá ra
trong tình huống có vấn đề.
+ Tạo ra nhu cầu muốn biết kiến thức mới. Thế năng tâm lí của nhu cầu
nhận thức là động lực khởi động hoạt động nhận thức của học sinh; nó sẽ góp
phần làm cho học sinh đầy hưng phấn tìm tòi phát hiện, sáng tạo giải quyết nhiệm
vụ nhận thức đặt ra.
+ Phù hợp với khả năng của học sinh trong việc phân tích các điều kiện của
thơ hoặc em thích đoạn thơ, câu thơ nào nhất? Vì sao?. Với văn xuôi cũng có
nhiều cách đặt câu hỏi giúp học sinh tự tin trình bày trước lớp về nội dung bài
học. Khi học xong tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, giáo viên có thể dùng câu hỏi
đơn giản để học sinh tái hiện kiến thức hoặc đánh giá mức độ hiểu bài của học
sinh. Nhà văn Kim Lân kể với chúng ta chuyện gì? Nhân vật nào gây ấn tượng
nhất đối với em? Vì sao?...
+ Thứ ba, giáo viên yêu cầu học sinh làm việc nhóm, cử nhóm trưởng lên
thuyết trình nội dung sau đó chỉ định một thành viên bất kì trong nhóm lên trình
bày vấn đề nhằm đảm bảo cho các thành viên đều có cơ hội để trình bày. Sau
nhiều lần thực hiện, học sinh đã quen với việc trình bày trước lớp, các nhóm sẽ
không cần nhóm trưởng mà vai trò của mọi người là như nhau.
2.3. Phương pháp dùng sơ đồ tư duy:
- Sơ đồ tư duy còn gọi là Bản đồ tư duy, Lược đồ tư duy…là hình thức ghi
chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay
một mạch kiến thức…bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường
nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực. Có thể gọi bản đồ tư duy là công cụ
ghi chú tối ưu. (Internet)
- Bộ não của con người được coi là một thế giới bí ẩn. Não trái ghi nhớ các
thông tin bằng các kí tự, đường thẳng, con số. Não phải giúp ta xử lí các thông tin
về nhịp điệu, màu sắc, hình ảnh…Từ trước đến nay, chúng ta thường quen với
việc ghi chép thông tin bằng từ ngữ, gạch đầu dòng, tóm ý…Như vậy, chúng ta
chỉ sử dụng 50% khả năng của bộ não khi ghi nhận thông tin. Năm 1960, Tony
Buzan đã nghiên cứu ra phương pháp Bản đồ tư duy (Mind Map), đã giúp con
người tận dụng triệt để khả năng ghi nhận thông tin của bộ não.
- Trong chương 8 cuốn sách “Tôi tài giỏi, bạn cũng thế” của Adam Khoo có đề
cập đến phương pháp giúp chúng ta có khả năng nhớ tốt hơn hay nói cách khác
ghi nhớ tốt không phải là năng khiếu, tài năng. Adam Khoo khẳng định: “Không
Trang 12
được dựa trên sự tưởng tượng và kết nối, bản đồ tư duy giúp chúng ta tự do suy
nghĩ và phát huy tiềm năng sáng tạo của bộ não. Học sinh không còn thụ động
ngồi nghe giáo viên giảng bài rồi ghi bài một cách máy móc mà trái lại các em
sáng tạo ra “tác phẩm” của riêng mình qua sự định hướng, gợi ý của giáo viên.
Ngoài việc dùng bản đồ tư duy trong dạy và học, bản đồ tư duy còn giúp học sinh
nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra.
Quy trình lập Bản đồ tư duy:
- Trước hết, chúng ta bắt đầu bằng từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Sau đó,
nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp hai đến
các nhánh cấp một…bằng các đường kẻ (luôn sử dụng màu sắc vì màu sắc cũng
có tác dụng kích thích não như hình ảnh). Các đường kẻ càng gần hình ảnh trung
tâm càng được tô đậm hơn, dày hơn. Khi chúng ta nối các đường với nhau, chúng
ta có thể hiểu và nhớ nhiều hơn do bộ não chúng ta làm việc bằng sự liên tưởng.
(các đường ở cùng một cấp độ phải có cùng màu sắc).
Trang 13
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
- Lưu ý: Mỗi từ hoặc ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ. Nên
dùng đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường cong được tổ chức rõ
ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt nhiều hơn. Ngoài ra cần bố trí thông tin đều
quanh hình ảnh trung tâm.
Hiện nay đã có rất nhiều phần mềm hỗ trợ vẽ bản đồ tư duy trên máy tính. Khi
học sinh học trên lớp, chúng ta chỉ cần hướng dẫn cách vẽ sơ đồ. Các em chỉ cần
dùng bút màu, giấy A4, ….
2.4. Phương pháp đóng vai:
Những kĩ năng, kĩ xảo này được hình thành và hoàn thiện trong quá trình sử dụng
sách giáo khoa và các tài liệu ở lớp và ở nhà. Giáo viên cũng cần đề ra những yêu
cầu để học sinh thực hiện nghiêm túc, có sự kiểm tra chặt chẽ với những chỉ dẫn
rõ ràng, tỉ tỉ, có hệ thống.
Trang 14
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
- Một trong những bước lên lớp rất quan trọng của giáo viên đó là bước
củng cố- dặn dò. Đây là bước cuối cùng trong tiến trình lên lớp vì vậy có một số
giáo viên đã bỏ qua hoặc dặn dò qua loa vì hết giờ. Theo tôi, sau khi củng cố kiến
thức bài học, giáo viên cần phải dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học sau bằng hệ
thống câu hỏi rõ ràng. Đó là một trong những cách tạo tâm thế để học sinh tiếp
cận bài học tốt hơn, tạo hứng thú tìm tòi các tài liệu có liên quan đến bài học mà
đặc biệt là đọc tác phẩm.
Ví dụ: Chuẩn bị học tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân, giáo viên không chỉ
dặn học sinh đọc và tóm tắt tác phẩm mà đặt ra một số câu hỏi: Nhà văn Kim Lân
kể với người đọc câu chuyện gì? Từ câu chuyện ấy em hiểu gì về các nhân vật
Tràng, thị, cụ Tứ? Qua những nhân vật đó, nhà văn muốn giửi gắm đến người đọc
thông điệp gì?...
Với tác phẩm chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu, thông thường
giáo viên có thể yêu cầu: Tìm những đặc trưng cơ bản của văn học Việt Nam thời
kì đổi mới, những sáng tác của Nguyễn Minh Châu, đọc kĩ tác phẩm, nghệ sĩ
Phùng đã kể với người đọc chuyện gì? Câu chuyện ở tòa án huyện kể về ai?
Nhưng khi đã dùng phương pháp nêu vấn đề, tôi đã đổi mới cách hỏi. Ví dụ: tại
sao Nguyễn Minh Châu được đánh giá là thuộc một trong số “những người mở
đường tinh anh và tài năng” nhất của văn học Việt Nam thời kì đổi mới? Đọc và
Ngô Thị Xuyến
Trang 16
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
Qua phần tóm tắt, giáo viên yêu cầu học sinh tìm bố cục (đây là yêu cầu tương đối
dễ dàng)
4.2.2 Tìm hiểu tác phẩm:
4.2.2.1 Hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng:
Sau khi đọc tác phẩm, em có thể đặt tên cho phát hiện thứ nhất của nghệ sĩ
nhiếp ảnh Phùng là gì? Em hiểu cảnh đó như thế nào? Vì sao nghệ sĩ nhiếp ảnh
Phùng lại gọi đó là “cảnh đắt trời cho”? Tâm trạng của nghệ sĩ trước bức tranh ?
Giáo viên có thể tạm gọi đó là vẻ đẹp của thiên nhiên, tạo vật.
Đẹp như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một
nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha chút màu hồng hồng
do ánh mặt trời chiếu vào...Toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều
hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thật đơn giản và toàn bích”
Một cảnh tượng tuyệt đẹp, hiếm có, một bức họa diệu kì mà thiên nhiên và cuộc
sống ban tặng.
Tâm hồn người nghệ sĩ thực sự rung động, thăng hoa.Trái tim anh dâng trào
những xúc cảm thẩm mĩ, tâm hồn anh như được gột rữa, thanh lọc.
Tương tự như trên, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung của hai phát
hiện và hòan thành sơ đồ tư duy về hai phát hiện đó.
Khi đã tìm hiểu xong hai phát hiện của nghệ sĩ phiếp ảnh Phùng, giáo viên sử
dụng một số câu hỏi gợi nhằm giúp học sinh thể hiện suy nghĩ của mình trước
những tình huống có thể gặp trong cuộc sống đồng thời đánh giá kết quả quá trình
người khác vẫn làm. Hay bà bị một sự đe dọa nào đó? Được khuyên bỏ chồng,
người đàn bà từ chối bằng một hành động khó hiểu “con lạy quý tòa” “quý tòa
bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó…”. Chính lúc
này, người trực tiếp chứng kiến câu chuyện hay người gián tiếp nghe kể như
chúng ta đều cảm thấy khó hiểu, một cảm giác bất ngờ, khó chịu và bức xúc. Từ
trong lời kể của bà toát lên một nỗi đau, một sự cam chịu, một sự hi sinh vô bờ
bến. Từ việc bị đánh thường xuyên, bà còn nói đến “nguyện vọng” xin với lão
đưa tôi lên bờ mà đánh đến việc gửi thằng Phác lên ở với ông ngọai vì “sợ thằng
bé có thể làm điều gì dại dột với bố nó”….Cả Phùng, Đẩu và người đọc đều ngỡ
ngàng hiểu ra mọi chuyện. Thì ra, bà không cam chịu một cách ngờ nghệch, vô lí.
Trái lại, bà rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời.
Trước hết, giáo viên sẽ đặt ra một số câu hỏi gợi:
+ Nếu em là người đàn bà hàng chài, em sẽ hành xử như thế nào?
+ Em có đồng tình với cách hành xử của bà không? Vì sao? (làm việc nhóm)
Khi chưa đọc kĩ tác phẩm, học sinh đã đưa ra cách li dị chồng, tìm việc khác để
mưu sinh…
Khi học sinh đã đọc kĩ và hiểu được vấn đề, các em sẽ đồng tình với cách hành xử
của người đàn bà. Học sinh cũng giải thích theo cách mà người đàn bà đã thuyết
phục nghệ sĩ Phùng và chánh án Đẩu (kết hợp giữa câu hỏi tái hiện kiến thức, câu
hỏi gợi, phương pháp là việc nhóm học sinh đã nắm được nội dung của bài học).
Trang 18
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
Trang 19
những vất vả, bế tắc mà còn bị chồng đánh triền miên. Người vợ chấp nhận bị
đánh để chồng mình “bớt khổ”, còn người chồng đã làm được gì cho vợ? hay
càng làm vợ phải khổ hơn?
Giáo viên tiếp tục đặt câu hỏi: Nếu đã dùng cách “nhỏ to tâm sự” mà người
chồng vẫn không thay đổi, em còn có cách nào khác không? Học sinh tiếp tục suy
nghĩ và đưa ra hướng giải quyết tiếp theo.Em sẽ nhờ đến những đứa con. Chuyện
bạo hành trong gia đình, ngoài thằng Phác ra cũng có những đứa con khác biết
được. Những đứa con lớn trong gia đình sẽ tìm cơ hội phù hợp để tâm sự với bố.
Trong xã hội đã có những người đàn ông khi gặp phải những túng thiếu, bế tắc họ
sẵn sàng lìa xa gia đình, từ bỏ vợ con để đi tìm cuộc sống mới. Nhưng người đàn
ông này dù bế tắc cũng không có ý định từ bỏ vợ con chứng tỏ rằng ông có trách
nhiệm với gia đình. Sau khi nghe lời giãi bày của con mình, ông ta sẽ dần dần
thay đổi…
Câu hỏi: Nếu em là con lớn trong gia đình hàng chài, em sẽ khuyên bố như thế
nào?
Giáo viên cũng dùng phương pháp đóng vai để học sinh có thể trực tiếp đặt
câu hỏi gợi cho các bạn khác trong lớp (vai chánh án Đẩu, vai người đàn bà hàng
chài, vai những đứa con…)
Như vậy, khi giáo viên sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trong một tiết
học, học sinh có thể tự mình chiếm lĩnh kiến thức đồng thời các em cũng có
những kĩ năng nhất định để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống. Từ đó giáo
viên cũng thăm dò được những suy nghĩ, hướng giải quyết của các em trước một
vấn đề khó khăn, thử thách.
Trong tiết học này, giáo viên cũng có thể cho học sinh trình bày suy nghĩ về
người đàn ông. Trong cuộc sống, có những lúc em sẽ đối mặt với những vấn đề
khó khăn, có lúc gặp phải những bế tắc như người đàn ông trong tác phẩm, em sẽ
làm gì? Hành động, hướng giải quyết?
Học sinh tiếp tục suy nghĩ, tìm ra câu trả lời thích hợp nhất.
4.2.2.3. Tấm ảnh được chọn trong “bộ lịch năm ấy”:
Trang 22
Màu hồng
hồng của ánh
sương mai
Nghệ sĩ
Phùng
Ảnh
đen
trắng
Biểu tượng
của nghệ
thuật
Người đàn
bà vùng biển
Sự thật
của cuộc
đời
Tình huống càng trở nên "đắt giá" hơn khi người phóng viên hiểu được lí
do sâu xa khiến cho cuộc sống vợ chồng của những người ngư dân này luôn luôn
là như vậy : những người đàn bà sống trên thuyền không thể thiếu chỗ dựa là đàn
ông, còn việc người đàn ông thỉnh thoảng lôi vợ vào chỗ vắng người mà đánh
chẳng qua cũng chỉ để giải tỏa nỗi ức chế vì cảnh đông con bắt đắc dĩ và sự nghèo
Trang 23
- Tình huống truyện độc đáo, mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống.
Điểm nhìn nghệ thuật đa chiều. Lời văn giản dị mà sâu sắc, dư ba.
2. Kĩ năng:
Đọc – hiểu truyện ngắn hiện đại.
III. Phương pháp:
- Định hướng cho học sinh phân tích, đặt câu hỏi nêu vấn đề, thảo luận nhóm…
- Phương pháp thuyết trình, vấn đáp…
- Phương pháp đóng vai
- Luyện tập: yêu cầu học sinh làm bài tập trắc nghiệm và tự luận.
III. Tiến trình lên lớp:
- Bài cũ: Em hãy trình bày hai phát hiện của nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng ? Qua hai
phát hiện đó, nhà văn gửi gắm với người đọc điều gì?
- Bài mới: Ngoài hai phát hiện đó, Nguyễn Minh Châu còn để nghệ sĩ Phùng phát
hiện điều gì qua câu chuyện của người đàn bà hàng chài ở tòa án huyện, từ đó nhà
văn gửi gắm thông điệp gì? Chúng ta cùng khám phá.
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung cần đạt
- Gv: Tiết học trước cô đã yêu cầu các em đọc kĩ bài I. Tìm hiểu chung:
và tóm tắt vào vở soạn. Bây giờ cô mời một em tóm II. Đọc – hiểu tác phẩm:
tắt lại đoạn 3 của tác phẩm (bằng sơ đồ tư duy)
A. Nội dung:
- HS: tóm tắt
1. Hai phát hiện của nghệ
Trang 24
Sáng kiến kinh nghiệm 2013
Ngô Thị Xuyến
Hs có nhiều cách lí giải khác nhau, có thể đồng tình
hoặc không. Nhưng GV phải hướng hs đến câu trả
lời về vẻ đẹp tâm hồn để chốt lại vấn đề.
Tâm hồn đẹp đẽ của người đàn bà chính là chất
ngọc mà NMC đi tìm, ánh lên trong lấm láp, bùn
đất của cuộc đời. ( vẻ đẹp khuất lấp)
(giáo viên yêu cầu học sinh dùng sơ đồ tư duy)
sĩ nhiếp ảnh Phùng:
2. Câu chuyện ở tòa án
huyện:
a. Nhân vật người đàn bà
hàng chài:
- Lai lịch, ngoại hình, số
phận
- Vẻ đẹp tâm hồn:
+ Tình thương con vô bờ
bến (bị chồng đành nhưng
vẫn quyết gắn bó với
người đàn ông này để nuôi
con)
+ Nhẫn nhục, cam chịu.
+ Kín đáo, sâu sắc.
+ Giàu lòng tự trọng.
+ Biết chắt chiu hạnh phúc
gia đình.
…