PHIẾU MÔ TẢ HỒ SƠ DẠY HỌC DỰ THI CỦA GIÁO VIÊN
1. TÊN HỒ SƠ DẠY HỌC
TÍCH HỢP KIẾN THỨC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC
VĂN BẢN “ CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG ”( Hà Ánh Minh- Ngữ văn 7)
2. MỤC TIÊU DẠY HỌC
2.1. Kiến thức, kĩ năng, thái độ môn học cần đạt trong bài học “Ca Huế trên
sông Hương” ( Hà Ánh Minh- Ngữ văn 7)
* Vận dụng kiến thức văn học giúp học sinh hiểu và nắm rõ:
- Đôi nét về cuộc đời, sự nghiệp của nhà văn Hà Ánh Minh
- Nội dung chính của văn bản “Ca Huế trên sông Hương”: nguồn gốc ca Huế
được hình thành từ dòng ca nhạc dân gian và ca nhạc cung đình trang trọng, uy
nghi; Các làn điệu dân ca Huế rất phong phú, đa dạng (các điệu hò, các điệu lí...)
thể hiện các cung bậc tình cảm của con người và cuộc sống lao động sản xuất
xứ Huế; Các nhạc cụ biểu diễn ca Huế phong phú; Cách thức và yêu cầu biểu
diễn ca Huế .
- Nghệ thuật của văn bản “Ca Huế trên sông Hương”: Thể loại văn bản nhật
dụng với kiểu loại thuyết minh. Học sinh phân biệt “Ca Huế trên sông Hương”
thuộc thể loại bút kí với tùy bút trong bài “Một thứ quà của lúa non” đã học.
- Rèn kĩ năng : Kĩ năng tóm tắt văn bản; Kĩ năng đọc diễn cảm; Rèn kĩ năng
phân tích tác phẩm văn bản nhật dụng ( thể loại thuyết minh ) qua thể kí có kết
hợp với nghị luận và miêu tả; Kĩ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng...
- Thái độ học tập nghiêm túc, yêu thích môn Văn và tự hào về văn hóa quê
hương đất nước.
* Tích hợp với môn Giáo dục công dân( GDCD): Giáo dục học sinh ý thức giữ
gìn, kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc ; bồi dưỡng học sinh
có ý thức bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc là ca Huế. Thông qua vẻ
đẹp xứ Huế giáo dục học sinh tình cảm và trách nhiệm yêu thiên nhiên, sống hòa
hợp với thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi trường… Từ đó, giáo dục nâng cao ý
tinh thần yêu quê hương đất nướcvà trách nhiệm bảo vệ quê hương, đất nước
của học sinh bằng những hành động cụ thể phù hợp với lứa tuổi học sinh thcs.
hình ảnh về Huế trở lên cụ thể trong tâm trí học sinh.
* Tích hợp môn Tin học: biết vận dụng kiến thức, kĩ năng bộ môn Tin học vào
truy cập, tìm và chọn lọc các tư liệu kênh chữ, kênh hình để vận dụng phục vụ
2
cho bài học “Ca Huế trên sông Hương”. Quan tâm, yêu thích việc học tập, tìm
hiểu khoa học. Thấy được sự gắn kết, tương quan, liên hệ giữa các môn học, từ
đó tìm thấy được niềm vui, say mê trong học tập và nghiên cứu.
2.2. Năng lực vận dụng những kiến thức liên môn trong chương trình
THCS vào giải quyết vấn đề bài học đặt ra của học sinh
stt
1
2
3
Môn – lớp
Tiết
Lịch sử 7
PPCT
53
55-56-
Khởi nghĩa nông dân Đàng ngoài
Phong trào Tây Sơn
nhiên
Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc
Bảo vệ hòa bình
Sơ lược về mỹ thuật thời Nguyễn (1802 –
GDCD 7
GDCD 6
4
GDCD 9
5
Mỹ thuật 9
9 -10
6
Tên bài
Tin
học
tự
1945 )
Đề tài lễ hội
Thực hành tạo lập trình chiếu power point
biến thành Huế có thể là do kị huý, theo ông, có thể là tên ông Nguyễn Nạp
Hóa, cháu 6 đời của ông Nguyễn Bặc- công thần của nhà Đinh - tổ của nhà
Nguyễn hoặc cũng có thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vuaMinh
Mạng, thân mẫu của vua Thiệu Trị- vì Hoa và Hóa đọc na ná - nên Hóa phải
đổi thành Huế.
b. Phong trào Tây Sơn (Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn )
Chiến tranh Tây Sơn-Chúa Nguyễn : là một phần của nội chiến ở Đại
Việt thời gian nửa cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Đây là cuộc chiến diễn ra
chủ yếu trên chiến trường chính là lãnh thổ Đại Việt và lan sang cả lãnh
thổ Chân Lạp và Xiêm La. Chiến sự diễn ra chủ yếu giữa lực lượng phong trào
Tây Sơn và lực lượng của các chúa Nguyễn; nhưng đồng thời cũng ít nhiều lôi
4
kéo cả các nước lân bang Chân Lạp, Vạn Tượng, Xiêm La vào cuộc. Kết quả
cuối cùng của cuộc chiến này là việc lần đầu tiên sau mấy thế kỷ Đại Việt được
thống nhất hoàn toàn, sự du nhập khoa học kỹ thuật Châu Âu và sự khởi đầu cho
ảnh hưởng của người Pháp tại Việt Nam:
+ Năm 1778, Nguyễn Ánh quay lại và tập hợp lực lượng chiếm được Gia Định
và đến năm 1780, ông xưng vương. Trong mùa hè năm 1781, quân đội của
Nguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền
lớn và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được .
Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút
chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn.
+ Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam
tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ với quân Nguyễn
do chính Nguyễn Ánh chỉ huy. Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn,
nhưng nhờ lòng can đảm của mình, họ đã phá tan quân Nguyễn, buộc Manuel tự
sát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực. Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba
Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp. Vua Thái Đức khi
rút lui, trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địa thế nơi
này làm bàn đạp chống Tây Sơn. Cùng thời gian, quân Phú Xuân của Tây Sơn
nhân dịp đánh chiếm luôn đất đai, kho tàng của vua Thái Đức. Lúc đó Nguyễn
Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin cơ nghiệp của con mình là Quang Bảo bị
chiếm mất, uất quá thổ huyết mà qua đời. Quang Toản cho an trí Quang Bảo ra
huyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của vua bác. Từ năm 1794 đến năm
1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành
Diên Khánh, quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm, thậm chí
là đánh lại được quân Tây Sơn. . Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú
Yên, riêng ông thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn
giao chiến với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới,
nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế lực Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên
đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về vì thuyền chở quân lương từ
Gia Định bị ngược gió không lên kịp . Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầu
vua Xiêm La cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giới
Nghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo. Cũng trong năm 1799,
Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn , tướng giữ thành của Tây
6
Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và
Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu. Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành
Bình Định, rồi cho quân tới trấn giữ thành. Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm
lại;tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo
đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh Tây
Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một
trận lớn ở Thị Nại. Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh
cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mở
đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo điều kiện cho Nguyễn
Ánh đánh Phú Xuân, việc này khiến thời gian hai danh tướng Tây Sơn bị cầm
công xây dựng từ 1805 và hoàn chỉnh vào năm1832 dưới triều vua Minh Mạng.
được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới vào ngày 11 tháng 12
năm1993. Hiện tại, cố đô Huế đã được thủ tướng chính phủ Việt Nam đưa vào
danh sách xếp hạng 48 di tích quốc gia đặc biệt quan trọng.
2.2.2. Tích hợp môn Địa lí
a. Vị trí địa lí xứ Huế
Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ Bắc và 107,8-108,20 kinh
Đông. phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương
Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang. Tọa lạc hai bên
bờ hạ lưu sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112 km, cách
biển Thuận An 14 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14 km và cách Cảng nước
sâu Chân Mây 50 km. Diện tích tự nhiên 71,68 km2, dân số năm 2012 ước là
344.581 người. Nằm tựa lưng vào dãy núi Trường Sơn, khu vực thành phố Huế
là đồng bằng thuộc vùng hạ lưu sông Hương và sông Bồ, có độ cao trung bình
khoảng 3 – 4 m so với mực nước biển và thường bị ngập lụt khi đầu nguồn của
sông Hương (trên Dãy Trường Sơn) xảy ra mưa vừa và lớn. Khu vực đồng bằng
này tương đối bằng phẳng, tuy trong đó có xen kẽ một số đồi, núi thấp như núi
Ngự Bình, Vọng Cảnh... Huế có nhiều trung tâm thương mại lớn và nổi tiếng
toạ lạc ở hai bên bờ sông Hương như: Chợ Đông Ba, chợ Tây Lộc, chợ An
Cựu, chợ Bến Ngự, siêu thị Thuận Thành, Trường Tiền Plaza(siêu thị Coop
mart), Phong Phú Plaza(Big C). Trung tâm du lịch nổi tiếng của Việt Nam với
nhiều danh lam thắng cảnh đẹp: cố đô Huế, sông Hương núi Ngự...
b. Khí hậu xứ Huế
8
Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ,
vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực
trong toàn tỉnh. Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ
tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9 °C. Từ tháng 8 đến
Nam vào thế kỷ 18.
- Đàn nhị (ở miền nam Việt Nam gọi là đàn cò) là nhạc cụ có cung vĩ, xuất
hiện từ lâu ở Việt Nam.
- Tam thập lục là nhạc khí dây, chi gõ của âm nhạc dân gian Việt Nam. Đàn
có 36 dây nên được gọi là Tam Thập Lục.
- Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt
Nam từ lâu đời. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau. Trong hát xẩm
phách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang;
trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn
giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách...
- Sáo Trúc là tên gọi một nhạc cụ họ hơi, chi hơi vòm của dân tộc Việt. Đặc
biệt rất được phổ biến ở vùng nông thôn Việt Nam.Sáo được làm bằng
một đoạn ống trúc, hoặc nứa có chiều dài 40 - 55cm, đường kính 1,5 2cm. Ở phía đầu ống có một lỗ hình bầu dục đó là lỗ thổi. Trong lòng
ngay gần lỗ thổi được chặn bằng một mẩu nút bấc hoặc gỗ mềm để điều
chỉnh độ cao thấp khi cần thết. Thẳng hàng với lỗ thổi có khoét 6 lỗ bấm,
lỗ bấm thứ nhất cách lỗ thổi 12cm, các lỗ bấm còn lại cách đều nhau
(1cm). Mở dần các ngón ở 6 lỗ bấm ta sẽ có các âm Do1, Rê1, Mi1, Fa1,
Sol1, La1, Si1, Do2. Phía sau cuối ống sáo có một lỗ không bấm là lỗ
định âm. Khi thổi sáo, thân sáo đặt ngang sang bên phải, miệng đặt lên lỗ
thổi. Người thổi sáo có thể điều chỉnh luồng hơi (rót hơi yếu đường hơi đi
từ từ và yếu, rót hơi mạnh đường hơi đi nhanh và mạnh). Sáo thường
được sử dụng để độc tấu, hòa tấu trong các dàn nhạc chèo, hát văn, tiểu
nhạc.Khoảng cuối thập kỷ 70, nghệ sĩ Đinh Thìn và Ngô Nam đã cải tiến
cây sáo 6 lỗ thành sáo 10 lỗ để mở rộng âm vực, cho các nghệ sỹ chơi
những tác phẩm tương đối dễ dàng hơn như "Tiếng gọi mùa xuân" của
Đinh Thìn, "Tình quê" của Hoàng Đạm, "Tiếng sáo bản Mèo" của Ngọc
Phan... là nhạc cụ thổi hơi có từ thời kỳ cổ đại, rất nhiều nước trên thế giới
sử dụng sáo với nhiều hình dáng và cấu tạo có thể khác nhau.
10
quãng 4, mỗi quãng 4 cách nhau một quãng 2: Đồ - Fa - Sol - Đô1 hoặc
11
Sol -Đô1 - Rê1 - Sol1. Khi chơi đàn nghệ nhân gẩy đàn bằng miếng đồi
mồi hoặc miếng nhựa.
b. Một số ca khúc mang âm hưởng dân ca đặc trưng xứ Huế
Ca Huế là một thể loại âm nhạc cổ truyền của xứ Huế, Việt Nam, bao gồm
ca và đàn, ở nhiều phương diện khá gần gũi với hát ả đào, làm từ dòng nhạc dân
gian và cung đình nhã nhạc. Hệ thống bài bản phong phú của ca Huế gồm
khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc,
điệu Nam và một hệ thống "hơi" diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu
Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những
bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán. Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm
ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh,
mang nhiều yếu tố "chuyên nghiệp" bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách
biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị,
Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền:
- Ví dụ: bài “ Lý hoài thương”, “ Lý tương tư”, “ Lý hành vân”...
c. Dân ca địa phươngQuốc Oai
Hát Dô là thể loại dân ca nghi lễ, hình thành và phát triển trên mảnh đất
Lạp Hạ, nay là xã Liệp Tuyết, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây( nay là thành phố
Hà Nội). Hát Hội Dô ở Liệp Hạ xưa phản ánh nhận thức của con người Lạc Việt
về thiên nhiên, và ước mơ của nông dân về một cuộc đời êm ấm, thời tiết thuận
hòa, mùa màng bội thu, con cháu đông đúc. Hát Hội Dô là tiếng ca trữ tình,
nồng nàn về tình yêu nam nữ, về hạnh phúc lứa đôi của người nông dân dưới
chế độ phong kiến. Nội dung này đã trở thành nội dung chủ đạo trong phần hát
Bỏ bộ, được tiến hành sau những diễn xướng có tính chất nghi lễ của hát Hội Dô
trong những ngày lễ hội...
*Nguồn gốc: Quá trình hình thành là hoàn chỉnh của hát Hội Dô diễn ra trong
chọn những thanh niên trai tráng khỏe mạnh mới được rước kiệu, thường mỗi
kiệu có bốn người khênh. Cũng có thôn đông thanh niên thì nhiều người khênh
hơn, hoặc thay đổi nhau vì đây là một việc làm vinh dự. Đi trước kiệu là các vị
chức sắc, hai bên kiệu có cờ, có lọng đi kèm. Cái hát và bạn nàng cũng đi kèm
trước kiệu, mỗi người đều có ô che đầu. Đám rước đi thành một đoàn dài gồm
các thôn nối tiếp nhau theo thứ tự đã sắp xếp từ trước. Đại phu là thôn anh cả đi
đầu, rồi đến thôn anh hai là Vĩnh Phúc, và sau đó là các thôn Bái Nội, Bái
13
Ngoại, Thông Đạt, Đồng Sơn. Đám rước đi trong rừng cờ, cầm lọng là một
người trạc tuổi 17, 18, đầu quấn khăn lượt, trong áo trắng, ngoài áo the đen,
quần trắng, chân quấn xà cạp mầu đỏ, hoặc giày vải, thanh nữ cũng mặc quần áo
như những người khênh kiệu rước cờ rước lọng, nhưng chân không quấn xà
cạp... Xong rồi tất cả trở về nhà. Sáng hôm sau, tất cả mọi người các thôn mới ra
tập trung ở đền Khánh Xuân và vào hội hát Dô. Đại phu là thôn anh cả phải đến
sớm nhất và được hát trước nhất. Trình tự cuộc hát như sau: Người cái dẫn dắt
bạn nàng vào đứng trước đền Khánh Xuân, sau đó người cái cầm xênh gõ nhịp
làm hiệu, dẫn bạn nàng vào trước bàn thờ, tất cả đều đi theo hình chữ chi. Khi
nghe tiếng xênh mở đầu làm hiệu, các bạn nàng từ từ bỏ dép, bước vào chiếu,
xòe quạt và bắt đầu múa hát. Nếu các bạn nàng đông thì đứng trên hai chiếu,
chiếu trên gồm các nàng lớn, chiếu dưới gồm các nàng con. Nếu thôn nào có số
bạn nàng đông quá, thì phải chia ra hát làm nhiều đợt. Câu mở đầu là những bài
hát chúc của người cái, phần lớn là các bài hát đều không có động tác. Sau khi
các thôn lần lượt hát xong thì cuộc tế lễ mới bắt đầu. Phương thức diễn xướng
của hát Dô khá đơn giản. Cái hát, ngoài động tác gõ xênh, hầu như không vận
động gì. Các bạn nàng thường sử dụng đôi tay cùng với chiếc quạt gần như động
tác múa chèo. Vần và nhịp của hát Dô cũng biến hóa linh hoạt. Có câu, có đoạn
tuân theo thể lục bát một cách linh hoạt. Nhưng có những câu, những đoạn co
lại, hoặc giãn ra cho phù hợp với các giọng kể, giọng ngâm. Diễn xướng hát Dô
* Lời ca và làn điệu trong diễn xướng hát Dô: Lời thơ quy định các tên gọi của
làn điệu trong diễn xướng hát Dô. Khi phân định ranh giới các bài có những làn
điệu khác nhau, người hát thường dựa vào lời thơ của đoạn hát ấy để đặt tên cho
nội dung từng đoạn. Nội dung hát Bỏ bộ thì khác, bởi mỗi bài có một ý nghĩa
riêng cho nên việc đặt tên cũng dễ dàng hơn. Làn điệu chi phối lời thơ trong
diễn xướng hát Dô bằng cách gia nhập những tiếng phụ vào bài thơ nguyên thể.
Đó là những tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy cài vào đầu, giữa hay cuối những
dòng thơ của các thể thơ khác nhau. Việc gia nhập tiếng phụ ở mỗi loại hình dân
ca là khác nhau. Đó cũng là những nét khu biệt của diễn xướng hát Dô.
* Đạo cụ: quạt giấy là đạo cụ của các bạn nàng, đôi sênh là đạo cụ của Cái hát.
* Điệu bộ động tác trong diễn xướng hát Dô: Cùng tồn tại song song với lời ca
nghi lễ hát Dô là các động tác phụ hoạ của các bạn nàng. Diễn xướng hát Dô là
Cái xướng Con hoạ. Khi hát, bạn nàng vừa hát vừa múa minh hoạ theo nội dung
15
từng đoạn như: hái hoa, múa quạt, bắn cung, hái chè, dệt cửi... đặc biệt là động
tác chèo thuyền. Ở nội dung hát Bỏ bộ các động tác có phần sinh động hơn.
Nhìn chung, các động tác múa của diễn xướng hát Dô khá đơn giản. Việc kết
hợp các động tác này đòi hỏi cảm quan thẩm mĩ của người hát là khá cao.
Mặc dù còn có những hạn chế nhất định về mặt nội dung và nghệ thuật,
hát hội Dô vẫn là một viên ngọc quý trong di sản văn hóa dân tộc, nó giúp chúng
ta nhìn rõ hơn cuộc sống lao động, cuộc sống tình cảm của ông cha ta trước kia,
với tính chất là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp xuất hiện từ lâu đời. Do lời hát
mộc mạc, gần gũi với đời sống nhân dân nên ngày nay hát Dô đang được khôi
phục lại, trở thành nét sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân xã Liệp Tuyết,
huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây ( thành phố Hà Nội)..., đồng thời là biện pháp
nhằm khôi phục di sản văn hoá phi vật thể, bảo tồn và lưu truyền cho đời sau.
2.2.4. Tích hợp môn Giáo dục công dân
a. Từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc nói chung và xứ Huế nói
sẵn sàng bảo vệ tổ quốc.
+ Công dân còn trẻ tuổi, là học sinh phổ thông có nghĩa vụ luyện tập quân sự
theo chương trình quy định để khi lớn lên sắn sàng đáp ứng yêu cầu bảo vệ tổ
quốc, bảo vệ trật tự làng, xã, cơ quan, trường học. Việc thực hiện nghĩa vụ quân
sự được hiểu là nhập ngũ vào quân đội, ngoài ra còn có việc thực hiện nghĩa vụ
thay thế, song đều có mục tiêu chung là bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy có thể nên thống
nhất chung là nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc và được khẳng định trong Hiến pháp,
nêu rõ những nghĩa vụ công dân. Nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc được quy định tại
các luật, pháp lệnh như: quân sự, an ninh, cảnh sát, cơ yếu... làm căn cứ pháp lý
khẳng định ý thức nghĩa vụ của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Mặt khác, trong triển khai xây dựng cũng như thực hiện quyền lợi và
nghĩa vụ công dân, yêu cầu công bằng là vấn đề phải được quan tâm thường
xuyên, có những vấn đề cần phải trưng cầu dân ý hay đưa ra dự thảo để tranh
thủ ý kiến đóng góp của nhân dân trước khi quyết định. Tuy nhiên, qua thời
gian, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự trong điều kiện đất nước hòa bình, ổn
định, yêu cầu biên chế lực lượng vũ trang giảm và cuộc sống ngày một được
nâng cao với những quyền lợi công dân được rộng mở cũng cần nhìn nhận lại
việc thực hiện nghĩa vụ công dân, trong đó có nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Thiết
nghĩ, cần có quy định hướng dẫn bảo đảm công bằng, trong đó kể cả những
17
người trong diện do điều kiện hoàn cảnh khác nhau không phải thực hiện nghĩa
vụ quân sự mà có điều kiện cuộc sống tốt phải đóng góp vật chất cho công cuộc
bảo vệ Tổ quốc. Việc tuyển quân đối với công dân đủ tiêu chuẩn tuyển sinh đại
học, cao đẳng có thể vận dụng rút ngắn thời gian thực hiện nghĩa vụ sát hợp với
thời gian khóa học và bảo lưu nghĩa vụ còn lại nhằm tạo điều kiện cho công dân
phấn đấu, không làm gián đoạn quá trình học tập của họ.
b. Giáo viên thông qua văn bản: “ Ca Huế trên sông Hương” – Hà Ánh
Minh- học sinh tìm hiểu về ý nghĩa quần thể cố đô Huế, văn hóa phi vật thể
Nhà vườn... giáo dục học sinh tình yêu thiên nhiên cùng ý thức, trách nhiệm
của bản thân và xã hội trong vấn đề bảo vệ thiên nhiên, môi trường sống:
- Thiên nhiên bao gồm: Không khí, bầu trời, sông suối, rừng cây, đồi núi, động
thực vật, khoáng sản...
- Yêu thiên nhiên sống hoà hợp với thiên nhiên là sự gắn bó, rung động trước
cảnh đẹp của thiên nhiên; Yêu quý, giữ gìn và bảo vệ thiên nhiên.
- Vai trò của thiên nhiên:
+ Thiên nhiên giúp tâm hồn sảng khoái, làm bầu không khí trong lành, bảo vệ
cuộc sống con người, gắn bó và rất cần thiết đối với đời sống con người. Là tài
sản chung vô giá của dân tộc và nhân loại .
+ Thiên nhiên bị tàn phá sẽ ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và tồn tại của
con người
- Trách nhiệm của học sinh: Phải bảo vệ thiên nhiên; Sống gần gũi, hoà hợp với
thiên nhiên; Kịp thời phản ánh, phê phán những việc làm sai trái phá hoại thiên
nhiên
2.2.5. Tích hợp môn Mỹ thuật
a. Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng
+ Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc
dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến
trúc hiện đại...Những công trình kiến trúc công phu, đồ sộ nhất chính là Quần
thể di tích Cố đô Huế hay Quần thể di tích Huế. Đó là những di tích lịch sử - văn
hóa do triều Nguyễn chủ trương xây dựng trong khoảng thời gian từ đầu thế kỷ
19 đến nửa đầu thế kỷ 20 trên địa bàn kinh đô Huế xưa; nay thuộc phạm vi
thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế, Việt Nam
Kinh thành Huế đựơc xây dựng trên một mặt bằng gần như như hình vuông với
19
mặt trước hơi khum hình cánh cung, tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc kiến trúc
của dân tộc Việt Nam xuất phát từ Dịch Lý và thuật Phong Thủy dựa vào các
nhất thi nhất họa đặc sắc. Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơn
dầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên (1870-1912)...Về điêu khắc, cố
đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu
khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ. Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang
trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt
đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao. Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng
cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một
thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp.
b. Hình ảnh và ý nghĩa biểu tượng của thuyền Rồng
Con rồng đã từng là một tô tem trong tín ngưỡng sơ khai của người Việt
Nam. Dân Việt cổ có tục xăm mình, phổ biến trong số ấy là họa tiết rồng (giao
long). Theo ghi chép Hoài Nam Tử và Sơn Hải Kinh, rồng được người Việt xưa
xăm lên đùi để khi xuống nước “tránh bị giao long làm hại”. Đến đời vua Trần
Anh Tông (1293-1314) mới chấm dứt tục xăm mình. Rồng là hình tượng của
mưa thuận gió hòa, là linh vật đứng vào hàng bậc nhất trong tứ linh “long, lân,
quy, phụng”. Hình tượng rồng thời đại Hùng Vương là một linh vật thân dài có
vẩy như cá sấu được chạm trên các đồ đồng, đặc biệt là trên trống đồng.
Con rồng thời Nguyễn trở lại vẻ uy nghi vương quyền. Rồng được thể
hiện ở nhiều tư thế, ẩn mình trong đám mây, hoặc rồng hàm thọ, lưỡng long
triều nhật, lưỡng long chầu hoa cúc, lưỡng long chầu chữ thọ v.v.. Thân rồng
không dài ngoằn, uốn lượn với độ cong lớn. Đầu rồng to, sừng giống sừng hươu
có nhánh phụ cùng chĩa ngược ra sau. Mắt rồng lộ to, mũi giống mũi lân hoặc sư
tử, miệng há to để lộ hàm răng răng nanh chắc khỏe. Vây trên lưng rồng có tia,
thân cuộn hoa văn lửa hoặc mây, phân bố dài ngắn đều đặn. Râu rồng uốn sóng
từ dưới mắt chìa ra cân xứng hai bên. Hình tượng rồng dùng cho vua chân có
năm móng mạnh mẽ, còn quan và tầng lớp quý tộc chỉ được pháp dùng rồng bốn
hoặc ba móng, đuôi không có bờm lông, các chi tiết hoa văn lờ mờ hơn rồng
cung đình. Rồng trên mái đình chùa miếu mạo thường cũng chỉ có bốn móng
Kể từ khi triều Nguyễn kết thúc, tính phân tầng xã hội trong quy cách sử
2.2.6. Tích hợp môn Tin học
- Học sinh vận dụng kiến thức tin học để thu thập tài liệu từ các nguồn khác
nhau sách báo, video, phóng sự ...từ mạng. Vận dụng kiến thức tạo lập trình
chiếu Power point để thiết kế trình chiếu các tư liệu, hình ảnh thu thậpcho các
22
phần thuyết trình nội dung bài học.
- Nhóm 1: Hình ảnh tiêu biểu về vẻ đẹp xứ Huế
Vịnh Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế)
Cầu Trường Tiền hay còn gọi là Tràng Tiền bắc qua sông Hương
23
- Nhóm 2: Hình ảnh tiêu biểu về quần thể cố đô Huế
Hoàng thành Huế .
Điện Thái Hòa cố đô Huế
Chùa Thiên Mụ nhìn từ sông Hương
- Nhóm 3: Biểu diễn ca Huế trên thuyền Rồng
24
Biểu diễn ca Huế trên thuyền Rồng giữa dòng sông Hương