Giải pháp tăng cường quản trị rủi ro trong kinh doanh chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn agriseco - Pdf 34

Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

MỤC LỤC

SV: Nguyễn Tuấn Vũ

1

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CK: Chứng khoán
CTCK: Công ty chứng khoán
HĐKD: Hoạt động kinh doanh
QTRR: Quản trị rủi ro
TCBL: Tổ chức bảo lãnh
TCPH: Tổ chức phát hành
HĐQT: Hội đồng quản trị
UBCK: Ủy ban chứng khoán
TTCK: Thị trường chứng khoán
VSD: Trung tâm lưu ký chứng khoán Việt Nam.
VKD: Vốn kinh doanh

SV: Nguyễn Tuấn Vũ

hầu hết đều có lãi lớn và ngày càng mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh
của mình. Tuy nhiên trong một vài năm trở lại đây khi thị trường chứng khoán
suy thoái đã bộc lộ nhiều yếu điểm trong hoạt động kinh doanh của các công
ty chứng khoán. Bằng chứng là hàng loạt các công ty chứng khoán làm ăn
thua lỗ phải vào diện kiểm soát đặc biệt, bị giải thể hoặc là phải sáp nhập với
một công ty chứng khoán khác mạnh hơn. Điều này càng gây thêm tâm lý
hoang mang cho nhà đầu tư. Lúc này điều cần thiết là phải tăng cường công
tác quản trị rủi ro trong công ty chứng khoán để đảm bảo cho các công ty có
thể hoạt động tốt, giảm thiểu rủi ro tới mức thấp nhất có thể. Công ty chứng
khoán là nhân tố không thể thiếu của một thị trường chứng khoán vì vậy chỉ
khi công ty hoạt động hiệu quả thì mới có thể giúp thị trường phát triển tốt.
Nhận thấy vai trò ngày càng quan trọng của công tác quản trị rủi ro trong
việc duy trì và phát triển hoạt động của các công ty chứng khoán hiện nay nên
em đã lựa chọn đề tài “ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG KINH DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN AGRISECO” làm đề tài luận văn.
Đối tượng và mục đích nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu: Quản trị rủi ro trong kinh doanh chứng khoán
gồm nhiều đối tượng nghiên cứu như hệ thống pháp luật về quản trị rủi ro,
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

4

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính


Học viện tài chính

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CHỨNG
KHOÁN.
1.1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN.
1.1.1. Khái niệm và mô hình tổ chức CTCK
1.1.1.1. Khái niệm.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng trong việc thúc đẩy sự
phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Thông qua các công ty chứng khoán hoạt động mua bán các loại chứng khoán
được diễn ra một cách thuận lợi và nhanh chóng, giúp cho dòng vốn trong nền
kinh tế được luân chuyển từ nơi dư thừa vốn đến nơi thiếu vốn.
Ở Việt Nam, theo điều 59 Luật sửa đổi bổ sung Luật Chứng Khoán của
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2010: “Công ty chứng khoán
được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ
phần theo quy định của Luật doanh nghiệp. Ủy Ban Chứng Khoán nhà nước
cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho công ty chứng khoán. Giấy phép
này đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.”
Theo quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ trưởng
Bộ Tài Chính thì công ty chứng khoán là “tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt
động kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt
động: môi giới chứng khoán, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư
chứng khoán.”

SV: Nguyễn Tuấn Vũ

6

đa dạng hóa đầu tư. Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng
chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính. Mặt
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

7

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của mình là tổ chức kinh doanh
tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về khách hàng cũng
như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ dự
án.
Tuy nhiên, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động
kinh doanh chứng khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành
mạnh, các ngân hàng dễ gây nên tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó
các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ tác động mạnh tới kinh doanh
tiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng thị trường tài chính.
Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn, nên các
ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng
khoán, và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác
động tới công chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất
khả năng chi trả. Do những hạn chế như vậy, nên sau khi khủng hoảng thị
trường tài chính 1929 - 1933, các nước đã chuyển sang mô hình chuyên
doanh, chỉ có một số thị trường ( như Đức) vẫn còn áp dụng mô hình này.
• Mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh.

Do tính đặc thù trong hoạt động, kinh doanh chứng khoán là ngành
kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt,có ảnh hưởng tới lợi ích của công chúng
đầu tư nên sự tồn tại ổn định lâu dài của công ty chứng khoán và sức mạnh tài
chính của tổ chức này trong một môi trường biến động cần được đảm bảo. Để
bảo vệ lợi ích của công chúng đầu tư và sự ổn định của thị trường chứng
khoán, hầu hết các nước đặt ra nguyên tắc, quy định chặt chẽ về tài chính đối
với các tổ chức kinh doanh chứng khoán:

• Mức vốn hoạt động:
CTCK phải có đủ vốn theo quy định của pháp luật đảm bảo nguồn tài
chính trong cam kết với khách hàng và đủ năng lực tài chính để giải quyết
những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình kinh doanh. Tùy thuộc vào
nghiệp vụ kinh doanh mà đưa ra các mức vốn pháp định khác nhau:
- Môi giới chứng khoán : 25 tỷ đồng
- Tự doanh : 100 tỷ đồng
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

9

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

- Bảo lãnh phát hành: 165 tỷ đồng
- Tư vấn đầu tư chứng khoán: 10 tỷ đồng
- Kinh doanh cả 4 loại hình nghiệp vụ trên: 300 tỷ đồng
Vốn hoạt động kinh doanh ít nhiều phụ thuộc vào loại tài sản cần tài

10

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Các nguyên tắc về quản lý vốn và hạn mức kinh doanh khác nhau tùy
theo từng nghiệp vụ mà CTCK thực hiện.
Các nguyên tắc về sử dụng vốn bao gồm: cơ cấu vốn,mức vốn khả
dụng phải duy trì, trích lập quỹ bù đắp rủi ro, quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ,
…. Đối với việc quản lý hạn mức kinh doanh, thông thường có các quy định
để hạn chế tủi ro đối với các tổ chức kinh doanh chứng khoán cũng như hạn
chế các xung đột lợi ích có thể xảy ra:
- Hạn chế mức mua sắm tài sản cố định theo một tỷ lệ phần trăm trên vốn điều
lệ
- Hạn mức đầu tư vào mỗi loại chứng khoán: thường hạn mức đầu tư vào các
loại chứng khoán niêm yết cao hơn hạn mức dầu tư vào các loại chứng khoán
chưa niêm yết.
- Hạn mức đầu tư vào các loại tài sản rủi ro cao như các loại trái phiếu có định
mức tín nhiệm thấp hay cổ phiếu của các công ty đang phát triển
- Hạn mức bảo lãnh phát hành
- Hạn mức đầu tư vào các quỹ đầu tư do tổ chức kinh doanh chứng khoán quản

Các CTCK phải thực hiện chế độ tài chính theo quy định của nhà nước
(thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước, tuân thủ các quy định về tài chính
theo pháp luật và thực hiện báo cáo tài chính đầy đủ trung thực)
1.1.2.2

dịch của khách hàng.
- Công ty chứng khoán phải tách bạch tiền và chứng khoán của khách hàng với
tài sản của mình. Công ty chứng khoán không được dùng chứng khoán của
khách hàng làm vật thế chấp để vay vốn trừ trường hợp được khách hàng
đồng ý bằng văn bản
- Công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tư vấn phải cung cấp thông tin
đầy đủ cho khách hàng và giải thích rõ ràng về các rủi ro mà khách hàng có
thể phải gánh chịu, đồng thời không được khẳng định về lợi nhuận các khoản
đầu tư mà họ tư vấn.
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

12
12

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

- Công ty chứng khoán không được phép nhận bất cứ khoản thù lao nào ngoài
các khoản thù lao thông thường cho dịch vụ tư vấn của mình.
Ngoài ra pháp luật cũng quy định về điều khoản chống thao túng thị
trường, giao dịch nội dán sử dụng các thông tin nội bộ để mua bán chứng
khoán cho chính mình, gây thiệt hại tới lợi ích của khách hàng.
1.1.3 Vai trò của công ty chứng khoán trên thị trường chứng khoán
CTCK có vai trò quan trọng trên TTCK, là tổ chức trung gian, cầu nối
giữa nhà phát hành và các nhà đầu tư trên thị trường, ngoài ra CTCK cũng là
nhà đầu tư trực tiếp trên thị trường.


định dựa trên cơ sở tiếp xúc, tìm hiểu và thỏa thuận với các nhà đầu tư tiềm
năng lớn trong đợt phát hành đó và tư vấn cho tổ chức phát hành.
Trên thị trường thứ cấp, dù là thị trường đấu lệnh hay thị trường đấu
giá, công ty chứng khoán luôn có vai trò giúp các nhà đầu tư đánh giá đúng
thực tế và chính xác về các khoản đầu tư của mình.
Công ty chứng khoán còn có chức năng quan trọng là can thiệp trên thị
trường,, góp phần điều tiết giá cả chứng khoán. Theo quy định của các nước,
công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định của mình để
mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường đang giảm và bán
ra khi giá chứng khoán đang cao.
1.1.3.3

Vai trò thực thi tính hoán tệ của chứng khoán
Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành
chứng khoán và ngược lại trong một môi trường đầu tư ổn định. Các công ty
chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư
ít phải chịu thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư. Trong hầu hết các nghiệp vụ
đầu tư ở sở giao dịch chứng khoán và thị trường phi tập trung, một nhà đầu tư
có thể hằng ngày chuyển đổi tiền mặt thành chứng khoán và ngược lại mà
không chịu thiệt hại đáng kể đối với giá trị khoản đầu tư của mình (ít nhất thì
cũng không chịu thiệt hại do cơ chế giao dịch chứng khoán gây nên). Nói
cách khác, có thể có một số nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến giá trị đầu tư,
chẳng hạn như tin đồn về một vấn đề nào đó trong nền kinh tế, nhưng giá trị
khoản đầu tư nói chung không giảm đi do cơ chế giao dịch của thị trường.

1.1.3.4

Vai trò thực hiện tư vấn đầu tư


1.1.4 Các nghiệp vụ kinh doanh của công ty chứng khoán
1.1.4.1

Nghiệp vụ môi giới chứng khoán
Môi giới chứng khoán là hoạt động trung gian mua bán chứng khoán

cho khách hàng để hưởng hoa hồng, làm dịch vụ nhận lệnh mua, lệnh bán
chứng khoán của khách hàng, chuyển các lệnh đó vào SGD chứng khoán và
nhận hoa hồng môi giới. Nghiệp vụ môi giới còn được hiểu là làm đại diện –
được ủy quyền thay mặt khách hàng mua bán một hoặc một số loại chứng
khoán.
Quy trình nghiệp vụ môi giới:
- Mở tài khoản chứng khoán cho khách hàng,
- Nhận các lệnh mua hoặc bán cho khách hàng,
- Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh
- Xác nhận kết quả thực hiện lệnh của khách hàng
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

15
15

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

- Thanh toán và quyết toán các doanh vụ,
Theo quy định của luật Chứng khoán Việt Nam, để thực hiện nghiệp vụ



Luận văn tốt nghiệp

1.1.4.3

Học viện tài chính

Nghiệp vụ tự doanh chứng khoán
Tự doanh chứng khoán là việc CTCK mua và bán chứng khoán cho

riêng mình, rủi ro từ hoạt động này do chính công ty chịu. Hoạt động tự
doanh chứng khoán là việc mua và bán chứng khoán cho chính mình nhằm
thu được chênh lệch giá và các khoản thu nhập khác từ đầu tư chứng khoán.
Để thực hiên nghiệp vụ tự doanh, CTCK tại Việt Nam cần đạt mức vốn
pháp định tối thiểu là 100 tỷ đồng.
Thực hiện nghiệp vụ tự doanh, CTCK có được nhiều lợi thế như có
nguồn dự trữ đảm bảo khả năng thanh toán, can thiệp bảo vệ giá chứng khoán.
Trên hết việc đầu tư chứng khoán đem lại cho các CTCK các khoản lợi nhuận
từ chênh lệch giá mua, bán chứng khoán và khoản lợi nhuận từ lợi tức chứng
khoán. Tuy nhiên đây cũng là nghiệp vụ nhiều rủi ro nhất của CTCK.
1.1.4.4

Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán
Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh cam kết với tổ chức phát

hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua toàn bộ
hay một phần chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại, hoặc mua nốt số
chứng khoán chưa phân phối của tổ chức phát hành, hoặc hỗ trợ tổ chức phát
hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.

phiếu thường ở các nước phát triển. Trong trường hợp đó, công ty cần phải
bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện hữu, và như vậy, công ty phải chào bán
cổ phiếu bổ sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên
ngoài.



Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo
đó tổ chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát
hành. Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam
kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không
phân phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.



Bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không: trong phương
thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng
khoán nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.



Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức
trung gian giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức
bảo lãnh bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu
cầu tổ chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn).
Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

18
18

hoặc ký gửi các chứng khoán nếu chúng được phát hành dưới hình thức
chứng chỉ vật chất.
• Nghiệp vụ tín dụng chứng khoán

SV: Nguyễn Tuấn Vũ

19
19

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

Đối với TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán
cho khách hàng để hưởng hoa hồng. CTCK còn triển khai dịch vụ cho khách
hàng vay chứng khoán để thực hiện giao dịch bán khống (short sale) hoặc cho
khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện mua ký quỹ. Ở Việt Nam hiện
nay, các CTCK không được thực hiện hoạt động tín dụng.
CTCK đứng ra làm trung gian giúp khách hàng tiếp cận và vay vốn của
ngân hàng, đồng thời CTCK giup ngân hàng phong toả các chứng khoán làm
tài sản thế chấp cho các khoản vay.
1.2. Quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của công ty chứng
khoán.
1.2.1. Những vấn đề cơ bản về rủi ro trong hoạt động kinh doanh chứng
khoán.
1.2.1.1. Khái niệm.
Rủi ro: Là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế và lợi nhuận kỳ vọng.

các nghĩa vụ tài chính đến hạn hoặc không thể chuyển đổi các công cụ tài
chính thành tiền mặt với giá trị hợp lý trong ngắn hạn do thiếu hụt thanh
khoản trong thị trường. Khi thanh khoản thị trường biến động đột ngột và bất
thường thì rủi ro cho CTCK là rất lớn với nghiệp vụ tự doanh và cho vay ký
quỹ hay trong tương lai là các hoạt động vay mượn chứng khoán và sản phẩm
quyền chọn.
*Rủi ro tín dụng: Là rủi ro mà công ty chứng khoán có khả năng không
thu được nợ hoặc khách hàng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Rủi ro này xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ kỹ quỹ (Margin) cho
khách hàng, nhiều CTCK đã phải chấp nhận một khoản lỗ lớn vì nắm giữ một
lượng lớn cổ phiếu có thị giá thấp hơn giá gốc khi khách hàng chối bỏ trách
nhiệm nộp thêm tiền vào tài khoản. Mặc dù giao dịch ký quỹ là một công cụ
tốt để cạnh tranh và hỗ trợ cho việc mở rộng thị phần của các CTCK nhưng
cần phải quản trị rủi ro này tốt để tránh được khoản lỗ lớn.
*Rủi ro hoạt động: Là rủi ro mà mọi công ty đều nhận thức được và sẵn
sàng chấp nhận để có được những cơ hội kinh doanh và gia tăng giá trị cho cổ
SV: Nguyễn Tuấn Vũ

21
21

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

đông (rủi ro xảy ra do lỗi kỹ thuật, lỗi hệ thống và quy trình nghiệp vụ…).
Tâm điểm của mọi hoạt động kinh doanh là khả năng xử lý rủi ro kinh doanh


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

*Rủi ro lãi suất: là rủi ro khi lãi suất thay đổi làm ảnh hưởng đến giá cả
chứng khoán. Lãi suất thị trường và giá chứng khoán có mối quan hệ tỷ lệ
nghịch với nhau. Lãi suất tăng ảnh hưởng gián tiếp tới sự sụt giảm giá chứng
khoán ở chỗ các nhà đầu cơ vay tiền mua chứng khoán sẽ bị ảnh hưởng, và
nhiều công ty hoạt động chủ yếu bằng vốn vay sẽ làm cho chi phí vốn tăng.
*Rủi ro sức mua: là tác động của lạm phát tới các khoản đầu tư. Lợi tức
thực tế của chứng khoán đem lại là kết quả của lợi tức danh nghĩa sau khi trừ
đi lạm phát. Như vậy khi có lạm phát thì lợi tức thực tế giảm.
*Rủi ro tín nhiệm: là rủi ro thường thấy ở bất kỳ loại hình kinh doanh
nào, rủi ro có liên quan đến những hợp đồng đã ký kết nhưng bên đối tác lại
không muốn hay không có khả năng thực hiện những cam kết ghi trong hợp
đồng, kéo theo những tổn thất tài chính nhất định. Một hình thức rủi ro tín
nhiệm khác đó là rủi ro không thanh toán, đặc biệt đối với hai khoản thanh
toán phải cùng thực hiện trong một ngày. Rủi ro xảy ra khi một bên hoặc
không muốn hoặc thực sự là không có khả năng thanh toán hợp đồng cho dù
đối tác bên kia đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình.
*Rủi ro kỹ thuật: là rủi ro gây ra bởi lỗi kỹ thuật do máy móc hoặc con
người gây ra.
Chúng bao gồm cả sự lừa đảo (trường hợp mà nhà kinh doanh cố ý làm
sai lệch thông tin), thất bại trong quản lý, thiệt hại do quy trình giám sát lỏng
lẻo. Những lỗi kỹ thuật có thể phát sinh từ hỏng hóc trong hệ thống thông tin,
giao dịch, thanh toán… hoặc lỗi của hệ thống trợ giúp. Rủi ro kỹ thuật có thể
dẫn đến rủi ro thị trường và rủi ro tín nhiệm.
Việc định giá chứng khoán phái sinh phức tạp cũng có thể tạo ra những
vấn đề kỹ thuật tiềm năng. Rủi ro mô hình là một mối nguy hiểm ngầm do sử

điều kiện hoạt động kinh doanh của công ty, tối thiểu đáp ứng được các quy
định trong các văn bản pháp luật.
Hệ thống quản trị rủi ro của CTCK phải bao gồm một cơ cấu tổ chức
hoàn chỉnh, một cơ chế vận hành thống nhất, và một bộ quy trình quản trị rủi
ro ít nhất xử lý năm loại rủi ro trọng yếu sau: rủi ro thị trường, rủi ro thanh
toán, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động và rủi ro pháp lý. CTCK phải quản

SV: Nguyễn Tuấn Vũ

24
24

Lớp: CQ48/17.02


Luận văn tốt nghiệp

Học viện tài chính

lý trạng thái tập trung rủi ro gắn với các rủi ro trọng yếu. Hệ thống quản trị rủi
ro của CTCK phải đảm bảo các yếu tố:
- Sự giám sát của Ban kiểm soát, Kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội
bộ.
- Chiến lược quản trị rủi ro rõ ràng, minh bạch được Hội đồng quản trị hoặc
Hội đồng thành viên hoặc chủ sở hữu công ty thông qua.
- Kế hoạch triển khai thông qua các chính sách, quy trình đầy đủ.
- Công tác quản lý, kiểm tra, rà soát thường xuyên của Tổng giám đốc (Giám
đốc).
- Ban hành và kiểm tra đầy đủ các chính sách, quy trình quản trị rủi ro và các
hạn mức rủi ro, thiết lập hoạt động thông tin quản trị rủi ro phù hợp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status