1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Sau năm 1975 đất nước chuyển sang một trang sử mới với biết bao vấn đề phức
tạp của thời hậu chiến song dư âm của cuộc kháng chiến chống Mỹ vẫn còn đọng lại
rất sâu sắc trong tâm khảm những người bước ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt này và
nó còn ám ảnh cả những thế hệ sinh ra sau chiến tranh. Văn học thời hậu chiến dần
mở rộng đề tài sang những vùng hiện thực mới. Tuy vậy, bên cạnh mảng văn học viết
về đề tài xây dựng kinh tế, về đời sống thế sự, văn học viết về chiến tranh vẫn có vị
trí quan trọng. Nhưng có một điều khác biệt, đó là, khi hòa bình lập lại người ta có
dịp nhìn nhận lại chiến tranh một cách toàn diện nhất. Nổi bật trong số các sáng tác
về đề tài này là tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng
của Chu Lai.
1.2. Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai có thời
điểm xuất hiện gần nhau và đều được dư luận quan tâm đánh giá cao. Bảo Ninh và
Chu Lai đều là những người lính trực tiếp chiến đấu trước khi trở thành nhà văn. Vì
thế viết về đề tài chiến tranh sẽ là thế mạnh của họ và không gian – thời gian nghệ
thuật khi về viết về đề tài này được họ thể hiện một cách độc đáo trong các tác phẩm.
1.3. Nhìn lại chặng đường đã qua, ta thấy có nhiều ý kiến bình luận khác nhau, nhiều
nghiên cứu đánh giá khác nhau về hai cuốn tiểu thuyết và hầu hết đều khẳng định vị
trí quan trọng của chúng trong đời sống tiểu thuyết đương đại. Sự độc đáo về không
gian – thời gian nghệ thuật tuy đã được đề cập nhưng còn tản mạn, riêng lẻ và còn có
nhiều hướng mở ra để người nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
Ngay sau khi xuất hiện trên văn đàn với nhan đề Thân phận của tình yêu, tác
phẩm của Bảo Ninh đã gây ra một làn sóng trong dư luận.
Trên báo Văn nghệ số 43, 44, 47 năm 1991 liên tục có các bài viết về Nỗi
buồn chiến tranh như Nguyễn Khắc Phê với Đôi điều quanh ba tiểu thuyết được
giải, Đỗ Ngọc Thống với bài Viết về một xu hướng tiếp cận tác phẩm.
Tác phẩm cũng được chọn làm đối tượng nghiên cứu của một số luận văn
Thạc sĩ ở trường Đại học. Nhìn chung, mỗi luận văn đã đề cập tới một vài phương
diện cụ thể của tác phẩm như: Cảm hứng, cái nhìn hiện thực về con người, quan niệm
nghệ thuật về con người, một số kiểu loại nhân vật….
Những tìm tòi đánh giá của những người đi trước là những gợi ý quý báu để
tác giả luận văn mạnh dạn đi vào khai thác tìm hiểu sâu sắc hơn đề tài nghiên cứu.
Bởi lẽ tác giả nhận thấy những bài viết, nghiên cứu đánh giá tuy nhiều nhưng vấn đề
về không – thời gian nghệ thuật trong hai tác phẩm còn có thể được khai thác tìm
hiểu sâu hơn. Hơn nữa tìm hiểu sự độc đáo về không – thời gian nghệ thuật và mối
quan hệ giữa chúng trong hai tác phẩm đặt trong sự đối sánh với các tác phẩm sau
năm 1975 viết về cùng chủ đề chiến tranh khác là điều rất cần thiết và là mục đích mà
tác giả luận văn muốn hướng tới.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm tòi, phát hiện những nét độc đáo riêng biệt của Không – thời gian nghệ
thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày dĩ vãng của
Chu Lai; Đi sâu phát hiện mối quan hệ giữa không – thời gian nghệ thuật và hiệu quả
nghệ thuật của những sáng tạo đó trong khi thể hiện nội dung hai tác phẩm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh (NXB Văn học, 2005) và Ăn
mày dĩ vãng của Chu Lai (NXB Hội nhà văn, 2004). Ngoài ra còn có một vài tác
phẩm văn xuôi khác cùng viết về đề tài chiến tranh.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp tiếp cận thi pháp học
5.2. Phương pháp nghiên cứu lịch sử phát sinh
5.3. Phương pháp so sánh
3
5.4. Phương pháp nghiên cứu loại hình
Những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết có thể kể đến như: khả năng phản ánh
một cách toàn vẹn và sinh động bức tranh mang tính tổng thể của hiện thực đời sống;
“tính đa thanh phức điệu”; khả năng hướng nội, đi sâu khai thác từng mảnh đời,
từng góc khuất trong sâu thẳm tâm hồn con người; bản chất tổng hợp…
1.2. Diện mạo của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng về đề tài
chiến tranh sau năm 1975
1.2.1. Khái quát về đề tài chiến tranh trong văn học Việt Nam trước năm 1975
Cảm hứng chủ đạo trong văn xuôi chiến tranh trước năm 1975 là chủ nghĩa
yêu nước, khát vọng tự do độc lập, là niềm tự hào về sự nghiệp cứu nước vĩ đại của
nhân dân Việt Nam anh hùng.
Âm hưởng sử thi hào hùng, sảng khoái, cảm hứng ngợi ca cuộc chiến hiện tại
và tin tưởng mãnh liệt vào ngày mai đã trở thành đặc điểm chủ đạo trong văn xuôi về
đề tài chiến tranh trước năm 1975.
Nhìn chung, cốt truyện của văn xuôi Việt Nam trước năm 1975 thường được
xây dựng trên cơ sở xung đột địch – ta. Phù hợp với cách tổ chức cốt truyện, nhân
vật được phân ra rạch ròi hai tuyến chính diện và phản diện. Văn học nổi bật tính đơn
thanh trong giọng điệu, ngôn ngữ. Hào sảng hoặc trữ tình thống thiết là những sắc
giọng thể hiện ý thức nhà văn về tính chất chính nghĩa và vẻ đẹp của cuộc kháng
chiến.
Tóm lại, là một bộ phận cơ bản làm nên diện mạo văn học 1945 – 1975, đề tài
chiến tranh được các nhà văn xử lý nhất quán, tuân theo khuôn mẫu chung của loại
hình văn học sử thi.
1.2.2. Diện mạo của văn xuôi nói chung và tiểu thuyết Việt Nam nói riêng về đề
tài chiến tranh sau năm 1975
Sau năm 1975, nhất là khoảng từ năm 1986, văn học chiến tranh dần dần
nghiêng về kiểu con người cá nhân, con người bi kịch. Không chỉ bó hẹp trong cái
nhìn giai cấp, dân tộc, con người đã được nhìn nhận từ góc độ nhân bản và nhân loại.
Nhìn chiến tranh qua số phận con người, cảm hứng thế sự dần dần thay thế cho cảm
1.2.2. Một số nét về nhà văn Chu Lai và tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng
Đại tá, nhà văn Chu Lai cũng được coi là một cây bút tiêu biểu cho nền văn xuôi Việt
Nam hiện đại. Bao trùm lên các sáng tác của Chu Lai là sự trăn trở day dứt của tác giả
về số phận con người mà tiêu biểu là số phận người lính trước và sau chiến tranh.
Ăn mày dĩ vãng là câu chuyện kể về một kẻ “ăn mày” đặc biệt: không xin tiền
vàng, chức tước, địa vị mà chỉ cần tìm lại và làm rõ một sự thật trong quá khứ. Người
đọc luôn luôn hồi hộp suốt 16 chương tiểu thuyết và bị cuốn theo hành trình tìm lại
ký ức với những day dứt, ân hận của nhân vật tôi vì đã chạy vào hầm trước và không
chạy ra cứu người yêu mình khi khoảng cách chỉ là ba chục mét để có thể sống chết
bên nhau. Tác phẩm nhắc nhở người đọc phải luôn biết trân trọng những phút giây
quá khứ thiêng liêng và tôn trọng sự thật để sống cho tốt hơn, thanh thản hơn.
6
CHƯƠNG 2
KHÔNG GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT
NỖI BUỒN CHIẾN TRANH CỦA BẢO NINH
VÀ ĂN MÀY DĨ VÃNG CỦA CHU LAI
2.1. Khái lược chung về không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Không gian nghệ thuật là hình thức bên
trong của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Không gian nghệ
thuật gắn với cảm thụ về không gian, mang tính chủ quan… chẳng những cho thấy
cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học mà còn cho thấy quan niệm về thế giới, chiều
sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học”.
Một trong những ưu điểm đặc trưng nổi bật của không gian nghệ thuật trong
tiểu thuyết là khả năng mở rộng tối đa đến hết chiều kích. Nếu thời gian trong tiểu
thuyết là vô tận thì không gian nghệ thuật ở đó cũng là vô cùng. Không gian nghệ
thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện
lầy, ngổn ngang những xác người và muông thú. Không gian chiến trường trở thành
không gian nghĩa địa.
Với Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng, ký ức về chiến tranh cũng dữ dội và khốc
liệt chẳng kém. Anh kể lại: “Còn đơn vị tôi, không biết đã bị xóa phiên hiệu đi, xóa
phiên hiệu lại đến lần thứ mấy nữa?... Có quân vào là có việc làm, có mục tiêu để nổ
súng và để lại tiếp tục ngã xuống đến người chót cùng”. Cái chết của đồng đội mà
Hai Hùng phải chứng kiến hoàn toàn nằm ngoài trí tưởng tượng của người may mắn
chưa phải sống trong cảnh bom đạn chiến tranh. Đó là “những thây người ngã xuống,
rách toác, óc vỡ, ruột đùn ra như ruột lợn, những ống xương thòi thụt nham nhở,
trắng hếu”.
Không chỉ có chết chóc, không gian chiến trường còn đi liền với đói khổ và
cực nhọc. Ta thấy hiện lên trong không gian chiến trận những cuộc đói ăn, đói ngủ và
thiếu thốn đủ mọi thứ tối thiểu cho một cuộc sống bình thường. Cái đói triền miên đã
làm mụ mị tâm hồn người chiến sĩ tới mức, trước sự gào réo của bao tử họ đã quên
mất cả tự trọng. Không gian chiến trường vì thế hiện lên đã làm trào dâng trong ta
những niềm cảm thương sâu sắc.
Ngoài ra, ta thấy không gian chiến trường hiện lên luôn có sự song hành của
tình yêu nhưng dường như ở đó “hạnh phúc lứa đôi thường đặt song hành cùng sự
chia biệt, cái chết”. Mới chạm cửa chiến tranh, mối tình đẹp đẽ giữa Kiên và Phương
trong Nỗi buồn chiến tranh đã bị nó chà nát tới mức dù họ còn rất yêu nhau nhưng
vĩnh viễn không thể đem lại hạnh phúc cho nhau. Hay mối duyên tình chung đụng,
phi lý và tội lỗi giữa những người lính trinh sát với ba cô gái bị bỏ quên nơi rừng già
đem lại cho họ chút hạnh phúc ngắn ngủi, cho họ được hưởng “những giọt cuối cùng
còn sót lại của tình người” lại như một “điềm gở” báo trước cho số phận bi thảm của
những chàng trai cô gái đang ở độ tuổi thanh xuân ấy. Ngay sau những cuộc hẹn hò
đắm đuối là cái chết đau đớn, tức tưởi của ba cô gái cùng với cái chết của Thịnh
“con” “đạn trúng tim, không kịp kêu một tiếng, ngã sấp”.
Trong không gian chiến trường của Ăn mày dĩ vãng, tình yêu của Hai Hùng và
Ba Sương cũng luôn hiện lên với cảm giác bị chia lìa ám ảnh. Người ta rỉ tai lời đồn
Ba Sương có số sát người yêu nên cô thường phải kìm chế tình cảm để mong Hai
kiểm tra xuống, lục lọi săm soi từng cái túi cóc ba lô tuồng như người ta cho rằng
một núi của cải ở miền Nam sau giải phóng bị hư hao thất thoát, bị xâu xé, tranh
đoạt, bị hốt vơ cào xúc cho đến sạch sành sanh là bởi anh bộ đội chứ không phải bởi
bọn người nào khác…”. Gần năm mươi tuổi đầu trở về với mảnh đất đã từng gắn bó
suốt thời trai trẻ, gặp lại bạn bè kiêu dũng một thời, Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng
cay đắng nhận ra những nghịch lý trớ trêu: “Đội hình đánh giặc ngang tàng năm xưa
giờ đây, trừ vài thằng may mắn khôn ngoan chẳng rõ nguyên cớ nào lại đều bị cuộc
đời dồn chung vào một cục hẩm hiu, méo mó, chẳng may nhận ra nhau chỉ nhúc
nhích con người đờ đẫn màu chì. Cánh rừng năm nào đã không còn bóng dáng một
loài cây cũ, mảnh đất năm nào đã phai lợt sắc màu, một lớp người xa lạ ở đâu đến
đến hay và mới nhớn nhao lên đã nghiễm nhiên thay thế họ rồi”. Không gian thời
hậu chiến với những số phận trớ trêu đã xoáy sâu vào tâm hồn người đọc niềm xót xa
đến khó tả! Anh cũng bàng hoàng trước nghịch cảnh: Tên Địch – sĩ quan thám báo ác
ôn – chẳng những “không hề phải trải qua một ngày cải tạo” mà còn trở thành
trưởng phòng kế hoạch, người giúp việc tin cậy của giám đốc Sở Nông lâm và sống
trong cảnh sung sướng, giàu có. Còn vị đại tá già – cựu chiến binh cách mạng – thì
thành người gác cổng với những đồng lương còm lại luôn bị hắn hoạnh họe!
Chiến tranh khốc liệt còn hòa bình lại đầy rẫy những phức tạp và toan lo đời
thường. Không gian thời bình hiện lên không thanh bình, tươi đẹp như trong chiến
tranh những người lính vẫn nghĩ mà không gian cuộc sống thời hậu chiến hiện lên
đầy khó khăn và nghiệt ngã.
Trong Ăn mày dĩ vãng, Chu Lai còn vẽ ra một không gian thời hậu chiến với
thực tế đau lòng, đó là sự kỳ thị, chia rẽ Bắc Nam vốn nảy mầm ngay từ những ngày
chiến tranh ác liệt. Còn Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh, được tiếp tục sống nhiều
năm trong bầu trời hòa bình giữa lòng thành phố quê hương nhưng cảm giác của anh
cũng chẳng hơn gì những người như Hai Hùng, như Tuấn. Anh cảm thấy như bị
9
giúp anh qua những bến bờ mê lú, những khoảnh khắc cô đơn nhất của cuộc chiến
tranh. Khi Phương ra đi, một mình trơ trọi giữa cuộc đời nhưng Kiên vẫn tôn thờ, vẫn
đắm say và mê mệt. Không gian đời tư hiện lên ở đây là sự hòa trộn nỗi nhớ Phương
và nỗi nhớ tình yêu trong nỗi nhớ chiến tranh và khát vọng sáng tạo thành một ám
ảnh khôn nguôi… Không gian ấy hiện lên không bằng lặng mà đầy những đợt sóng
ngầm âm thầm mà dữ dội.
Với cái nhìn chân thực và day dứt, không gian đời tư hiện lên cho người đọc
thấy được cái nhìn đa chiều về người lính. Trong chiến tranh, những người anh hùng
của chúng ta can trường, dũng cảm và lập được thật nhiều chiến công. Và chiến công
ấy phải đổi bằng xương máu của bao người lính đã ngã xuống anh dũng. Chiến thắng
không chỉ là hào quang, nó là sự đánh đổi, là cái giá phải trả rất đắt đối với người
10
lính. Nhưng đằng sau hào quang là những góc khuất không thể tránh khỏi của chiến
tranh. Người lính không phải là cái máy biết nhả đạn, vì thế họ cũng có cảm xúc
mạnh mẽ và phức tạp. Nhân vật sử thi không bất động trên trang sách như chúng ta
vẫn tưởng tượng mà là những con người bằng xương bằng thịt, ngoài xung phong,
chiến đấu thì họ còn là những con người biết yêu đương, căm ghét, tức giận, có cả
những phút yếu hèn, tầm thường thoáng qua. Gặp họ trên những trang sách của Bảo
Ninh, ta không những thêm yêu người lính mà còn day dứt băn khoăn bởi cuộc sống
đời tư của họ.
Không gian đời tư được Chu Lai khai thác đến tận cùng ở chiều sâu tâm lý với
cả hai phần sáng và tối, cao cả và thấp hèn. Nó đã giúp hình ảnh người lính hiện lên
chân thật hơn bao giờ hết. Trong Ăn mày dĩ vãng, người lính ngoài chiến trường dễ
dàng chấp nhận cái chết một cách nhẹ nhàng, thanh thản nhưng để tồn tại và khi đối
mặt với cái đói nhiều lúc họ đã không thể vượt qua. Hai Hùng “nhiều khi muốn lỏng
tay súng mà không thể nói ra”. Bom đạn, hi sinh, ngày nào người lính cũng phải đối
diện và chứng kiến với những cảnh chết chóc tang thương, với đau đớn quằn quại của
trú ngụ trot cùng của cuộc đời”. Không nhà cửa, không việc làm, không gia đình…
anh lang thang đến vùng đất xa xôi tìm về dĩ vãng. Cái nhức nhối xót xa nhất đối với
người lính khi rời khỏi chiến trường trở về là họ không tìm được việc làm, cảm thấy
bế tắc trong hành trình kiếm kế sinh nhai. Hùng xuất hiện giữa đời thường thật méo
mó, tiều tụy. Anh không còn là anh chàng chỉ huy trinh sát đặc nhiệm cao lớn năm
xưa. Hùng gần cuối đời vẫn không tìm thấy bến đỗ. Anh xa lạ với cuộc sống hiện đại,
ngạc nhiên với những thay đổi trong cơ chế thị trường mà đồng tiền là kim chỉ nam.
Cuộc đời hiện tại đối với anh là những bi kịch nối tiếp nhau nghiệt ngã. Nhưng cuối
cùng anh đã đứng vững, bước qua trạng thái vô cảm, ảo giác trở lại chính mình, một
Hai Hùng một thời ngang dọc. Anh muốn nói: “Cuộc chiến tranh vừa qua đi có thể
là trò đùa nhưng sự mất mát là có thật. Cuộc đời hôm nay có thể chỉ là tấn tuồng
nhưng nỗi buồn không bao giờ là một màn kịch cả”.
Không gian đời tư được tái hiện đã tạo thêm gam màu nhức nhối trong các tác
phẩm. Qua đây, cả Bảo Ninh và Chu Lai đều muốn mang đến cho người đọc cái nhìn
chân thật nhất về con người mà đặc biệt là người lính trong và sau chiến tranh. Qua
đây, nhà văn muốn nói: nỗi buồn, sự mất mát, thua thiệt là những gì mà nhiều người
lính phải đón nhận đằng sau những phút giây chiến đấu dũng cảm và sau khúc khải
hoàn của ngày chiến thắng.
2.2.4. Không gian tâm linh huyền ảo
Sự xuất hiện của không gian tâm linh trong tiểu thuyết chiến tranh ngày nay là
một hệ quả tất yếu của không gian chiến trường, vì sự cực kì khốc liệt của bom đạn
và hình ảnh những cá chết rất gần với lĩnh vực tâm linh. Trên thực tế khi đối diện với
cái chết ở chiến trường, ngoài lòng dũng cảm, bản lĩnh, trí tuệ… người lính còn chiến
đấu bằng cả những tiềm ẩn bản năng không thể giải thích.
Trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh có rất nhiều không gian được phủ
lớp sương huyền ảo. Trước hết đó là không gian tồn tại qua những lời đồn đại, tiếng
sấm truyền và tiên tri – không gian truông Gọi Hồn. Ở đó “Chim chóc khóc than như
người… Đom đóm to kinh dị… có loại măng nhuốm màu đỏ dễ sợ, đỏ au như những
tảng thịt. Theo lời đồn, vào ngày kì lễ lạt nào đó của giới các âm hồn, các toán quân
đã chết của tiểu đoàn lại tụ họp trân trăng để điểm danh. Tiếng suối chảy tràn, tiếng
gian nghệ thuật của Nỗi buồn chiến tranh, cảm giác bị vây bủa, giăng mắc, bị ám
ảnh ban đầu như được gia tăng nồng độ bởi thế giới ngôn từ kì ảo. Bảo Ninh đã liên
tiếp sử dụng những phó từ, trạng từ chỉ tính chất bất thường, hoặc thoắt ẩn, thoắt hiện
của sự việc như “bỗng”, “bỗng dưng”, “tự nhiên”, “đột nhiên”, “chợt”, “bất
chợt”… Thêm vào đó là mạng lưới các từ chỉ cảm giác bất an, nỗi lo âu, sợ hãi, bản
năng của con người: “rùng mình”, “rợn tóc gáy”, “ớn buốt sống lưng”… Theo
thống kê sơ bộ, trong 320 trang của tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, có tới 116 lần
Bảo Ninh sử dụng những từ ngữ, hình ảnh tạo không gian rùng rợn, li kì: “Tiếng thở
than buồn thảm của thế giới rừng sâu”, “vời vợi xa xôi và tuyệt vời hư ảo”, “đám
hành khách từ trong mộ bước ra”, “ma cà rồng”, “ảo giác”, “kì quái”, “ma quái”,
“hoang đường”… Những địa danh cũng mang màu sắc kì ảo, ghê rợn: “Truông Gọi
Hồn”, “hồ Cá Sấu”, “đồi Thánh Giá”, “đèo Thăng Thiên”… Thậm chí chỉ trong
một trang (trang 8) xuất hiện hàng loạt các từ ngữ gây ấn tượng và cảm giác mạnh
với một không gian huyền ảo, kì bí: “Thần chết sờ soạng”, “vô khối hồn ma quỷ (…)
lang thang”, “mịt mù lam chướng”, “những kì lễ lạt (…) của các giới âm hồn”,
“cuộc điểm danh của các toán quân đã chết”, “chim chóc khóc than như người”,
“các loại măng đỏ như những tảng thịt ròng ròng máu”, “đom đóm to kinh dị (…)
lớn tày cái mũ cối”, “cây cối hòa giọng với gió rên lên những bản nhạc ma”…
Không gian huyền ảo, đầy ám gợi được sáng tạo đã góp phần khắc họa chân thực hơn
diện mạo tàn khốc của chiến tranh, khiến bất kì ai đã từng tiếp xúc với tác phẩm cũng
sẽ bị “ám ảnh”.
Nếu Nỗi buồn chiến tranh hiện lên với một lớp không gian huyền ảo, kì lạ thì
trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, Chu Lai đã tạo nên một không gian tâm linh huyền
thoại qua việc xây dựng nhân vật Viên với khả năng đoán trước được tương lai, dự
cảm về những điều sắp xảy ra. Nhân vật này còn có khả năng tiên đoán cả những sự
kiện lịch sử trọng đại của dân tộc. Điều này được thể hiện qua lời nhận xét của Hai
13
vệ quốc vĩ đại. Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng và Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh
đã không ít lần đắp mồ cho đồng đội. Họ là Viên, là Bảo, là Hai Hợi (Ăn mày dĩ
vãng), là Thịnh “con”, Can…(Nỗi buồn chiến tranh).
Sự tàn bạo và khủng khiếp của chiến tranh càng trở nên rùng rợn hơn khi Bảo
Ninh và Chu Lai thường để cho nhân vật xuất hiện vào ban đêm. Cảnh đêm, dù là ở
những cánh rừng thời chiến hay nơi thành phố thời bình trong Nỗi buồn chiến tranh
và Ăn mày dĩ vãng đã góp phần tô đậm ấn tượng về những chấn thương tinh thần
nặng nề mà người lính phải chịu đựng sau khi ra khỏi cuộc chiến. Nó cũng tô đậm cái
phi lý, quái gở, rùng rợn của chiến tranh, cái u ám bất yên của thời hậu chiến.
*** Khác với Chu Lai, Bảo Ninh còn sử dụng dày đặc các biểu tượng mưa, lửa
để tạo dựng không gian nghệ thuật về nỗi buồn chiến tranh
14
Hình ảnh mưa (mưa ở rừng, ở Hà Nội…) xuất hiện trong tác phẩm nhiều đến
mức trở thành một giai điệu ám ảnh, biểu tượng cho nỗi buồn và cảm giác bị bủa vây,
bị uy hiếp của người lính. Với Bảo Ninh, những cơn mưa như là suối nước mắt của
trời đất và con người trước đau thương chồng chất nơi mặt đất bị bom đạn kẻ thù cày
xới.
Không gian của Nỗi buồn chiến tranh càng trở nên dữ dội hơn qua biểu tượng
lửa – những biển lửa ngùn ngụt, hung tàn, cuồng loạn. Hình ảnh biển lửa đã trở thành
biểu tượng cho sức hủy diệt bạo tàn của kẻ thù. Nó khơi dậy ở người đọc cảm giác
kinh hoàng và niềm thương cảm sâu sắc trước thân phận con người trong bão táp
chiến tranh.
Không chỉ miêu tả những biển lửa do bom đạn, Bảo Ninh còn nhắc tới hình
ảnh bếp lửa. Song bếp lửa không hề gợi không khí ấm cúng gia đình mà càng làm
tăng thêm sự tăm tối và cảm giác đau buồn trong những cánh rừng mênh mông đầy
bom đạn. Hình ảnh ngọn lửa thiêu đốt những bức tranh của cha Kiên và suýt nữa
thiêu đốt cả cuốn tiểu thuyết còn dang dở của Kiên là những không gian nghệ thuật
3.1. Khái lược chung về thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết
Song hành với không gian nghệ thuật là thời gian nghệ thuật. Theo Từ điển
thuật ngữ văn học: Thời gian nghệ thuật là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ
thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Cũng như không gian nghệ thuật, sự miêu tả,
trần thuật trong văn học bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong
thời gian. Và cái trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời
gian nghệ thuật. Sự phối hợp của hai yếu tố thời gian này tạo thành thời gian nghệ
thuật, một hiện tượng ước lệ chỉ có trong thế giới nghệ thuật. Cũng giống như không
gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại bên trong của hình tượng
nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó. Thời gian nghệ thuật không phải là thời
gian khách quan, vận động theo trật tự một chiều, trước sau không thể đảo ngược mà
là thời gian được soi chiếu bởi tư tưởng, tình cảm của nhà văn, được nhào nặn và
sáng tạo trở thành hình tượng nghệ thuật, phù hợp với quan niệm nghệ thuật của nhà
văn về con người và thế giới. Vì thế, thời gian nghệ thuật có thể nhanh hay chậm, dài
hay ngắn, liên tục hay đứt quãng theo một logic riêng không hoàn toàn trùng khớp
với thời gian khách quan.
Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành thời gian nghệ thuật khi nó
trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó diễn ra số phận của nhân vật
và những biến động của tâm tư, tình cảm của con người. Khi đó thời gian nghệ thuật
cùng với các yếu tố khác như kết cấu, cốt truyện… thể hiện quan niệm của nhà văn
về con người và cuộc đời.
Thời gian trong tác phẩm phụ thuộc vào điểm nhìn của tác giả, vì vậy nó được
sử dụng một cách mềm dẻo, linh hoạt hơn. Và khác với thời gian khách quan được đo
bằng đồng hồ và lịch, “thời gian nghệ thuật có thể đảo ngược quay về quá khứ, có
thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài, trong
chốc lát thành vô tận”. Nếu như tác phẩm văn học có khả năng mở rộng tối đa
không gian thì chiều dài của thời gian cũng được mở rộng tới hết chiều kích của nó.
Trong tác phẩm, thời gian hoàn toàn có thể kéo dài từ năm này sang năm khác mà
không gặp phải bất cứ sự cản trở nào. Thời gian nghệ thuật có đặc điểm cấu trúc
riêng. Người ta hay chú ý tới hai yếu tố chính của lớp thời gian, đó là thời gian trần
gian cụ thể: “mùa khô đầu tiên sau chiến tranh”, “mùa mưa trước ngày hành quân
xuống cánh Nam”, “tiến đánh Buôn Ma Thuột”, “trong mùa xuân năm ấy”, “một
đêm nọ từ quán rượu ra”…. Đặc biệt, có thể thấy rõ thời gian niên biểu của người kể
chuyện qua những cụm từ như: “Dù sao thì cũng mới chỉ có hai tám năm sống trên
đời”, “ngay cái tuổi bốn mươi ngày nào xa lạ và khó tin biết mấy cũng chỉ còn lại
nốt mùa đông này”, “mùa đông ấy anh vừa đủ 17 tuổi”… Trước và sau những cụm
từ này đều có chỉ dẫn cụ thể về năm tháng. Chính điều đó đã làm cho cuốn tiểu thuyết
mang dáng dấp của tiểu thuyết tự thuật. Những chỉ dẫn về thời gian hiện thực đã làm
tăng tính chân thật và độ tin cậy của nội dung sự kiện trong tác phẩm.
Ăn mày dĩ vãng là câu chuyện kể về người lính tên Hai Hùng 16 năm sau ngày
giải phóng trở lại địa bàn hoạt động cũ để tìm lại những kỉ niệm xưa cũ về đồng đội,
về tình yêu và cũng là để giải tỏa những day dứt trong lòng nhân vật. Đó là những
năm tháng chiến tranh khoảng từ những năm 1968 đến hiện tại - tức mười sáu năm
sau ngày giải phóng. Trong lời kể của nhân vật về những câu chuyện trong chiến
tranh, dù không nhiều nhưng một số mốc thời gian lịch sử cũng đã được nhắc tới, làm
tăng thêm độ tin cậy cho lời kể. Câu chuyện về cái chết đau xót của Bảo - “cậu con
trai mười chín tuổi, e ấp, trắng trẻo và xinh xắn như con gái” được kể lại là “vào
một buổi chiều chiến tranh của mùa khô năm 1968” – năm mà cuộc chiến đang ở độ
cam go, quyết liệt và mất mát vô cùng lớn….. Đó là đội hình quân của Hùng “sau
Tết” (Tết Mậu Thân 1968) “Mười sáu thằng còn lại năm thằng. Năm thằng được bổ
17
sung lên hai mươi nhăm cho hợp tình thế mới. Sau tết, nhìn lại nhìn lui, chỉ còn lại
không đầy một chục? Nhanh thế? Nhiều thế?”. Thời gian lịch sử - sự kiện ở đây được
nhắc tới cho thấy sự thảm khốc, ác liệt và mất mát vô cùng lớn lao mà cuộc chiến
tranh mang lại. Lần theo câu chuyện của Hai Hùng về dĩ vãng, ta còn bắt gặp những
mốc thời gian lịch sử - sự kiện như “cái buổi sáng mùa khô năm ấy,“những ngày sau
Hiệp định bảy ba, là những ngày tột cùng cô đơn và cũng tột cùng khốc liệt với đám
giám đốc sở Nông lâm, rất giống Ba Sương, người yêu cũ của anh thời chống Mỹ.
Truyện thứ hai là câu chuyện về những năm tháng chiến đấu gian nan và kiêu hùng
của Hai Hùng và đồng đội nơi địa bàn ven đô Sài Gòn cũ khoảng hai mươi năm về
trước. Trong cuộc chiến đấu ấy Hai Hùng và Ba Sương đã gặp, yêu nhau rồi mất
nhau như thế nào.
18
Các chương 1, 3, 5, 7 là câu chuyện của Hai Hùng trong thời gian hiện tại (tính
từ lúc di cư vào Nam đến khi Ba Sương bị chết); các chương 2, 4, 6, 8 là hồi ức của
Hai Hùng về quá khứ chiến tranh; các chương còn lại là sự đan xen giữa quá khứ và
hiện tại.
Nếu như thời gian được nhớ lại của Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng đều rành
mạch, xác thực thì Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh thậm chí không biết mình đi tìm
gì vì anh không còn cảm giác về hiện tại. Ngay cả thế giới xung quanh Kiên cũng
không biết là thật hay ảo. Vì thế thời gian đồng hiện hỗn độn, không theo một chu
trình nào. Và cũng bởi vậy nên ngòi bút của Chu Lai không gây sốc với đọc giả như
Bảo Ninh.
3.3. Cách thức biểu hiện thời gian nghệ thuật tiêu biểu trong Nỗi buồn chiến
tranh và Ăn mày dĩ vãng
3.3.1. Nỗi buồn chiến tranh: Thời gian quá khứ qua dòng kí ức và hoài niệm
Viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ đã trở thành lịch sử, tác giả của Nỗi buồn
chiến tranh không miêu tả chiến tranh như lúc nó đang xảy ra mà như nó hiện ra
trong kí ức, trong suy tưởng. Việc lựa chọn cách trình bày thời gian quá khứ dưới
hình thức kỉ niệm, qua sự nhớ lại, qua dòng kí ức và hoài niệm của người hôm nay
cho phép nhà văn tiếp cận lịch sử tự do hơn, gửi gắm được nhiều hơn ấn tượng, tâm
trạng của mình cũng như những cảm nhận còn lại qua năm tháng
3.3.1.1. Dòng kí ức về những người thân trong gia đình
Ngược dòng quá khứ, hồi ức trở về day dứt, trăn trở trong Kiên. Đó là kí ức về
Bên cạnh những người phụ nữ gắn với năm tháng chiến tranh, hi sinh, mất mát
của đời Kiên thì người đàn bà câm lại chính là hầm trú ẩn của anh trong những năm
tháng chới với, hụt hẫng, hoang mang và cô độc nhất.
Theo thời gian nghệ thuật, dòng thác kí ức trong Kiên tuôn chảy mãnh liệt.
Quá khứ ám ảnh, vật lộn tâm hồn Kiên nhưng lại giữ thăng bằng cho cuộc sống hậu
chiến của anh, là điểm tựa để anh không hụt hẫng, không đánh mất chính mình giữa
dòng đời hối hả ngày hôm nay. Theo đó, niềm tin, nuối tiếc, những tấn bi kịch ẩn sau
thời gian nghệ thuật đã tạo thành sự cuốn hút diệu kì cho cuốn tiểu thuyết này.
3.3.2. Ăn mày dĩ vãng: Thực tại ăn mày quá khứ hào hùng trong hành trình đi
tìm dĩ vãng
Với việc đan cài thời gian hiện tại và quá khứ đan xen, Chu Lai đã soi hiện
thực vào quá khứ hào hùng để khắc họa rõ nét hơn, chân thật sống động hơn con
người, cuộc sống trong và sau chiến tranh.
3.3.2.1. Hành trình đi tìm dĩ vãng về đồng đội
Các chương của Ăn mày dĩ vãng cứ đan xen lần lượt hiện tại – quá khứ và cho
người đọc thấy rõ cuộc đi tìm dĩ vãng về đồng đội, về một thời khói lửa mà hào hùng
của người lính trở về sau chiến tranh.
Trong Ăn mày dĩ vãng, người lính tìm về quá khứ vì một lẽ: Chiến tranh dù có
khắc nghiệt nhưng lại là nơi lưu giữ những gì tốt đẹp nhất, đáng tự hào nhất của mỗi
người lính. Ở đó họ mãi mãi được sống trong tình cảm mà cuộc sống thời bình đã mai
một hoặc biến tướng. Họ sẽ trở lại với tình yêu, tình đồng đội – những tình cảm đã
giúp họ vượt qua muôn vàn mất mát của chiến tranh.
Trong suốt thời gian của cuộc hành trình Ăn mày dĩ vãng ta còn thấy tình đồng
đội giữa những người lính thật đẹp biết bao. Trong hành trình đi tìm dĩ vãng này, tình
đồng chí, đồng đội ở những người như Quân, như Tuấn làm người đọc thực sự xúc
động. Nó giúp ta neo giữ niềm tin vào cuộc đời vốn nhiều đa đoan, bất trắc.
Chỗ khác dễ nhận thấy giữa Nỗi buồn chiến tranh và Ăn mày dĩ vãng là Bảo
Ninh thì chú trọng thể hiện tình đồng đội trong chiến tranh, còn Chu Lai, trong hành
trình đi tìm dĩ vãng, ông lại đặc biệt tôn vinh tình cảm trong sáng, nguyên vẹn, bất
chấp thời gian và dòng đời dâu bể ở những người lính đã trở lại đời thường.
Trong Nỗi buồn chiến tranh, thời gian nghệ thuật đã trở thành bảo bối trong
tay nhà tiểu thuyết nhằm xâu chuỗi các sự kiện, số phận các nhân vật. Thời gian trong
tác phẩm liên tục có sự đổi chiều: Khi thì ở thời hiện tại, người đọc chứng kiến tiến
độ bản thảo của Kiên: ý tưởng ban đầu, những biến thiên và kết thúc. Có khi thời gian
lại quay về quá khứ với những câu chuyện hãi hùng của chiến tranh, câu chuyện của
mối tình trong sáng nhưng đầy bất trắc của Kiên với Phương. Thời gian trần thuật
luôn có sự xáo trộn: quá khứ - hiện tại – tương lai tạo thành một mũi tên xuyên thấu
tâm hồn Kiên. Trên trục thời gian không ngừng biến thiên ấy, xuất hiện những miền
không gian khác nhau: Không gian chiến trận, không gian thời hậu chiến, không gian
đời tư, không gian tâm linh huyền ảo kì lạ và bí ẩn, vừa như thực vừa như hư cấu tạo
sức cuốn hút mạnh mẽ… Có thể thấy sự khai thác và tổ chức hệ thống không – thời
gian nghệ thuật ở đây luôn diễn ra trong sự phối hợp nhịp nhàng, tự nhiên nhằm tạo
ra môi trường và những mối quan hệ thích hợp đối với từng loại nhân vật. Từ đây con
đường đời đầy đau khổ của nhân vật được hiện ra: (1) Cuộc sống thời thơ ấu với gia
đình và bạn bè; (2) Mối tình trong sáng với Phương thuở còn là học sinh trường
Bưởi; (3) Mối tình bất trắc với Phương trước thềm chiến tranh; (4) Cuộc sống chiến
tranh; (5) Mối tình với Phương sau chiến tranh; (5) Những ngày đi tìm hài cốt đồng
đội; (6) Cuộc sống cô đơn lạc lõng của một cựu chiến binh; (7) Cuộc sống của một
nhà văn phường.
21
Thời gian và không gian nghệ thuật luôn có mối quan hệ song hành, gắn bó
với nhau. Chẳng hạn như trong thời gian chiến trận, không gian được nhớ lại thường
là quãng thời gian êm đềm trước chiến tranh. Trong thời bình, khi không hòa nhập
được với cuộc sống mới, không gian nghệ thuật lại thường là không gian quá khứ
chiến tranh – nơi mà tình đồng đội, đồng chí trở thành bất tử. Trong Ăn mày dĩ vãng
của Chu lai, nhân vật Hai Hùng trong chiến trận là một chiến sĩ kiên trung, dũng cảm
nhưng cũng có lúc lại sợ cái chết đến nỗi muốn trở thành thương binh để được ra
chiến, không gian đời tư, không gian tâm linh, huyền ảo. Ở Nỗi buồn chiến tranh và
Ăn mày dĩ vãng, có thể thấy Bảo Ninh và Chu Lai đã xây dựng nên một không gian
chiến trường không phải bằng cái nhìn “sử thi” truyền thống mà bằng cái nhìn chân
thực đến trần trụi thô nhám như nó vốn có. Vì thế, không gian chiến trận ở đây thẫm
đẫm bi thương, mất mát. Tuy nhiên, có thể thấy, cùng viết về không gian chiến
trường nhưng tác phẩm của Chu Lai có thiên hướng nhấn vào khả năng chịu đựng và
những khao khát rất con người của người lính để chất vấn cái hiện tại dửng dưng, tàn
nhẫn. Còn tác phẩm của Bảo Ninh nổi rõ tinh thần tự vấn về chính niềm tin quen
thuộc của con người Việt Nam rằng chiến tranh là lò lửa thử vàng, là cơ hội cho
những phẩm chất đẹp đẽ nhất tỏa sáng. Không gian thời hậu chiến cho thấy cái nhìn
chân thật hơn về cuộc sống trong và sau chiến tranh. Chiến tranh khốc liệt còn hòa
bình lại đầy rẫy những phức tạp và toan lo đời thường. Với không gian đời tư, con
người trong tác phẩm của Bảo Ninh và Chu Lai đều được hiện lên với chiều sâu tâm
lý, với cuộc sống đích thực của riêng mình và thật hơn bao giờ hết. Ở Nỗi buồn
chiến tranh, không gian đời tư của nhân vật được hiện lên qua một quá trình tâm lý
phức tạp với nỗi buồn chiến tranh, nỗi buồn tình yêu, nỗi buồn sáng tạo. Trong Ăn
mày dĩ vãng, không gian đời tư hiện lên là những phút giây yếu lòng, chân thật của
người lính trong sự khai thác đến tận cùng chiều sâu tâm lý với cả hai phần sáng và
tối, cao cả và thấp hèn. Sự xuất hiện của không gian tâm linh, huyền ảo trong tiểu
thuyết ngày nay là một hệ quả tất yếu của không gian chiến trường, vì sự cực kì khốc
liệt của bom đạn và hình ảnh những cá chết rất gần với lĩnh vực tâm linh. Trong Nỗi
buồn chiến tranh không gian được phủ lớp sương huyền ảo với số lượng lớn lớp
ngôn từ kì ảo, có khả năng gây ấn tượng mạnh, làm tăng thêm sức ám ảnh và huyền
bí cho không gian nghệ thuật. Khác với Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng lại
23
tồn tại không gian tâm linh, huyền ảo qua khả năng đặc biệt của nhân vật có “giác
quan thứ sáu” với khả năng đoán trước được tương lai, dự cảm về những điều sắp
cuộc hành trình của thực tại ăn mày quá khứ hào hùng. Đó là cuộc hành trình đi tìm
dĩ vãng về đồng đội, về tình yêu. Qua đây cho thấy kí ức về chiến tranh là cái gì đó
thiêng liêng và thật đáng trân trọng, không thể bị lãng quên.
3. Không gian và thời gian nghệ thuật luôn có mối quan hệ tương đồng. Không
gian nghệ thuật không thể tồn tại riêng lẻ nếu không gắn với một thời gian nghệ thuật
nào cụ thể và ngược lại. Điều này được thể hiện rất rõ nét trong hai cuốn tiểu thuyết
của Bảo Ninh và Chu Lai.
4. Tìm hiểu những độc đáo về Không gian và thời gian nghệ thuật trong hai tác
phẩm lớn đều nói về chiến tranh là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và Ăn mày
24
dĩ vãng của Chu Lai, chúng tôi có thêm cơ sở khoa học một lần nữa khẳng định lại vị
trí hàng đầu của hai tác phẩm trong dòng chảy của tiểu thuyết Việt Nam về đề tài
chiến tranh ở Việt Nam sau năm 1975. Chúng tôi còn nhận thấy có những điểm tương
đồng nhất định và những điểm khác biệt thể hiện sự độc đáo riêng biệt của mỗi nhà
văn. Ở Ăn mày dĩ vãng, không gian và thời gian nghệ thuật xuất hiện ít các biểu
tượng đa nghĩa hơn tác phẩm của Bảo Ninh, thời gian có sự lồng ghép giữa quá khứ hiện tại nhưng nhìn chung vẫn được nhớ lại rành mạch rõ nét trong một cốt truyện
vẫn theo lối truyền thống (gồm thắt nút, cao trào, cởi nút…). Còn trong Nỗi buồn
chiến tranh, Bảo Ninh dường như đã đạt đến trình độ tiểu thuyết hiện đại của thế
giới khi xây dựng những mô hình không gian nghệ thuật sống động, dày đặc các hình
ảnh biểu tượng đa nghĩa, khi biểu hiện tài tình sự rối bời, hỗn độn của thời gian nghệ
thuật theo “dòng ý thức” vô cùng phức tạp, đầy bất ngờ, chập chờn giữa hai bờ hư
thực, giữa quá khứ và hiên tại của kiểu nhân vật ghép mảnh.
“Tiểu thuyết là một thể loại văn chương duy nhất đang biến chuyển và còn
chưa định hình” (M. Bakhtin). Trong những cách tân nghệ thuật gần đây, phạm trù
không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật được coi là một trong những yếu tố
quan trọng, góp phần hoàn thiện hơn thể loại tiểu thuyết cũng như mang đến cho thể
loại này tính hiện đại. Chính vì thế, việc nghiên cứu tìm hiểu không gian nghệ thuật