TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT” (NGỮ VĂN 10 TẬP 2) - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC
BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”
(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC
BÀI “PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT”
(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thời Tân

Diễn giải

BPTT

Biện pháp tu từ

DH

Dạy học

ĐT

Đào tạo

GD

Giáo dục

GS

Giáo sư

GV

Giáo viên

HS

Học sinh


Trung học phổ thong

TN

Thực nghiệm

TS

Tiến sĩ

VD

Ví dụ

3


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn.......................................................................................................i
Danh mục viết tắt............................................................................................
ii
Mục lục............................................................................................................
iii
Danh mục các bảng.........................................................................................
v
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ...........................................................................
vi
MỞ ĐẦU........................................................................................................
1

2.1. Một số yêu cầu cơ bản khi dạy học phần Tiếng Việt theo hướng
tích hợp............................................................................................................
33
2.1.1. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải đảm bảo những
yêu cầu chung của dạy học Tiếng Việt............................................................
33

4


2.1.2. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải biết lựa chọn nội
dung tích hợp hợp lý, tự nhiên, tránh gượng ép.....................................
2.1.3. Dạy học Tiếng Việt theo hướng tích hợp phải đảm bảo giảm tải kiến

34

thức, rút ngắn được thời gian học tập cho

36

HS....................................................
2.1.4. Tích hợp trong phân môn Tiếng Việt phải đảm bảo đúng quy
trình tích hợp chung.........................................................................................
37
2.2. Một số biện pháp tích hợp trong dạy học Tiếng Việt...............................
37
2.2.1. Tích hợp trong nội dung dạy học..........................................................
38
2.2.2. Tích hợp trong kiểm tra đánh giá..........................................................
42

1. Kết luận ......................................................................................................
80
2. Khuyến nghị................................................................................................
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................
83
PHỤ LỤC.......................................................................................................
86

5


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ cần thiết phải chú
trọng dạy học phân môn Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn
THPT hiện nay........................................................................................
Bảng 1.2. Các cách thức tích hợp GV thường vận dụng vào dạy học

27

phân môn Tiếng Việt THPT....................................................................
Bảng 1.3. Quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ thường xuyên vận

29

dụng tích hợp vào dạy chương trình Tiếng Việt tại một số trường
THPT.......................................................................................................
Bảng 3.1. Thống kê kết quả bài kiểm tra của HS các lớp đối chứng và



MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt
Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển
xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi
nhất, được coi là “sáng tạo kỳ diệu của loài người”. Ngôn ngữ còn là công cụ
tổ chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai
trò là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và
phát triển truyền thống văn hóa của dân tộc. Với người Việt Nam, tiếng Việt
là ngôn ngữ bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc.
Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức
năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp – hình tượng nghệ thuật. Đề
cao chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được
chú trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng
Việt trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn
chương. Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là
mục tiêu vô cùng quan trọng. Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn
có vị trí đặc biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát
triển khả năng giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị “chân – thiện –
mĩ” trong văn học, trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết
yếu để học tốt các môn khoa học khác. Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là
môn học (phân môn) được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT.
1.2. Tích hợp là một phương pháp dạy học được quan tâm nhiều trong dạy
học môn Ngữ văn hiện nay
Thế kỉ XXI là thế kỉ của khoa học kĩ thuật, của sự bùng nổ tri thức, thế
kỉ của những con người năng động, sáng tạo và tự chủ. Để hội nhập với xu thế
phát triển chung của thế giới, xã hội Việt Nam cần có một sự thay đổi căn
bản, toàn diện về rất nhiều lĩnh vực trong đời sống, trong đó chủ yếu là những


đối tượng của Tiếng Việt là hệ thống ngôn ngữ, quy luật hành chức... Nên học
Đọc văn, HS thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ vì thực chất công việc phân tích

9


các hình tượng văn học là công việc đi từ nghệ thuật ngôn từ mà khám phá ra
vẻ đẹp, ý nghĩa các hình tượng văn học. Từ đó, yêu văn chương, các em càng
yêu Tiếng Việt. Và thông qua đó, giúp người học rèn luyện, trau dồi được các
kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.
Như vậy, chương trình và SGK Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi
cũng như đặt ra đòi hỏi GV phải dạy ba phần của môn Ngữ văn như một thể
thống nhất. Trong đó mỗi phần vừa giữ bản sắc riêng, vừa hoà nhập với nhau
cùng hình thành các tri thức, kĩ năng Ngữ văn ở HS. Để làm được điều đó một
cách có hiệu quả thì việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học là một yêu
cầu tất yếu.
1.3. Việc dạy học theo hướng tích hợp trong nhà trường phổ thông hiện
nay còn nhiều bất cập
Đã nhiều năm, qua thực tế dạy học vẫn tồn tại một khuyết điểm khó
khắc phục, đó là tình trạng GV dạy bài nào soạn bài đó và chỉ biết bài đó. Kế
hoạch soạn bài theo toàn chương, theo học kì đã được đặt ra từ nhiều thập kỉ
trước nhưng cho đến nay nhược điểm đó ở nhiều GV hầu như vẫn chưa được
khắc phục. Vì vậy, hầu hết mỗi bài học đều bị tách rời khỏi hệ thống, dạy
một bài Tiếng Việt nhưng không chú ý đến sự liên thông với các kiến thức
Tiếng Việt cùng hệ thống và những bộ phận liên quan như Đọc văn, Làm
văn. Hậu quả của lối giảng dạy này là không những không giúp HS nắm
vững kiến thức cụ thể đang học và kiến thức hệ thống không được sâu chuỗi,
liên kết với nhau mà còn làm hạn chế khả năng tư duy tổng hợp kiến thức
của HS, khiến HS có tâm lý chán học. Lối dạy học manh mún đó còn
phương hại đến việc rèn luyện tư duy khái quát, tư duy hệ thống - vốn là

văn 10 - tập 2)” làm luận văn thạc sỹ. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng mong
muốn có những đóng góp phần nào trong việc định hướng triển khai thực hiện
giảng dạy một bài Tiếng Việt nói chung theo hướng tích hợp trong chương
trình THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong mỗi chúng ta, ai cũng hiểu được rằng cuộc sống là muôn hình
muôn vẻ, nó được coi là bộ đại bách khoa toàn thư về kinh nghiệm và phương
pháp. Vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình

11


huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận
và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp các kiến thức, kinh nghiệm, kĩ
năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy có thể nói rằng, tư tưởng
tích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống.
Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, các lĩnh vực khoa học
ngày càng phân hoá thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ. Do vậy, sang thế kỷ
XX đã xuất nhiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành. Các khoa học đã
chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống”.
Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp đều cần thiết cho sự phát triển
nhận thức, đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận
với toàn thể. Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường vì thế cũng phải
phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể cứ tiếp tục giảng dạy
các khoa học như những lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Bởi thế, tích hợp đã trở
thành một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên
cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới.
Vì điều kiện khó khăn trong việc thu thập và bao quát các tư liệu nước
ngoài, chúng tôi chưa thực sự tìm hiểu đầy đủ các công trình nghiên cứu về
tích hợp của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, với những tài liệu đã thu thập

giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna
(Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học”. Hội nghị này đặt
ra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tích
hợp các khoa học là gì?”. Đến năm 1972, Hội nghị phối hợp trong chương
trình giáo dục của UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tích
hợp các khoa học. Ngay sau đó, UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo GV
vào tháng 4 năm 1973 tại Đại học tổng hợp Maryland bàn thêm về khái niệm
dạy học tích hợp các khoa học còn bao gồm cả dạy học tích hợp các khoa học
với công nghệ học. Nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa
học sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở
thành một bộ phận quan trọng của đời sống xã hội hiện đại.
Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học với
hành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào
tạo của Liên minh Châu Âu) cho rằng: giáo dục nhà trường phải chuyển từ
đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem

13


năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp
(pédagogie de l'intégration). Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH)
là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp
phần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện
cần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm
hoà nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy SPTH tìm cách làm cho quá
trình học tập có ý nghĩa.
Trong cuốn “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các
năng lực ở nhà trường” của Xavier Roegiers do Đào Trọng Quang và Nguyễn
Ngọc Nhị dịch (1996) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp.
Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sư

được thể hiện trong chương trình, SGK và các hoạt động DH ở Tiểu học. Tuy
nhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV.
Sang chương trình ở cấp Trung học, tích hợp được thể hiện chủ yếu ở
mức thấp, chưa được áp dụng sâu. Một trong những nguyên nhân chính là do
việc dạy học tích hợp liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trình
chuẩn bị lâu dài mà chúng ta chưa thực hiện được đầy đủ như: chương trình,
sách giáo khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra,
thi... Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung giáo dục được tích hợp vào một
số môn học ở bậc Trung học (như: dân số, môi trường, phòng chống
HIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông...)
bằng phương thức lồng ghép. Việc dạy học các nội dung này bước đầu đã làm
cho GV có một số kinh nghiệm thực tiễn về tích hợp, tạo điều kiện thuận lợi
cho việc thực hiện dạy học tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa mới
sau 2015.
Thực tiễn trong những thập niên 90 trở lại đây, việc dạy học của chúng
ta vẫn mang tính “hàn lâm, lý thuyết” nhiều. Đặc điểm cơ bản đó là chú trọng
việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học đã được quy định trong chương
trình mà chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng
ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học

15


trong chương trình được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết; việc
quản lý chất lượng giáo dục chỉ tập trung “điều khiển đầu vào” là nội dung
dạy học. Đến nay, việc chuyển đổi SGK ở trường phổ thông theo hướng tích
hợp là một yêu cầu tất yếu đổi mới việc dạy và học Ngữ văn. Chương trình
THPT môn Ngữ văn, năm học 2002 do Bộ giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi
rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung
chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [tr.

những phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS; năng lực tích
hợp, kiểu văn bản tích hợp, phương pháp tích hợp; mối quan hệ giữa tích hợp
và tích cực; tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp; tích hợp gắn liền với đời
sống xã hội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình THCS
theo định hướng tích hợp...
Người rất tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đề tích hợp là GS.TS.
Nguyễn Thanh Hùng. Trong bài "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn" đăng trên
tạp chí "Nghiên cứu giáo dục" (số 6, tháng 3 năm 2006), tác giả đã chỉ ra bản
chất của tích hợp là "Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhất
các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng
Việt, Làm văn trong một môn Ngữ văn". Trên cơ sở phân tích tư tưởng tích
hợp, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp: "Tích hợp trong nhà trường sẽ giúp
HS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phương
pháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie), hợp lý (Algebra)
trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại".
Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS. Đỗ Ngọc Thống, người tham gia
biên soạn chương trình SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp đáng
ghi nhận. Trong cuốn "Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS" Nxb
GD (2002); tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạy
học Văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ "Việc lấy tên chung của
cuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành một
cuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng được xây dựng theo tinh
thần tích hợp (Integration)". Trong bài viết "Dạy học môn Ngữ văn theo
nguyên tắc tích hợp", tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là "Trong cuốn

17


sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một văn
bản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng của

19


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn góp một tiếng nói
trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học Tiếng
Việt nói riêng và hướng tới giải quyết các yêu cầu sau:
+ Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết dạy học tích hợp và tìm hiểu, đánh
giá thực trạng, xây dựng cơ sở lý luận dạy học theo quan điểm tích hợp kiến
thức Ngữ - Văn, luận văn đề xuất cách tích hợp kiến thức Ngữ với Văn vào
dạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn lớp
10, giúp GV có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học có
hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồng
thời, giúp các em HS thấy được sự liên kết chặt chẽ giữa phần Đọc văn với
phần Tiếng Việt và Làm văn, thấy được những cảm quan, những cái nhìn sâu
lắng nhất về ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng trong các văn bản Đọc văn và
từ đó có thể giúp các em rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản theo phong cách
riêng của mình, giúp HS có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp
phần hình thành những năng lực nghe, nói, đọc, viết và phát triển nhân cách
cho HS.
+ Trên cơ sở thực nghiệm một bài dạy học Tiếng Việt cụ thể, các GV
có thể khái quát phương pháp dạy học cả phân môn Tiếng Việt trong chương
trình Ngữ Văn THPT theo hướng tích hợp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Trong phần cơ sở lý luận của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học tích hợp trên thế giới và ở Việt Nam,
dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và dạy học tích hợp phần
Tiếng Việt lớp 10 nói riêng.
Thứ hai: Dựa vào lý thuyết tích hợp, vạch ra được các yêu cầu và đề

khoa học của đề tài, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, tiêu chí và cách thức vận
dụng tích hợp vào dạy học Tiếng Việt.
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Để có được bức tranh tổng thể về thực trạng của việc sử dụng biện
pháp tích hợp vào dạy học phần Tiếng Việt lớp 10 nói chung, dạy bài Phong

21


cách ngôn ngữ nghệ thuật nói riêng, luận văn tiến hành điều tra, khảo sát thực
trạng dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy bài Phong cách ngôn ngữ nghệ
thuật nói riêng ở một số trường trung học phổ thông nhằm đánh giá chất
lượng tiếp thu bài của HS, giờ dạy và giáo án của GV. Bên cạnh đó, tác giả
điều tra, khảo sát trên cả những tài liệu thu thập được cũng như những kết quả
thu nhận qua hồi cứu tài liệu. Trên cơ sở những dữ liệu có được, luận văn sử
dụng các phương pháp như thống kê, phân loại, xử lí và nhận xét để chắt lọc
các nội dung cần thiết phục vụ cho luận văn.
5.3. Phương pháp thực nghiệm
Muốn khẳng định giá trị và khả năng thực thi của một công trình
nghiên cứu lí luận, cần phải đưa những nghiên cứu đó vào thực tiễn để kiểm
chứng hiệu quả. Với một đề tài khoa học về giáo dục thì thực nghiệm (hay thử
nghiệm) là khâu rất quan trọng trong quy trình. Do vậy, việc thực nghiệm
trong luận văn này không phải chỉ như một phương pháp nghiên cứu mà còn
là một nội dung nhất thiết phải có. Phương pháp thực nghiệm sư phạm trong
luận văn này là: vận dụng tích hợp kiến thức Ngữ Văn vào dạy học bài Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật qua thiết kế giáo án và giờ dạy thực nghiệm nhằm
xem xét, xác nhận tính đúng đắn, hợp lý và tính khả thi của các biện pháp
trong thực tế dạy học ở nhà trường trung học phổ thông.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ

Vì là một khái niệm rộng nên khi tìm hiểu về định nghĩa tích hợp và
dạy học tích hợp, có rất nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau:
Theo Từ điển Giáo dục: Tích hợp chỉ “sự liên kết các đối tượng nghiên
cứu của cùng một lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”,
cách hiểu này nhấn mạnh vào tính liên môn giữa các môn học.
Nhà nghiên cứu GS.TS. Nguyễn Thanh Hùng cho rằng “Tích hợp là
quan điểm hoà nhập, được hình thành từ sự nhất thể hoá những khả năng, một
sự quy tụ tối đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất”.

23


Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là “sự kết hợp một cách hữu
cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau các kiến thức, kĩ năng thuộc các
môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống
nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến
trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó”.
Trong sách giáo viên Ngữ văn 6 - tập 1 - NXB GD, HN, 2003, do GS.
Nguyễn Khắc Phi tổng chủ biên có nêu: Tích hợp là "Một phương hướng
nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học
khác nhau theo những hình thức, mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng
những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau".
Trong chương trình THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ giáo dục
và Đào tạo, khái niệm tích hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức
gần gũi, có quan hệ mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác
động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh
chóng và vững chắc” [tr. 27].
Như vậy nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách
khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá đưa tới một đối tượng mới
như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status