Tích hợp kiến thức ngữ văn trong dạy học bài phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (ngữ văn 10 tập 2) - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC
BÀI "PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT"
(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HẢI QUỲNH

TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN TRONG DẠY HỌC
BÀI "PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT"
(NGỮ VĂN 10 - TẬP 2)

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lê Thời Tân

HÀ NỘI - 2014

BPTT

Biện pháp tu từ

DH

Dạy học

ĐT

Đào tạo

GD

Giáo dục

GS

Giáo sư

GV

Giáo viên

HS

Học sinh

KT


TN

Thực nghiệm

TS

Tiến sĩ Ví

VD

dụ

2


MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ................................................................................................ i
Danh mục viết tắt ........................................................................................ii .
Mục lục .......................................................................................................iii .
Danh mục các bảng .....................................................................................v .
Danh mục các biểu đồ, sơ đồ.......................................................................vi .
MỞ ĐẦU................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA
ĐỀ TÀI......................................................................................................16 ..
1.1. Những vấn đề lý luận về dạy học tích hợp ...........................................16
..
1.1.1. Khái niệm về tích hợp.......................................................................16 ..
1.1.2. Các quan điểm tích hợp ................................................................ 18
1.1.3. Các hình thức tích hợp......................................................................20 ..

36

2.1.4. Tích hợp trong phân môn Tiếng Việt phải đảm bảo đúng quy

trì
nh
tíc
h
h

p
ch
un
g.
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....
....


2.3. Tổ chức tích hợp kiến thức Ngữ và Văn trong dạy bài

....

Phong
cách ngôn ngữ nghệ thuật (Ngữ văn 10 - tập
2) ..........................................45 ..

....
....
....
....

2.3.1. Đặc điểm nội dung bài Phong cách ngôn ngữ nghệ

....

thuật..................46 ..

....

2.3.2. Định hướng triển khai dạy học bài "Phong cách ngôn ngữ

....

nghệ

....


....


.....................................................................77 ..
3.5.2. Về kết quả bài kiểm tra................................................................
78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN
NGHỊ ..........................................................80 ..
1. Kết
luận ................................................................................................ 80
2. Khuyến
nghị...........................................................................................81 ..
TÀI LIỆU THAM
KHẢO........................................................................83 ..
PHỤ LỤC................................................................................................
86

4


DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Quan điểm của GV Ngữ văn về mức độ cần thiết phải chú
trọng dạy học phân môn Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn
THPT hiện nay.....................................................................................

27

Bảng 1.2. Các cách thức tích hợp GV thường vận dụng vào dạy học
phân môn Tiếng Việt THPT .................................................................

Sơ đồ 2.1. Biên soạn câu hỏi kiểm tra loại bài Tiếng Việt theo định
hướng tích hợp ..........................................................................................43... ...

6


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vai trò quan trọng của ngôn ngữ và của phân môn Tiếng Việt
Cùng với lao động, ngôn ngữ cũng góp phần hình thành và phát triển
xã hội loài người. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến và thuận lợi
nhất, được coi là "sáng tạo kỳ diệu của loài người". Ngôn ngữ còn là công cụ tổ
chức quá trình tư duy, giúp tư duy phát triển. Mặt khác, ngôn ngữ đóng vai trò
là một trong những yếu tố cơ bản cấu thành cộng đồng dân tộc, duy trì và phát
triển truyền thống văn hóa của dân tộc. Với người Việt Nam, tiếng Việt là ngôn ngữ
bản địa, góp phần duy trì sự thống nhất quốc gia, dân tộc.
Bên cạnh chức năng giao tiếp, chức năng tư duy, ngôn ngữ còn có chức
năng thẩm mĩ, là phương tiện để tạo nên cái đẹp - hình tượng nghệ thuật. Đề cao
chức năng thẩm mĩ của ngôn ngữ, môn Tiếng Việt trong nhà trường được chú
trọng để hướng nhiều vào nội dung dạy ngôn ngữ nghệ thuật, học Tiếng Việt
trong các tác phẩm nghệ thuật, học Tiếng Việt để hiểu nghệ thuật văn chương.
Do đó, việc dạy cho HS biết sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác là mục tiêu
vô cùng quan trọng. Cũng vì thế, Tiếng Việt đã trở thành phân môn có vị trí đặc
biệt; không chỉ cung cấp những kiến thức, kĩ năng cơ bản để phát triển khả năng
giao tiếp, giúp các em hiểu được những giá trị "chân - thiện - mĩ" trong văn học,
trong cuộc sống, mà còn trang bị cho các em công cụ thiết yếu để học tốt các môn
khoa học khác. Đây chính là lý do vì sao Tiếng Việt là môn học (phân môn)
được dạy xuyên suốt từ bậc Tiểu học đến THPT.
1.2. Tích hợp là một phương pháp dạy học được quan tâm nhiều trong dạy
học môn Ngữ văn hiện nay

còn Đọc văn là tinh hoa của Tiếng Việt do các bậc thầy văn chương thực hiện.
Bởi môn Ngữ văn là một môn học tích hợp giữa ngôn ngữ với văn tự (chữ viết),
ngôn ngữ với văn bản, ngôn ngữ với văn hóa, ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết.
Về bản chất, đối tượng của Đọc văn là các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ của dân
tộc và nhân loại từ cổ chí kim, còn đối tượng của Tiếng Việt là hệ thống ngôn
ngữ, quy luật hành chức... Nên học Đọc văn, HS thấy được vẻ đẹp của ngôn ngữ
vì thực chất công việc phân tích

8


các hình tượng văn học là công việc đi từ nghệ thuật ngôn từ mà khám phá ra
vẻ đẹp, ý nghĩa các hình tượng văn học. Từ đó, yêu văn chương, các em càng yêu
Tiếng Việt. Và thông qua đó, giúp người học rèn luyện, trau dồi được các kiến
thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống.
Như vậy, chương trình và SGK Ngữ văn đã tạo điều kiện thuận lợi cũng
như đặt ra đòi hỏi GV phải dạy ba phần của môn Ngữ văn như một thể thống
nhất. Trong đó mỗi phần vừa giữ bản sắc riêng, vừa hoà nhập với nhau cùng
hình thành các tri thức, kĩ năng Ngữ văn ở HS. Để làm được điều đó một cách có
hiệu quả thì việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học là một yêu cầu tất yếu.
1.3. Việc dạy học theo hướng tích hợp trong nhà trường phổ thông hiện
nay còn nhiều bất cập
Đã nhiều năm, qua thực tế dạy học vẫn tồn tại một khuyết điểm khó
khắc phục, đó là tình trạng GV dạy bài nào soạn bài đó và chỉ biết bài đó. Kế
hoạch soạn bài theo toàn chương, theo học kì đã được đặt ra từ nhiều thập kỉ
trước nhưng cho đến nay nhược điểm đó ở nhiều GV hầu như vẫn chưa được
khắc phục. Vì vậy, hầu hết mỗi bài học đều bị tách rời khỏi hệ thống, dạy một
bài Tiếng Việt nhưng không chú ý đến sự liên thông với các kiến thức Tiếng
Việt cùng hệ thống và những bộ phận liên quan như Đọc văn, Làm văn. Hậu
quả của lối giảng dạy này là không những không giúp HS nắm vững kiến thức

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cùng điều kiện nghiên cứu của bản
thân đã gợi cho người viết ý tưởng lựa chọn nghiên cứu đề tài "Tích hợp kiến
thức Ngữ Văn trong dạy học bài "Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật" (Ngữ
văn 10 - tập 2)" làm luận văn thạc sỹ. Trên cơ sở đó, chúng tôi cũng mong
muốn có những đóng góp phần nào trong việc định hướng triển khai thực hiện
giảng dạy một bài Tiếng Việt nói chung theo hướng tích hợp trong chương
trình THPT.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong mỗi chúng ta, ai cũng hiểu được rằng cuộc sống là muôn hình
muôn vẻ, nó được coi là bộ đại bách khoa toàn thư về kinh nghiệm và phương
pháp. Vì mọi tình huống xảy ra trong cuộc sống bao giờ cũng là những tình

10


huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luận
và thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp các kiến thức, kinh nghiệm, kĩ
năng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy có thể nói rằng, tư tưởng tích
hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống.
Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, các lĩnh vực khoa học
ngày càng phân hoá thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ. Do vậy, sang thế kỷ XX
đã xuất nhiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành. Các khoa học đã chuyển từ
tiếp cận "phân tích - cấu trúc" sang tiếp cận "tổng hợp - hệ thống". Sự thống
nhất của tư duy phân tích và tổng hợp đều cần thiết cho sự phát triển nhận thức,
đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phận với toàn thể.
Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường vì thế cũng phải phản ánh sự phát
triển hiện đại của khoa học, không thể cứ tiếp tục giảng dạy
các khoa học như những lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Bởi thế, tích hợp đã trở
thành một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên
cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới.

huống tích hợp.
Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều Hội nghị trên thế giới quan tâm đến
lý thuyết về tích hợp như: Tháng 9 -1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy
khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna (Bungari) "Hội
nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học". Hội nghị này đặt ra hai vấn đề: "Vì
sao phải dạy học tích hợp các khoa học?" và "dạy học tích hợp các khoa học
là gì?". Đến năm 1972, Hội nghị phối hợp trong chương trình giáo dục của
UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tích hợp các khoa học.
Ngay sau đó, UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo GV vào tháng 4 năm 1973
tại Đại học tổng hợp Maryland bàn thêm về khái niệm dạy học tích hợp các khoa
học còn bao gồm cả dạy học tích hợp các khoa học với công nghệ học. Nghĩa là
phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoa học sang triển khai ứng dụng,
làm cho các tri thức kĩ thuật - công nghệ trở thành một bộ phận quan trọng của
đời sống xã hội hiện đại.
Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học với
hành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đào tạo
của Liên minh Châu Âu) cho rằng: giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn
thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem

12


năng lực (compétence) là khái niệm "cơ sở" của khoa sư phạm tích hợp
(pédagogie de l'intégration). Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH) là
một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần
hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiện cần thiết
cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hoà nhập
HS vào cuộc sống lao động. Như vậy SPTH tìm cách làm cho quá trình học tập
có ý nghĩa.
Trong cuốn "Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các

riêng trong nhà trường THCS, và THPT.

18


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Triển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn góp một tiếng nói
trong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học Tiếng
Việt nói riêng và hướng tới giải quyết các yêu cầu sau:
+ Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết dạy học tích hợp và tìm hiểu, đánh giá
thực trạng, xây dựng cơ sở lý luận dạy học theo quan điểm tích hợp kiến thức
Ngữ - Văn, luận văn đề xuất cách tích hợp kiến thức Ngữ với Văn vào dạy học
bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn lớp 10, giúp
GV có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học có hiệu quả, đáp
ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồng thời, giúp các em
HS thấy được sự liên kết chặt chẽ giữa phần Đọc văn với phần Tiếng Việt và
Làm văn, thấy được những cảm quan, những cái nhìn sâu lắng nhất về ngôn ngữ
nghệ thuật được sử dụng trong các văn bản Đọc văn và từ đó có thể giúp các em
rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản theo phong cách riêng của mình, giúp HS có ý
thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, góp phần hình thành những năng lực
nghe, nói, đọc, viết và phát triển nhân cách cho HS.
+ Trên cơ sở thực nghiệm một bài dạy học Tiếng Việt cụ thể, các GV có
thể khái quát phương pháp dạy học cả phân môn Tiếng Việt trong chương trình
Ngữ Văn THPT theo hướng tích hợp.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Trong phần cơ sở lý luận của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu
cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học tích hợp trên thế giới và ở Việt Nam, dạy
học tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và dạy học tích hợp phần Tiếng
Việt lớp 10 nói riêng.

khoa học của đề tài, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, tiêu chí và cách thức vận
dụng tích hợp vào dạy học Tiếng Việt.
5.2. Phương pháp điều tra, khảo sát
Để có được bức tranh tổng thể về thực trạng của việc sử dụng biện
pháp tích hợp vào dạy học phần Tiếng Việt lớp 10 nói chung, dạy bài Phong

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status