Vận dụng một số biện pháp tích hợp GDMT trong dạy học chương 1 công nghệ 10 - Pdf 34

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2
Phần I: MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài
Con người và xã hội là một bộ phận đặc thù – đặc biệt của thế giới tự
nhiên, được sinh ra trong tự nhiên và tồn tại trong tự nhiên. Bản thân con
người và xã hội loài người luôn mang bản tính của một thưc thể tự nhiên.
Nhận thức đúng đắn về mối quan hệ hữu cơ giữa con người và tự nhiên, xác
định một cách có ý thức tích cực các hoạt động thực tiễn của con người phù
hợp với quy luật tự nhiên – đó là cơ sở để giải quyết mọi vấn đề về môi
trường sinh thái.
Hiện nay chúng ta đang trên con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường. Sự nghiệp đó không thể không liên
quan chặt chẽ đến những vấn đề thuộc về môi trường – sinh thái – nhân văn.
Trong thực tế chúng ta đang sống trong môi trường sinh thái có chiều
hướng suy giảm. Trong vòng vài chục năm trở lại đây, loài người mới giật
mình vì thấy Trái Đất có quá nhiều người, môi trường quá ô nhiễm, còn quá ít
tài nguyên. Quá nhiều sự cố môi trường, diễn biến bất thường của thời tiết
đang hàng ngày đe dọa con người.
Vì thế, vấn đề môi trường sống hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi sinh
thái học thông thường, mà nó đã trở thành một vấn đề kinh tế - chính trị - xã
hội của toàn cầu. Bảo vệ môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với mọi
người, mọi dân tộc, mọi quốc gia trên Trái Đất. Để giải quyết được vấn đề
này thì công việc giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp
hữu hiệu nhất, tinh tế nhất, có tính bền vững và sâu rộng nhất trong số các
biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất
nước.
Trong số các môn học ở trường THPT thì môn Công Nghệ là một trong
những môn học thực nghiệm, nó cung cấp cho học sinh rất nhiều các kiến

- Vận dụng một số biện pháp tích hợp nhằm giáo dục BVMT trong
chương 1: Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương – Công nghệ 10. Từ đó nâng cao
hiệu quả dạy học nói chung và hình thành ở học sinh những kiến thức, kỹ
năng, thái độ BVMT của học sinh THPT.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc GDMT trong dạy học Công nghệ 10.
- Nghiên cứu thực trạng GDMT và BVMT ở trường THPT.
- Phân tích nội dung kiến thức chương 1- Công nghệ 10 – THPT làm cơ
sở cho việc tích hợp GDMT.

Đỗ Thị Nhung

2

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Đề xuất nội dung và một số biện pháp nhằm tích hợp GDMT trong dạy
học Công nghệ 10.
- Thiết kế một số bài giảng vận dụng tích hợp GDMT trong dạy học
chương 1 – Công nghệ 10.
4. Đối tượng nghiên cứu
- Nội dung SGK Công nghệ 10 – THPT.
- Học sinh lớp 10 – THPT.
- Nhiệm vụ của môn học Công nghệ 10 – THPT.
- Các hình thức dạy học có tích hợp GDMT trong Công nghệ 10 –

- Góp phần phản ánh thực trạng GDMT và BVMT trong dạy học Công
nghệ ở trường THPT.
- Phân tích nội dung tích hợp GDMT trong phần 1, chương 1: Trồng
trọt, lâm nghiệp đại cương – Công nghệ 10.
- Thiết kế được một số giáo án có ví dụ tích hợp GDMT trong dạy học
chương 1 - Công nghệ 10.

Đỗ Thị Nhung

4

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Phần II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN GDMT TRONG DẠY HỌC CÔNG NGHỆ 10
1.1 . Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường

1.1.1. Khái niệm về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có
quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,
sản xuất, phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật BVMT của
Việt Nam, 1993).
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần
thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên,

quá trình này xảy ra theo xu hướng không như mong muốn, gây nên những
ảnh hưởng có hại đối với sức khoẻ và sự sinh tồn của con người hoặc của các
loài sinh vật khác sinh sống trong môi trường đó.
 Ô nhiễm môi trường là khái niệm để chỉ sự xuất hiện của một chất lạ
trong môi trường tự nhiên hoặc làm biến đổi thành phần, tỷ lệ về hàm lượng
của các yếu tố có sẵn, gây độc hại cho cơ thể sinh vật và con người nếu như
hàm lượng của các chất đó vượt khỏi giới hạn thích nghi tiềm tàng của cơ thể.
1.2. GDMT trong dạy học Công Nghệ
1.2.1.

Thực trạng môi trường Việt Nam
Xếp hạng thứ 5 khu vực châu Á - Thái Bình về mức độ ô nhiễm khói

bụi ở thành phố đông dân, nồng độ khí thải tăng cao và nhanh, hiện tượng
nhiều dòng sông cục bộ chết, việc xuất hiện các làng ung thư... là những điểm
nóng, cung cấp những bức tranh nhỏ lẻ, khiến người dân bức xúc về thực
trạng môi trường Việt Nam hiện nay.
Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế
- xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai.
Ô nhiễm môi trường hoàn toàn không phải là một hiện tượng mới. Từ
thời thượng cổ, con người đã có những hoạt động làm ô nhiễm môi trường,
nhưng chưa đáng kể vì dân số ít, khoa học kĩ thuật chưa phát triển. Dần dần
những tác động của con người gây ô nhiễm môi trường ngày càng rõ rệt và
tăng lên đáng kể (đặc biệt là trong nửa cuối thế kỉ 20).
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên
phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát
triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách

Đỗ Thị Nhung


biệt là các chất phân huỷ ảnh hưởng đến khả năng tự thanh lọc của môi
trường.
Chất gây ô nhiễm môi trường rất đa dạng về nguồn gốc và chủng loại,
tuy vậy chúng được phân chia thành ba nhóm lớn: chất thải rắn, chất thải lỏng
và chất thải khí. Mỗi dạng có thể chứa đựng nhiều chất, từ các hoá chất, các
kim loại nặng, đến chất phóng xạ và vi trùng. Nhiệt cũng là tác nhân trực tiếp
hay gián tiếp gây nên sự ô nhiễm môi trường.
Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của
nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các
đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm
nước và ô nhiễm không khí.
Môi trường không khí: Chất lượng không khí ở Việt Nam nói chung
còn khá tốt, đặc biệt là ở nông thôn và miền núi. Thế nhưng vấn đề bụi lại
đang trở thành vấn đề cấp bách ở các khu đô thị và các khu công nghiệp. Việc
gia tăng các phương tiện giao thông cũng đang gây ô nhiễm không khí ở

Đỗ Thị Nhung

7

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhiều nơi. Nồng độ chì, khí CO khá cao, trực tiếp gây hại đến sức khoẻ của
những người tham gia giao thông. Nhiều vụ cháy rừng gần đây làm suy giảm
chất lượng không khí và gây ra một số hiện tượng thiên nhiên không bình


Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp


Trường ĐHSP Hà Nội 2

Ô nhiễm nước xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh

hoạt, nước rác công nghiệp, các chất ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống
nước ngầm.

Môi trường đất: Có xu thế thoái hoá do xói mòn, rửa trôi, mất chất hữu
cơ; khô hạn, sa mạc hoá, ngập úng, lũ; trượt, sạt lở đất; mặn hoá, phèn hoá...
dẫn đến nhiều vùng đất bị cắn cỗi, không còn khả năng canh tác và tăng diện
tích đất bị hoang mạc hoá.


Ô nhiễm đất xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại

(hàm lượng vượt quá giới hạn thông thường) do các hoạt động chủ động của
con người như khai thác khoáng sản, sản xuất công nghiệp, sử dụng phân bón
hóa học hoặc thuốc trừ sâu quá nhiều,... hoặc do bị rò rỉ từ các thùng chứa

Đỗ Thị Nhung

9


Môi trường biển ven
bờ: Việt Nam có bờ biển
dài hơn 3.200km nhưng
trong vòng 20 năm qua,
diện tích rừng ngập mặn
nước ta giảm hơn một nửa.
Lũ quét, triều cường, sóng
biển dẫn tới sạt lở bờ biển
làm cho các loài sinh vật
bị mất nơi cư trú, suy giảm
mạnh về chủng loại và số
lượng.

Đa dạng sinh học: Việt
Nam là một trong mười quốc
gia có đa dạng sinh học thuộc
dạng cao nhất trên thế giới.
Tuy nhiên, những năm gần
đây, đa dạng sinh học nước ta
bị suy giảm mạnh do cháy
rừng, do chuyển đổi mục đích
sử dụng đất đai, làm thu hẹp
nơi cư trú của các giống loài.

Đỗ Thị Nhung

11

Khoa Sinh - KTNN


hệ tương lai” (Dự án VIE/95/041, 1997).
1.2.3.

Mục tiêu GDMT

- Quan tâm: Giúp các tổ chức xã hội và cá nhân biết cảm thụ và quan tâm
đến môi trường nói chung và vấn đề môi trường nói riêng.

Đỗ Thị Nhung

12

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

- Tri thức : Giúp các tổ chức xã hội và cá nhân có được nhiều trải nghiệm
về môi trường và các vấn đề của nó, có tri thức cơ bản về môi trường và
các vấn đề của nó.
- Thái độ: Giúp các tổ chức và cá nhân có được động cơ tham gia tích cực
cải thiện và bảo vệ môi trường, có tình cảm và giá trị quan đối với môi
trường.
- Kỹ năng : Giúp các tổ chức và cá nhân có kỹ năng xác định và giải quyết
các vấn đề môi trường.
- Tham gia: Cung cấp cho mọi người cơ hội được tham dự tích cực vào
mọi hoạt động có mục tiêu giải quyết vấn đề môi trường.
1.2.4.

Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

ngừng nâng cao nhận thức về MT của đối tượng giáo dục, làm cho người
học hiểu rõ bản chất, tầm quan trọng của các vấn đề MT và trách nhiệm
của họ đối với các vấn đề này.
- Xem xét thái độ và quan niệm về giá trị, tức là xem xét tính đúng đắn và
sự phù hợp của thái độ và quan niệm của người học về các vấn đề môi
trường.
- Xây dựng ý thức trách nhiệm, nghĩa là thái độ và quan niệm về giá trị
phải được thể hiện thành ý thức trách nhiệm, cam kết của người học đối
với các vấn đề MT cụ thể mà họ gặp.
- Tăng cường hiểu biết về các vấn đề MT cần xử lý cũng như cần phòng
ngừa và khả năng khoa học, công nghệ, quản lý để thực hiện các việc
này.
- Cung cấp kỹ năng: Đó là những kỹ năng cụ thể để quan sát, phân tích,
quyết định, hành động, và tổ chức hành động.
- Khuyến khích hành động: Các nội dung nêu trên cần được thể hiện trong
thực tế thành hành động cụ thể của người học.
1.2.6.

Phương pháp GDMT
Thường chú ý sử dụng 7 phương pháp sau:

- Giáo dục qua kinh nghiệm thực tế của người học, người học được tiếp
xúc trực tiếp với đối tượng học tập nghiên cứu.
- Tham quan, khảo sát thực địa.
- Phương pháp giải quyết vấn đề.
- Nghiên cứu những vấn đề môi trường thực tế,những trường hợp cụ thể

Trong chương trình Công nghệ 10 – THPT, kiến thức cơ bản nhất là hệ
thống các kiến thức các khái niệm, các quy luật được phát triển theo một trình
tự logic chặt chẽ. Các kiến thức này đặt nền móng cho việc tiếp tục học lên
hoặc vào các trường trung học chuyên nghiệp – dạy nghề có liên quan hoặc ra
đời, hòa nhập với cộng đồng, tham gia lao động sản xuất và các công việc
trong ngành nghề khác.
Khoa học kĩ thuật ngày càng hiện đại, lượng thông tin ngày một tăng lên
nhanh chóng. Vì vậy, những kiến thức phổ thông cũng cần phải cập nhật, đổi
mới. Ngoài việc cải cách thay SGK theo chu kì từng giai đoạn, thì người giáo
viên cũng cần phải thường xuyên cập nhật tri thức, tìm kiếm tích lũy thông tin
khoa học Công nghệ.
Qua quá trình dạy học HS phải hiểu, nhớ và vận dụng được, theo nguyên
lí giáo dục đi đôi với thực hành, lí luận kết hợp với thực tiễn, giáo dục kết hợp
với lao động sản xuất, việc giảng dạy môn Công nghệ phải quán triệt tinh thần
giáo dục kĩ thuật tổng hợp. Thông qua môn Công nghệ giúp HS nắm vững cơ

Đỗ Thị Nhung

15

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

sở khoa học của những công cụ kĩ thuật, quy trình sản xuất cơ bản có liên
quan đến các đối tượng sống. Nguồn tri thức cung cấp cho HS thông qua con
đường giáo dục là nguồn tri thức có mục đích, đã được chọn lọc, sắp xếp có

Đỗ Thị Nhung

16

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Trong dạy học, để hình thành năng lực quan sát, GV phải tập cho HS
biết xác định mục đích, nội dung, phương pháp và phương tiện quan sát. Đó
là những kĩ năng giúp HS quan sát thu được các tài liệu tri giác về đối tượng.
Những gì thu được từ hoạt động quan sát trong tự nhiên, trong thực tiễn sản
xuất và đời sống, trong thực nghiệm khoa học cần phải được tiếp tục gia
công, xử lý để có thể trở thành các biểu tượng rồi từ đó khái quát thành các
khái niệm, quy luật sinh học. Hoạt động gia công, xử lí này đòi hỏi phải sử
dụng các biện pháp logic như phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, rút
ra kết luận.
b. Kĩ năng làm thí nghiệm
Thông qua việc thực hiện các thí nghiệm trên lớp, GV rèn luyện, giúp
HS biết cách xác định mục đích thí nghiệm, xây dựng kế hoạch tiến hành. Kĩ
năng thí nghiệm bao gồm: Lựa chọn, lắp ráp các dụng cụ thí nghiệm, bố trí thí
nghiệm. Giúp HS biết ghi chép diễn biến kết quả của thí nghiệm, giải thích
các hiện tượng và biết tường trình tổng kết rút ra kết luận.
c. Phát triển các biện pháp, phương pháp tư duy lôgic
Mọi hoạt động đều cần tới tư duy. Tư duy là đặc trưng của hoạt động
nhận thức. Nói tư duy, chủ yếu muốn đề cập tới hai con đường logic là quy
nạp, diễn dịch và các thao tác tư duy bao gồm phân tích, tổng hợp, so sánh,


Nhiệm vụ giáo dục
Trong quá trình dạy học, môn Công nghệ cũng góp phần vào nhiệm vụ

giáo dục cho HS, bao gồm các nội dung sau:
- Giáo dục thế giới quan khoa học
- Giáo dục đạo đức
- Giáo dục lao động
- Gáo dục hướng nghiệp
- Giáo dục môi trường
• Cung cấp cho HS những nhận thức đúng đắn về vị trí của việc BVMT
thiên nhiên.
• Cung cấp cho HS những kiến thức hiểu biết về môi trường.
• Phải biến những nhận thức và kiến thức hiểu biết đó thành những hành
động thiết thực để tham gia bảo vệ môi trường.
Hiện nay vẫn còn nặng giáo dục về MT, nhưng chưa chuyển được
thành giáo dục vì MT. Chính vì thế mà ý thức của mọi người đối với MT còn
chưa cao.

Đỗ Thị Nhung

18

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2



Trường ĐHSP Hà Nội 2

nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến
trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó.
Tích hợp trong phạm vi GDBVMT là một khái niệm chung, nói về một
phương thức, một cách tiến hành giảng dạy về môi trường cho HS. Cách này
không đòi hỏi phải có một môn học riêng, bởi vì các kiến thức GDMT được
đưa xen vào nội dung các môn học đã có ở trường phổ thông. Tích hợp là một
cách có hệ thống các kiến thức GDBVMT và kiến thức môn học thành một
nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về
lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học. Như vậy, kiến thức GDBVMT
không phải muốn đưa vào bài học nào cũng được, mà phải căn cứ vào nội
dung của bài học có liên quan với vấn đề môi trường mới có thể tìm chỗ thích
hợp để đưa vào.
Tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định
lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn. Liên kết phải tạo thành một thực thể
toàn vẹn, không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp. Tính toàn vẹn
dựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải sự sắp
đặt các thành phần bên cạnh nhau. Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức,
kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết,
phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình
huống.
2.2. Phương pháp tích hợp GDMT trong dạy học
Dạy học Công nghệ theo định hướng tích hợp vẫn theo đuổi quan điểm
“lấy HS làm trung tâm”, tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong mọi
mặt, mọi khâu của quá trình dạy học; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học,
năng lực sáng tạo của HS. Do vậy, việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp
dạy học cần chú ý bảo đảm các yêu cầu sau:


• Dạng liên hệ: Ở dạng này, các kiến thức GDBVMT không được đưa vào
chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, GV có thể bổ
sung kiến thức GDBVMT có liên quan với bài học qua giờ giảng lên lớp.
2.3. Cấu trúc chương trình công nghệ 10 và nội dung tích hợp GDMT
trong chương 1 Công Nghệ 10
2.3.1. Cấu trúc chương trình công nghệ 10
Được cấu trúc theo kiểu đồng tâm xoáy ốc, tức là được mở rộng và
nâng cao dần từ trung học cơ sở đến trung học phổ thông.
Chương trình Công nghệ ở bậc trung học cơ sở đề cập đến nội dung:
Trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản...

Đỗ Thị Nhung

21

Khoa Sinh - KTNN


Khóa luận tốt nghiệp

Trường ĐHSP Hà Nội 2

Khi lên đến trung học phổ thông, ở chương trình Công nghệ 10 các em
lại được học về trồng trọt, lâm nghiệp, chăn nuôi, thủy sản, nhưng kiến thức
được mở rộng và nâng cao hơn. Bên cạnh đó, các em còn được học thêm về
kiến thức bảo quản chế biến lương thực thưc phẩm và tạo lập doanh nghiệp.
Đây chủ yếu là những kiến thức đại cương nhằm cung cấp cho HS những
nguyên lý cơ bản nhất để có thể vận dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Chương trình Công nghệ 10 – THPT được cấu trúc 2 phần:
Phần 1: Nông, lâm,ngư nghiệp: Gồm 3 chương


- Xác định kế hoạch kinh doanh
- Tổ chức và quản lí kinh doanh
2.3.2. Nội dung tích hợp GDMT (gồm 7 bài tích hợp)
Bài
Bài 9: Biện pháp cải tạo và sử

Nội dung tích hợp
Nguyên nhân trực tiếp gây xói mòn

dụng đất xám bạc màu, đát xói

đất là lượng mưa và địa hình của đất,

mòn mạnh trơ sỏi đá.

nhưng nguyên nhân sâu xa là hiện
tượng phá rừng, đặc biệt là rừng đầu
nguồn từ đó nhấn mạnh biện pháp
trồng rừng và bảo vệ rừng đầu nguồn.
Từ đó HS thấy được vai trò, tầm quan
trọng của rừng đầu nguồn, có thái độ
tích cực trong việc bảo vệ rừng và tài
nguyên đất. Giáo dục ý thức bảo vệ
tài nguyên đất và rừng.

Bài 12: Đặc điểm, tính chất, kĩ

Tình trạng sử dụng phân bón hiện nay


những loại phân bón sạch, thân thiện
với môi trường nhưng vẫn giải quyết
được vấn đề nhu cầu lương thực ngày
càng tăng.

Bài 17: Phòng trừ tổng hợp dịch

Thấy được việc sử dụng thuốc hóa

hại cây trồng.

học trong sản xuất nông nghiệp không
phải là biện pháp duy nhất để tiêu diệt
sâu, bệnh hại mà còn nhiều biện pháp
không gây hại môi trường mà vẫn đạt
được kết quả. Sử dụng hợp lí thuốc
hóa học.

Bài 18: Thực hành: Pha chế

Giáo dục học sinh ý thức trong việc

dung dịch Booc đô phòng trừ

sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu

nấm hại .

bệnh, ý thức xử lí các chai lọ đưng
thuốc,…


sinh học sản xuất chế phẩm bảo

mang lại hiệu quả cao. Ngoài việc bảo

vệ thực vật.

vệ các thiên địch, người ta còn tạo ra
các sản phẩm từ vi sinh vật để diệt trừ
sâu hại, không ảnh hưởng đến thực
vật.

2.4. Thực trạng vận dụng tích hợp GDMT trong dạy học Công Nghệ 10
2.4.1. Thực trạng dạy và học Công Nghệ 10
 Đối với giáo viên
- Ngày 31/ 01/ 2005 Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Chỉ thị về
việc tăng cường công tác GDBVMT, nhiệm vụ của giáo dục phổ thông là phải
trang bị cho HS kiến thức, kĩ năng về môi trường và BVMT bằng nhiều hình
thức phù hợp trong các môn học và thông qua các hoạt động ngoại khóa...
- Tuy nhiên một số giáo viên thuộc nhiều môn học thực hiện nội dung
tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào trong các tiết học còn ít.
- Một số giáo viên chưa hướng dẫn các em liên hệ những kiến thức đã
học với thực tiễn, chưa rút ra được những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn
sau khi được học lý thuyết.
- Một số giáo viên đã có liên hệ thực tiễn, tuy nhiên còn ít và hiệu quả
giáo dục chưa cao.
- Việc cập nhật thông tin, số liệu, sự kiện của địa phương ở một số giáo
viên chưa liên tục vì vậy quá trình vận dụng để tích hợp giáo dục môi trường
còn nhiều hạn chế.
 Thông qua việc dự giờ và trao đổi với GV dạy bộ môn Công nghệ 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status