Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
1
Khoa Ngân hàng – Bảo
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số
liệu, kết quả nêu trong bài chuyên đề là trung thực xuất phát từ tình hình thực
tế tại đơn vị thực tập.
Tác giả chuyên đề tốt nghiệp
Trần Tuấn Phong
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
2
Khoa Ngân hàng – Bảo
MỤC LỤC
Trang bìa.............................................................................................................i
.....................................................................................................................................82
NHTM
: Ngân hàng thương mại
NHBL
: Ngân hàng bán lẻ
NHTƯ
: Ngân hàng Trung ương
POS
: Máy quẹt thẻ thanh toán tự động
TCKT
: Tổ chức kinh tế
TD
: Tín dụng
TDBL
: Tín dụng bán lẻ
Trần Tuấn Phong
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
4
Khoa Ngân hàng – Bảo
DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang
Hình 2.1 Số lượng khách hàng vay vốn trong BIDV Đông Đô..................... 34
Hình 2.2 Dư nợ bán lẻ tại BIDV Đông Đô 2011 – 2013 ................................38
Hình 2.3 Kết quả dư nợ cho vay DNVVN tại BIDV Đông Đô.......................40
Hình 2.4 Cơ cấu TD theo mục đích của khách hàng cá nhân, hộ gia đình......41
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
5
Khoa Ngân hàng – Bảo
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
6
Khoa Ngân hàng – Bảo
Bên cạnh những thuận lợi dịch vụ tín dụng bán lẻ mang lại vẫn còn tồn
tại nhiều khó khăn,bất cập khi triển khai và phát triển. Xuất phát từ thực tế đó,
em đã chọn đề tài “Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng Thương mại
Cổ Phần Đầu tư và Phát triển Chi nhánh Đông Đô, thực trạng và giải
pháp” làm đề tài chuyên đề thực tập cuối khóa.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Dịch vụ NHBL của Ngân hàng thương mại,
trong đó tập trung nghiên cứu các phương tiện, cách thức và vận dụng các
quan điểm của lý thuyết Marketing để Ngân hàng đưa dịch vụ của mình tới
đối tượng là khách hàng cá nhân.
Mục đích nghiên cứu:
-
Hệ thống hóa lý thuyết về phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của Ngân hàng
-
thương mại
Hệ thống hóa các quan điểm, cách thức nhìn nhận, chiến lược phát triển dịch
vụ bán lẻ của Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, từ đó phân tích thực trạng phát
triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và phát triển
Đông Đô, những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những
Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề tốt nghiệp gồm 3 chương,
cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về phát triển dịch vụ ngân hàng bán
lẻ của Ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi
nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Đông Đô
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Chi nhánh
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Đông Đô
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
8
Khoa Ngân hàng – Bảo
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN
LẺ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Dịch vụ Ngân hàng bán lẻ
1.1.1. Khái niệm dịch vụ ngân hàng bán lẻ
-
Đối tượng khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Quy mô giao dịch: Số lượng khách hàng vô cùng lớn nhưng giá trị từng khoản
giao dịch không cao. Khách hàng cá nhân giao dịch với mục đích thanh toán và
phục vụ tiêu dùng là chủ yếu do vậy các giao dịch thường có giá trị nhỏ.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
-
9
Khoa Ngân hàng – Bảo
Tính thường xuyên liên tục: Ngân hàng có các kênh phân phối đa dạng, rộng
khắp bao gồm các cả kênh phân phối truyền thống như là hệ thống các điểm
giao dịch và các kênh phân phối hiện đại như internet, ATM, POS đảm bảo
cho khách hàng có thể tiếp cận với dịch vụ của Ngân hàng ở mọi lúc, mọi nơi
trên trái đất.
-
Tính đơn giản, dễ hiểu, dễ thao tác: Thể hiện ở hệ thống mẫu biểu đăng kí
dịch vụ, thao tác để sử dụng dịch vụ đơn giản, dễ gần, dễ sử dụng.
-
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
10
Khoa Ngân hàng – Bảo
thường xuyên liên tục không bị ngắt quãng và tạo được sự thuận tiện cho
khách hàng.
-
Hàm lượng công nghệ cao: Dịch vụ ngân hàng bán lẻ tuy đơn giản nhưng lại
chứa đựng hàm lượng công nghệ cao vì khách hàng của ngân hàng là đông
đảo và cùng lúc có thể có hàng ngàn giao dịch đồng thời được thực hiện, do
vậy ngân hàng phải đầu tư một hệ thống công nghệ cao (ngân hàng lõi) để
cùng lúc có thể cung cấp dịch vụ tới hàng ngàn khách hàng khác nhau ở mọi
lúc, mọi nơi.
1.1.3. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ chủ yếu:
Tùy theo đặc điểm phát triển cũng như đặc điểm khu vực hoạt động của
mình mà mỗi ngân hàng có thể cung cấp tới đối tượng khách hàng là cá nhân
và doanh nghiệp nhỏ và vừa một danh mục sản phẩm như sau:
1.1.3.1
Dịch vụ huy động vốn
- Tiền gửi thanh toán:
Đây là tiền mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sử dụng dịch
vụ thanh toán. Đối tượng gửi có thể là cá nhân hoặc tổ chức kinh tế. Đây là loại
tiền gửi không kỳ hạn – khách hàng gửi có thể rút bất kỳ lúc nào khi có nhu
cầu. Trên tài khoản này khách hàng có thể phát hành các phương tiện thanh
gửi tiết kiệm bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có
kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau.
3. Phát hành giấy tờ có giá: NHTM có thể phát hành các loại GTCG như chứng
chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu... để huy động vốn. Đối tượng mua kỳ phiếu,
trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các tổ chức, cá nhân trong nền
kinh tế, ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm thời chưa sử
dụng đến để mua, trên thực tế đây còn là một kênh đầu tư của người có vốn
trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp. Các kỳ
phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền bằng cách mua
bán chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngân hàng.
Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có
khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và chủ động
trong sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp
nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh của khách
hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn, sử dụng vốn trên toàn hệ thống
mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của NHTƯ.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
-
12
Khoa Ngân hàng – Bảo
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
-
13
Khoa Ngân hàng – Bảo
Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền cá nhân
Ngân hàng là tổ chức trung gian cung cấp kênh thanh toán giúp các
khách hàng có thể thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc chuyển tiền giữa
các khách hàng cá nhân với nhau. Dịch vụ thanh toán, chuyển tiền bao gồm
có thanh toán, chuyển tiền trong nước và chuyển tiền nước ngoài.
-
Dịch vụ ngân hàng điện tử
Dịch vụ ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép
khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ của ngân hàng thông qua việc nối mạng
máy tính cá nhân với mạng máy tính của ngân hàng. Với dịch vụ này khách
hàng có thể truy cập từ xa nhằm khai thác thông tin từ phía ngân hàng, thực
hiện các giao dịch thanh toán dựa trên một tài khoản đã đăng ký tại ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng điện tử đòi hỏi một nền tảng công nghệ thông tin rất
cao. Do vậy để phát triển dịch vụ này đòi hỏi các ngân hàng phải đầu tư về
mặt công nghệ, chi phí ban đầu có thể lớn nhưng hiệu quả đem lại rất cao.
đài điện thoại của dịch vụ. Thông qua các phím chức năng được khái niệm
trước, khách hàng sẽ được phục vụ một cách tự động hoặc qua nhân viên của
tổng đài. Các dịch vụ được ngân hàng cung cấp qua Phone – banking như
hướng dẫn sử dụng dịch vụ, giới thiệu thông tin về dịch vụ ngân hàng, cung
cấp thông tin tài khoản và in sao kê tài khoản, cung cấp các thông tin ngân
hàng về tỉ giá, lãi suất, các chương trình khuyến mại, thực hiện các giao dịch
chuyển tiền, thanh toán hóa đơn và dịch vụ hỗ trợ khách hàng….
o Dịch vụ ngân hàng qua mạng điện thoại di động (Mobile – banking). Cùng
với sự phát triển mạnh mẽ và trở thành phổ biến của mạng điện thoại di động
hiện nay, các NHTM Việt Nam cũng đã nhanh chóng ứng dụng công nghệ
mới này vào các dịch vụ ngân hàng. Về nguyên tắc, thông tin bảo mật được
mã hóa và trao đổi giữa trung tâm xử lý của ngân hàng và thiết bị di động của
khách hàng (điện thoại di động..). Dịch vụ ngân hàng qua mạng điện thoại di
động hiện nay có hai loại chính:
o Dịch vụ không cần phần mềm và thiết bị kèm theo cài đặt trên điện thoại, chỉ
cần nhắn tin vào hệ thống tổng đài của mạng điện thoại di động. ví dụ: dịch
vụ nhận, gửi tin nhắn ngân hàng qua điện thoại di động (BSMS); dịch vụ nạp
tiền điện thoại di động bằng tin nhắn. Khách hàng sử dụng dịch vụ này chỉ
phải chịu phí tin nhắn.
o Dịch vụ cần phải có phần mềm tích hợp cài đặt trên điện thoại của khách hàng
và kèm theo thiết bị điện tử là ikey để kích hoạt giao dịch. Dịch vụ này đòi hỏi
một sự đầu tư về công nghệ hơn, phức tạp hơn nhưng bù lại rất thuận tiện và linh
hoạt cho khách hàng. Khách hàng chỉ cần đăng ký là có thể giao dịch trên tài
khoản của mình (chuyển tiền…) trên điện thoại di động mà không cần phải đến
ngân hàng và chỉ phải chịu một loại phí chuyển tiền nhất định.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Dịch vụ này đặc biệt cho những khách hàng tư nhân đã có đầu tư vào
thị trường chứng khoán, hoặc ai muốn đầu tư theo cách này. Ngân hàng chỉ
chấp nhận quản lý đầu tư từ một mức tối thiểu. Khi nhận ủy thác đầu tư tài
sản của khách hàng như quản lý trái phiếu, cổ phiếu, tiền gửi của khách hàng
tại ngân hàng… ngân hàng có thể thực hiện quản lý dưới hình thức quản lý
theo yêu cầu của khách hàng hoặc thay mặt khách hàng đưa ra các quyết định
cụ thể.
-
Dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin cho khách hàng:
Ngân hàng có một kho dữ liệu về khách hàng do có quan hệ rộng với các
thành phần kinh tế, các khách hàng khác nhau. Đồng thời, ngân hàng là người
am hiểu sâu sắc nghiệp vụ ngân hàng, tài chính, tiền tệ, các thông số kinh tế vì
vậy có lợi thế trong tư vấn cho khách hàng. Tận dụng lợi thế này, từ nhiều năm
nay, các ngân hàng đã thực hiện việc tư vấn không chỉ cho khách hàng doanh
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
16
Khoa Ngân hàng – Bảo
nghiệp mà còn cho khách hàng cá nhân. Ngoài tư vấn về tài chính, các ngân
hàng còn tư vấn cho khách hàng về chứng khoán, các dịch vụ, dịch vụ của ngân
Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì phát triển là sự tăng trưởng về
quy mô, gia tăng lợi nhuận mà vẫn đảm bảo an toàn, kiểm soát được rủi ro.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
17
Khoa Ngân hàng – Bảo
Đối với phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ, có khá nhiều các quan
điểm và cách thức tiếp cận khác nhau về dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Xét trên
giác độ của người làm marketing thì người viết cho rằng bán lẻ chính là vấn
đề của phân phối. Để phát triển được dịch vụ ngân hàng bán lẻ của mình thì
điều quan trọng nhất là ngân hàng cần phải triển khai được các hoạt động tìm
hiểu, xúc tiến, nghiên cứu, thử nghiệm, phát hiện và phát triển các kênh phân
phối nhất là các kênh phân phối hiện đại. Ngân hàng cần phải xác định và
định vị được thị trường, thông qua các kênh phân phối cung ứng sản phẩm
dịch vụ của mình tới lượng lớn khách hàng mục tiêu của mình trên một vùng
lãnh thổ hoặc xuyên quốc gia để từ đó gia tăng quy mô hoạt động, gia tăng lợi
nhuận và vẫn đảm bảo an toàn hoạt động cho ngân hàng.
1.2.2. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.2.2.1 Các chỉ tiêu định lượng
- Sự gia tăng và tăng trưởng danh mục sản phẩm dịch vụ NHBL
Thể hiện bằng sự gia tăng về số lượng và sự tăng trưởng về số lượng
dụng dịch vụ được dễ dàng. Hệ thống phân phối phát triển càng mạnh thì
ngân hàng càng thu hút được nhiều khách hàng. Hiện nay để đáp ứng nhu cầu
của khách hàng các ngân hàng ngày càng chú trọng vào việc đầu tư mở rộng
về số lượng và chất lượng của các kênh phân phối. Ngoài kênh phân phối
truyền thống là chi nhánh và các phòng giao dịch thì kênh phân phối điện tử
dựa trên internet, các điểm thanh toán tại quầy (POS)…ngày càng được các
ngân hàng tận dụng triệt để để gia tăng chất lượng dịch vụ, thu hút khách
hàng, để phục vụ cùng lúc được một lượng khách hàng cá nhân lớn.
- Số lượng khách hàng, thị phần và tăng trưởng hàng năm
Đây là chỉ tiêu chung để đánh giá bất kỳ hoạt động kinh doanh nào.
Một ngân hàng càng hoạt động tốt bao nhiêu càng thu hút được nhiều khách
hàng bấy nhiêu, đặc biệt trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ, đối tượng khách
hàng cá nhân là số đông quảng đại quần chúng, mỗi giao dịch có giá trị nhỏ,
để góp nhiều giá trị giao dịch nhỏ thành giá trị lớn thì việc thu hút thật nhiều
khách hàng là rất quan trọng. Một khi đã gia tăng, ổn định được nền khách
hàng thì ngân hàng mới có thể chiếm lĩnh, gia tăng được thị phần của mình
trong thị trường bán lẻ.
-
Gia tăng thu nhập cho ngân hàng cả về quy mô và tốc độ tăng trưởng.
Lợi nhuận là mục tiêu sống còn của bất kỳ dịch vụ kinh doanh nào nên
một ngân hàng có dịch vụ NHBL phát triển thì không chỉ đa dạng hóa dịch
vụ, mở rộng mạng lưới mà còn phải tối đa hóa các khoản thu từ dịch vụ này.
Dịch vụ NHBL không thể coi là phát triển nếu nó không mang lại lợi nhuận
thực tế cho ngân hàng.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
-
Số lượng ngân hàng giao dịch
Với đặc tính dễ sao chép của sản phẩm dịch vụ NHBL và quy mô ngày
càng mở rộng về số lượng các ngân hàng thì việc một khách hàng cùng lúc
giao dịch với nhiều ngân hàng là điều không thể tránh khỏi. Với chỉ tiêu trên
ta có thể đánh giá được chất lượng dịch vụ của ngân hàng mình đã thực sự tốt
so với các ngân hàng khác chưa và khách hàng liệu có sẵn sàng lựa chọn ngân
hàng mình làm ngân hàng giao dịch chính thức hay không?
-
Tính duy trì sử dụng sản phẩm dịch vụ NHBL của ngân hàng
Liệu khách hàng có tiếp tục sử dụng sản phẩm NHBL của ngân hàng
mình lâu dài hay không? Đây cũng là một yếu tố rất quan trọng. Ngân hàng
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
20
Khoa Ngân hàng – Bảo
phải nắm bắt được mong muốn trên của khách hàng. Nếu khách hàng muốn
tiếp tục duy trì sử dụng sản phẩm của ngân hàng thì ngân hàng càng phải hoàn
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
1.2.3.1.
21
Khoa Ngân hàng – Bảo
Các nhân tố khách quan
- Môi trường kinh tế:
o Tốc độ phát triển, trình độ phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập
của người dân. Nền kinh tế càng phát triển, người dân càng có tiềm lực tài chính,
nhu cầu về dịch vụ tài chính ngày càng cao nhất là dịch vụ thanh toán, gửi tiền,
vay tiêu dùng.
o Các yếu tố như lạm phát, thất nghiệp, lợi tức đầu tư vào các lĩnh vực khác ngoài
ngân hàng như bất động sản, sự biến động của tỷ giá hối đoái, thị trường vàng…
tất cả đều ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng của
-
khách hàng.
Môi trường chính trị - pháp luật: Môi trường chính trị luật pháp tạo cơ sở pháp
lý ràng buộc và tác động đến việc hình thành, tồn tại và phát triển của mỗi ngân
hàng cũng như tác động đến các dịch vụ mà ngân hàng có thể được cung ứng
trên thị trường. Nếu các quy định của luật pháp không đầy đủ, không rõ ràng và
thiếu tính đồng bộ, nhất quán thì sẽ gây khó khăn cho các hoạt động ngân hàng.
Khoa Ngân hàng – Bảo
riêng. Phương thức trao đổi giữa khách hàng và ngân hàng trên thị trường rất
nhạy cảm với các tiến bộ về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin. Có
thể nói công nghệ thông tin là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đối với NHBL.
Một số dịch vụ mới được sử dụng trong NHBL như: home banking, séc điện
tử, ATM, POS, phone banking, internet banking…những dịch vụ này giúp
các ngân hàng thu hút thêm nhiều khách hàng cho ngân hàng vì khách hàng
không phải đến Ngân hàng mà sử dụng được các dịch vụ của ngân hàng, ngân
hàng sẽ cắt giảm tối đa các chi phí về giao dịch.
1.2.3.2.
-
Các nhân tố chủ quan
Định hướng và chiến lược phát triển của ngân hàng: Kinh doanh dịch vụ ngân
hàng bán lẻ cũng như kinh doanh trong bất kì lĩnh vực nào chỉ có thể thành
công nếu có định hướng và chiến lược phát triển đúng đắn. Chiến lược phát
triển dịch vụ càng chi tiết thì càng dễ dàng hơn cho thực thi chính sách. Chiến
lược phát triển dịch vụ NHBL bao gồm chiến lược khách hàng, chiến lược
xâm nhập thị trường, phát triển mạng lưới và đào tạo nhân sự, chiến lược dịch
-
vụ.
Năng lực tài chính: Đây là yếu tố quan trọng có tính chất quyết định thứ hai.
Để phát triển dịch vụ ngân hàng, ngân hàng phải có tiềm lực tài chính vững
mạnh để hiện đại hóa công nghệ, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho đa
-
Yếu tố con người: Có vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt lĩnh vực dịch vụ
ngân hàng liên quan đến con người một cách trực tiếp. Yêu cầu cán bộ phải
đáp ứng được các yêu cầu cao về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và
đặc biệt là kỹ năng giao tiếp.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04
Chuyên đề tốt nghiệp
hiểm
24
Khoa Ngân hàng – Bảo
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN
HÀNG ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN CHI NHÁNH ĐÔNG ĐÔ
2.1. Khái quát chung về Ngân hàng ĐT&PT Chi nhánh Đông Đô
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Tên đầy đủ: Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Joint stock commercial bank Investment and
Development of Vietnam
Tên gọi tắt: BIDV
Địa chỉ Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Được thành lập ngày 26/4/1957 với tên gọi là Ngân hàng Kiến thiết Việt
Nam
đa dạng hóa khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế, phát triển và nâng cao
chất lượng dịch vụ Ngân hàng, nâng cao hiệu quả an toàn hệ thống theo đòi
hỏi của cơ chế thị trường và lộ trình hội nhập, làm nòng cốt cho việc xây
dựng tập đoàn tài chính đa năng vững mạnh hội nhập quốc tế.
Trụ sở chính của Chi nhánh tại 14 Láng Hạ Ba Đình Hà Nội, cắt
đường Láng và Đê La Thành, tiếp giáp với đường Giảng Võ rất thuận tiện để
cung cấp các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng tới người dân và các doanh nghiệp.
Về cơ sở vật chất kỹ thuật trang thiết bị; ngay từ khi còn là
Phòng Giao dịch 2 đã được TW chọn là một trong những điểm giao dịch triển
khai chương trình hiện đại hóa đầu tiên, đây là chương trình có nhiều tiện ích
online trên cả nước rất thuận tiện cho công tác thanh toán trên toàn quốc,
chuyển tiền trong nước và quốc tế.
Trần Tuấn Phong
CQ48/15.04