I/. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1/. Đặt vấn đề:
Môn Ngữ văn trước hết là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội, điều đó
nói lên tầm quan trọng của nó trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm
cho học sinh. Môn Ngữ văn còn là một môn học thuộc nhóm công cụ. Điều đó
nói lên mối quan hệ giữa Ngữ văn và các môn khác. Học môn Ngữ văn sẽ có tác
động tích cực đến kết quả học tập các môn khác và các môn khác cũng góp phần
giúp học tốt môn Ngữ văn. Cho nên tự nó cũng toát lên yêu cầu tăng cường tính
thực hành giảm lý thuyết gắn với đời sống.
Hơn nữa, Ngữ văn cũng là môn học góp phần hình thành nên những kiến
thức cơ bản và quan trọng nhất là hình thành nhân cách con người, chuẩn bị cho
các em một hành trang để bước vào đời hoặc học lên những bậc học cao hơn. Đó
cũng chính là chiếc chìa khóa mở cửa cho tương lai.
Thấy được tầm quan trọng của việc dạy và học môn Ngữ văn nói chung và
Ngữ văn 8 nói riêng đồng thời phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảng dạy
theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa và quan điểm tích hợp là vấn đề cần được
quan tâm nhất hiện nay. Bởi tích hợp là một xu thế phổ biến trong dạy học hiện
đại. Nó giúp học sinh tiết kiệm thời gian học tập mà vẫn mang lại hiệu quả nhận
thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập, tách rời từng phương diện kiến
thức đồng thời phát triển tư duy biện chứng, khả năng thông hiểu và vận dụng
kiến thức linh hoạt vào các yêu cầu môn học, phân môn cụ thể trong chương
trình học tập theo nhiều cách khác nhau. Vì thế, việc nắm kiến thức sẽ sâu sắc,
hệ thống và lâu bền hơn.
Trong những năm gần đây, nền giáo dục Việt Nam đang có sự chuyển đổi
mới để theo kịp các nước phát triển, hội nhập với nền văn hóa thế giới. Công
cuộc đổi mới không chỉ dừng lại ở việc thay đổi sách giáo khoa mà còn thay đổi
cả ở phương pháp dạy học, dự giờ. Những cuộc hội thảo khoa học, những
chuyên đề tích hợp các phương pháp dạy học liên tiếp được thực hiện nhằm đưa
ra giải pháp tối ưu cho người dạy và người học. Vận dụng tích hợp kiến thức
liên môn trong một giờ học là một trong những xu thế dạy học hiện đại đang
được quan tâm, nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó có
dạy-học”.
2/. Mục đích đề tài:
Trong toàn bộ chương trình Ngữ văn THCS, văn học trung đại có một vị trí
rất quan trọng trong quá trình phát triển của văn học Việt Nam. Gần một ngàn
năm Bắc thuộc, dù chịu nhiều ảnh hưởng về chữ viết, văn học, triết lý, phong tục
tập quán của phương Bắc nhưng dân tộc Việt Nam với ý thức quốc gia và tinh
thần tự chủ cao độ đã không mệt mỏi đấu tranh để giữ gìn bản sắc dân tộc và
truyền thống cha ông. Các tác phẩm nghị luận trung đại được đưa vào giảng dạy
trong Ngữ văn 8 phần nào đã phản ánh được điều đó. Tuy nhiên, việc giảng dạy
các văn bản này sao cho học sinh dễ hiểu và có thể cảm nhận được lại rất khó
khăn đối với giáo viên đồng thời làm sao để việc học tập của các em được vận
dụng thiết thực vào đời sống của chính các em cũng không mấy dễ dàng.
Mục đích của việc dạy tích hợp trong môn Ngữ văn không chỉ dừng lại ở
việc tích hợp khép kín “trong nội bộ phân môn Ngữ văn” mà người dạy phải
giúp cho người học tự học, sáng tạo, bồi dưỡng tư duy, tâm hồn, hiểu và biết
tổng hợp, vận dụng các kiến thức của các môn học vào trong bài học để tiết học
sinh động, gây hứng thú cho học sinh trong giờ học. Qua đó học sinh sẽ tiếp thu
và nắm vững nội dung bài học một cách hợp lý có hiệu quả hơn. Bên cạnh việc
tích hợp kiến thức của các môn học giáo viên cần lưu ý hướng dẫn cho học sinh
thói quen tìm hiểu và biết vận dụng tổng hợp kiến thức để giải quyết một vấn đề.
Bởi vì việc học sinh tự tìm hiểu kiến thức cho nội dung bài học sẽ mang lại một
cách tiếp cận mới đa chiều để các em bước vào bài học một cách hiệu quả nhất.
Qua đó tạo cho học sinh hứng thú, tích cực hơn trong học tập.
3/. Lịch sử đề tài:
Từ trước đến nay có rất nhiều công trình, tài liệu nghiên cứu về việc tích hợp
kiến thức liên môn vào việc giảng dạy ở trường phổ thông. Thế nhưng lại có rất
ít tài liệu đề cập đến việc tích hợp kiến thức liên môn vào giảng dạy bộ môn
Ngữ văn ở trường Trung học cơ sở (THCS) đặc biệt là phần văn bản trung đại
2
văn bản tự sự,... Bởi vậy dẫn đến rất nhiều hiện tượng dở khóc dở cười. Đặc biệt
với các tác phẩm văn học, khoảng thời gian lịch sử cách xa như Văn học Trung
đại học sinh tiếp cận học tập hầu như thụ động, lúng túng. Lúng túng không chỉ
vì vấn đề đặt ra khác thời đại sống; tư tưởng, giá trị thẩm mỹ hoàn toàn khác
thời đương đại mà một phần do các em rất khó tiếp cận, không hiểu hoặc hiểu
chưa sâu mục đích của văn chương thời bấy giờ: Văn dĩ tải đạo, thơ dĩ ngôn chí.
Thụ động học tập còn thể hiện ở chỗ, tác phẩm bao giờ cũng là trung hòa của
các yếu tố nghệ thuật, tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán, địa lý, lịch sử,...
Do đó giúp học sinh tiếp cận đúng các tác phẩm trung đại, tìm ra được phương
pháp đúng nhất người giáo viên phải cung cấp, rèn luyện, tạo cho các em thói
quen học đa chiều, tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết tốt một vấn đề.
Văn học trung đại Việt Nam được viết bằng hai loại chữ: chữ Hán và chữ
Nôm. Chữ Hán vốn mượn của người Trung Quốc còn chữ Nôm là mẫu tự do
cha ông ta sáng tạo ra. Các tác phẩm nghị luận trong chương trình Ngữ văn 8
đều được viết bằng chữ Hán. Gồm bốn văn bản sau đây: Chiếu dời đô (Lý Công
Uẩn); Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn); Nước Đại Việt ta (Trích Bình Ngô đại
cáo- Nguyễn Trãi); Bàn luận về phép học (La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp).
Trên thực tế, việc dạy các tiết phần văn bản trung đại trong môn Ngữ văn 8
hiện nay hiệu quả chưa cao; với học sinh, các em có vẻ xem nhẹ phần văn bản
trung đại và lúng túng trong việc tiếp cận nó.
Do đó, tôi đã làm một cuộc khảo sát học sinh của trường với các câu hỏi như
sau:
1) Phân biệt các thể loại: hịch, chiếu, cáo, tấu đã được học?
2) Giới thiệu tác giả và hoàn cảnh ra đời của một văn bản thuộc các thể loại
trên?
3) Việc nhà Lý dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La có ý nghĩa như thế nào?
4) Em hiểu thế nào về quan điểm “độc lập và chủ quyền” trong văn bản
“Nước Đại Việt ta”, trong hoàn cảnh hiện nay của đất nước ta?
- Mục đích của việc khảo sát:
+ Phân biệt được đặc điểm cơ bản của các thể loại nghị luận trung đại Việt
Tỉ lệ học sinh
đạt 02 câu
65,79%
Tỉ lệ học sinh
đạt 03 câu
26,32%
Tỉ lệ học sinh
đạt 04 câu
13,16%
2/. Nội dung cần giải quyết:
Với thực tế về tình trạng học tập môn Ngữ văn của các em còn thấp, tôi đã
tiến hành điều tra nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên. Nguyên nhân thì có
nhiều song theo tôi, do một số nguyên nhân chủ yếu sau:
2.1/. Đối với giáo viên:
Đa số giáo viên đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm lo, quan tâm đến
học sinh nhưng vẫn còn những mặt hạn chế sau:
- Có giáo viên chỉ tập trung chuyển tải một cách rập khuôn những thông tin
có trong bài học mà chưa chú trọng khai thác những vấn đề liên quan.
- Giáo viên còn lúng túng khi đưa ra hệ thống câu hỏi khai thác cũng như
phương pháp triển khai những văn bản văn học.
- Vẫn còn hiện tượng giáo viên thiếu nhiệt tình trong quá trình tìm tòi, sưu
tầm những kiến thức liên quan bổ sung cho nội dung bài dạy dẫn đến khả năng
tích hợp còn hạn chế.
- Mặt khác, kiến thức lý luận văn học của một bộ phận giáo viên chưa thật sự
vững vàng.
- Việc dạy văn bản trong chương trình đổi mới luôn lấy tiêu chí bám sát thể
loại và kiểu bài Tập làm văn. Đây cũng là một hạn chế trong việc học văn bản
máy móc không xác định được kiến thức trọng tâm trong từng đơn vị bài học.
- Một thực tế đang tồn tại ở trường THCS Long Thạnh nữa là học sinh bị
hỏng kiến thức từ các cấp, lớp học dưới, các em học trước quên sau. Cho nên
học sinh rất khó tiếp thu được kiến thức của văn bản khi chưa hiểu hết ý nghĩa
của các yếu tố lịch sử, điển cố, điển tích, các nội dung mang tính cổ xưa sử dụng
trong đó.
- Phần lớn học sinh ít có tư liệu để đọc, tham khảo và cũng chưa có thói quen
đọc sách tham khảo để bổ sung kiến thức môn học.
- Đây là thể loại mới rất lạ với học sinh lớp 8 và trong chương trình không có
kiểu bài giới thiệu tiến trình văn học (văn học sử) nên các em khó hình dung
được không khí lịch sử của thời đại. Mặt khác, việc giảng dạy các văn bản này
đều qua bản dịch. Đây là một khó khăn không nhỏ khi tích hợp với Tiếng Việt
trong việc hiểu và giải nghĩa các từ Hán Việt, các điển tích, điển cố. Điểm nổi
bật trong tác phẩm này là sự thuyết phục người đọc bằng lí trí và tình cảm. Tuy
là một văn bản nghị luận chính trị song lại có nhiều hình ảnh rất gợi cảm với thể
văn biền ngẫu, uyển chuyển mạnh mẽ, giàu nhạc điệu nên phong cách dạy cũng
khác với thể loại thơ trữ tình hoặc tự sự.
6
- Tác giả của các tác phẩm được học đều là những nhân vật lịch sử nổi tiếng
trong quá khứ. Nhưng học sinh thiếu sự am hiểu về các nhân vật lịch sử cho nên
kiến thức lịch sử dù đã được học ở bộ môn Lịch sử nhưng đều rơi rụng nhiều khi
học Ngữ văn.
- Học sinh chưa xây dựng được hoặc chưa thực hiện nghiêm túc việc học ở
nhà, khâu soạn bài thường làm chiếu lệ để đối phó là chính. Áp lực của các môn
học khác khiến cho các em có ít cơ hội để mở rộng việc tìm hiểu bài học thông
qua các kênh thông tin khác.
- Nguyên nhân khách quan là hiện nay do một số văn bản dung lượng quá dài
so với thời lượng 45- 90 phút nghiên cứu trên lớp, học sinh rất khó có thể nắm
có xu hướng xích gần nhau hơn đặc biệt là các môn khoa học xã hội có sự gắn
kết chặt chẽ. Việc vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết một vấn đề không
phải là câu chuyện hoàn toàn mới. Nó đã được nhắc đến, được thực hiện từ rất
7
lâu. Những giáo viên có kinh nghiệm vẫn đang làm, học sinh khá- giỏi các em
cũng đang làm. Vấn đề đặt ra ở đây là làm sao để đại bộ phận giáo viên và tất cả
học sinh cùng hưởng ứng, cùng làm. Trong Ngữ văn có Lịch sử; trong Ngữ văn
có Địa lí; trong Ngữ văn có văn hóa, có âm nhạc, có hội họa, có tư tưởng, có giá
trị thẩm mỹ. Làm thế nào để một tác phẩm mãi sống, mãi lung linh tỏa sáng,
thắm ngắm vào tâm hồn mỗi học sinh, để các em không chỉ hiểu mà còn biết
sống đẹp, sống cần lao động là vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên dạy Ngữ văn. Do
đó, tích hợp kiến thức liên môn trong giảng dạy các tác phẩm văn học trung đại
không còn là vấn đề đơn thuần nữa mà nó trở thành nhiệm vụ của mỗi ai đã,
đang và sẽ là giáo viên dạy Ngữ văn trong mỗi nhà trường.
Từ thực tế giảng dạy, tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp nâng cao chất
lượng giảng dạy Ngữ văn 8 phần văn bản Trung đại bằng cách tích hợp kiến
thức liên môn trong dạy-học như sau :
3.1/. Chuẩn bị về kiến thức:
3.1.1/. Nắm vững thể loại và các đặc trưng của thể loại:
* Về thể loại:
- Chiếu: Là thể loại văn cổ, do vua (chúa hay thủ lĩnh) dùng để ban bố mệnh
lệnh.
- Hịch: Là thể văn nghị luận thời xưa, thường được vua chúa, tướng lĩnh hay
thủ lĩnh một phong trào dùng để cổ vũ động viên, thuyết phục hoặc kêu gọi đấu
tranh chống thù trong giặc ngoài.
- Cáo: Là một thể văn nghị luận cổ, thường được vua chúa, hoặc thủ lĩnh
dùng để trình bày một chủ trương hay công bố kết quả của một sự nghiệp để mọi
người cùng biết.
hệ thống của văn học sử, do việc chọn Tập làm văn làm tiêu chí lựa chọn văn
bản giảng dạy. Do hạn chế này nên học sinh không được tiếp xúc với những bài
dạy về văn học sử. Mà cả bốn văn bản trung đại được học đều có mối liên quan
mật thiết đến lịch sử. Giáo viên cần nắm chắc kiến thức lịch sử để có cái nhìn
bao quát, từ đó có thể lựa chọn phương pháp phù hợp khi hướng dẫn các em
hiểu văn bản từ góc độ lịch sử. Có như vậy thì giá trị của tác phẩm văn học mới
được hiểu một cách cặn kẽ.
3.1.4/. Chuẩn bị vốn từ Hán Việt, nắm chắc các điển tích, điển cố văn
học
Do đặc điểm viết bằng chữ Hán nên khi dịch sang tiếng Việt, các văn bản
không tránh khỏi việc phải sử dụng nguyên vẹn các từ Hán. Bên cạnh đó, còn có
một khối lượng điển tích, điển cố rất hay. Việc dùng các điển tích, điển cố có tác
dụng giúp cho sự diễn đạt trở nên ngắn gọn mà vẫn giàu ý nghĩa và thuyết phục
người đọc, người nghe một cách ấn tượng. Ngoài những chú thích được giải
nghĩa trong sách giáo khoa, giáo viên cần tìm hiểu để nắm kĩ hơn nội dung của
chúng. Khi cần thiết, để tăng sự hứng thú cho các em dễ hình dung và nắm bắt
kiến thức, giáo viên có thể kể ngắn gọn.
3.2/. Chuẩn bị về phương pháp:
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương pháp
thích hợp. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.
Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
3.2.1/. Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học
như Tiếng Việt và Tập làm văn.
3.2.2/. Tích hợp dọc: Là tích hợp với các kiến thức thuộc các môn học khác
hoặc kiến thức đời sống xã hội,…
3.3/. Sử dụng hệ thống câu hỏi:
3.3.1/. Loại câu hỏi tái hiện:
Với loại câu hỏi này, học sinh sẽ được yêu cầu phát biểu, trình bày lại vấn đề.
Câu hỏi này chỉ là để chuyển tiếp tới nội dung phức tạp hơn. Các câu hỏi này
không cần thời gian suy nghĩ mà chỉ cần sự phát hiện của học sinh (ví dụ được
3.4.2/. Chọn đưa thêm một vài nội dung cần hướng học sinh tìm hiểu và tiếp
nhận để các em phát huy được khả năng liên hệ thực tế, gắn tác phẩm với đời
sống hiện đại, từ đó các em sẽ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị của mỗi tác
phẩm (ví dụ được thể hiện ở phần phụ lục trang 18, 19).
3.5/. Điều chỉnh phương pháp tích hợp đã thực hiện theo hướng sử dụng
kiến thức liên môn.
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương pháp
thích hợp. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.
Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
* Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học như
Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Tích hợp với Tiếng Việt: Giáo viên luôn xác định dùng kiến thức của Tiếng
Việt là để giúp học sinh cảm nhận nội dung văn bản một cách sâu sắc. Nhất thiết
không được biến một phần bài học thành giờ học Tiếng Việt. Cũng không nên
quá cứng nhắc trong tích hợp với Tiếng Việt, khi những đơn vị kiến thức tích
hợp không mấy liên quan đến bài học. Giáo viên chỉ nên tập trung vào những
đơn vị kiến thức Tiếng Việt có tác dụng trực tiếp đến sự cảm thụ của học sinh.
Ví dụ:
+ Trong văn bản Hịch tướng sĩ cần chú trọng trong việc làm sáng tỏ giá trị
của các câu hỏi tu từ: đây là những câu hỏi tu từ có khả năng khơi gợi suy nghĩ,
10
tình cảm của người nghe và thấy được thái độ nghiêm khắc trong phê phán, bao
dung trong động viên, khích lệ tướng sĩ của người chủ tướng giàu ân tình.
+ Trong Bàn luận về phép học cần chú ý khai thác các chú thích để hiểu rõ tư
tưởng của tác giả trong việc học, đạo học (tam cương, ngũ thường, đạo,…)
- Tích hợp với Tập làm văn: Việc ôn tập lại luận điểm và luận cứ trong văn
nghị luận chính là mục tiêu cơ bản trong tích hợp của các văn bản này. Bởi lẽ, cả
vào thời điểm xuất hiện của nó (khoảng năm 1285) và lí do tại sao Trần Quốc
Tuấn lại viết bài hịch này (sau gần 30 năm kể từ khi quân Nguyên thất bại lần
thứ nhất, vì một thời gian dài được sống trong hoà bình, an nhàn nên một bộ
phận tướng sĩ có tư tưởng tư lợi cá nhân. Thực tế, đất nước đang đứng trước
nguy cơ kẻ thù tìm cớ xâm lược lần nữa. Để giúp tướng sĩ nhận rõ nguy cơ này,
Trần Quốc Tuấn đã viết bài hịch động viên tướng sĩ luyện tập theo binh thư để
chống lại kẻ thù).
11
- Mặt khác, để giúp học sinh cảm và hiểu các tác phẩm có từ thời trung đại
mà vẫn mới mẻ trong thời hiện đại, cần sử dụng các kiến thức về Địa lý, Giáo
dục công dân, Âm nhạc, Mĩ thuật phù hợp với mục tiêu bài dạy đề ra.
Ví dụ:
- Dạy văn bản Chiếu dời đô thì liên hệ với việc bảo tồn di tích lịch sử, văn
hóa ngày nay. Tìm thông tin về việc di tích Tràng An được công nhận là Di sản
văn hóa thế giới. Từ đó khơi dậy niềm kiêu hãnh và lòng tự hào dân tộc. Mặt
khác, tìm thông tin hoặc ra đề bài cho học sinh về nhà tìm hiểu về quá trình phát
triển cũng như những thành tựu của nền văn hóa Thăng Long để thấy được tầm
nhìn của vua Lý Thái Tổ.
- Dạy văn bản Hịch tướng sĩ thì liên hệ với tín ngưỡng thờ cúng Trần Hưng
Đạo ở khắp nơi trên đất nước ta để học sinh thấy được đức độ cao cả của ngài.
Từ đó học sinh có ý thức quan sát, tìm hiểu và làm theo.
- Ở mỗi bài dạy giáo viên cho học sinh liên hệ về mặt thể loại để thấy rằng
bốn thể văn này ngày nay chúng ta vẫn sử dụng nhưng dưới những hình thức
khác nhau.
+ Chiếu: ngày nay dùng hình thức phát ngôn hoặc đưa ra thảo luận góp ý
rộng rãi trong cả nước (ví dụ như thảo luận về Hiến pháp, các dự luật,...)
+ Hịch: ngày nay tồn tại dưới hình thức lời kêu gọi, lễ phát động, các phong
trào hưởng ứng,…
trên, tôi nhận thấy chất lượng dạy và học môn Ngữ văn 8 nói chung và phần văn
bản trung đại nói riêng được nâng cao rõ rệt với sự chuyển biến hết sức khả
quan. Qua thực tiễn vận dụng giảng dạy, tôi thấy lớp học sôi động hơn rất nhiều
so với khi chưa áp dụng. Thống kê số liệu khảo sát chất lượng môn Ngữ văn cho
thấy:
- Phần lớn học sinh hứng thú vào giờ học Ngữ văn đặc biệt là phần văn bản
trung đại.
- Không khí lớp học sôi nổi hơn và học sinh thích học môn Ngữ văn hơn.
- Tỉ lệ học sinh hứng thú khi học phần văn bản trung đại là: 80,26%.
- Bảng thống kê kết quả học sinh:
Tỉ lệ học sinh
đạt 01 câu
100%
Tỉ lệ học sinh
đạt 02 câu
85,53%
Tỉ lệ học sinh
đạt 03 câu
65,79%
Tỉ lệ học sinh
đạt 04 câu
39,47%
13
III/. KẾT LUẬN:
chọn chi tiết, nắm được bản chất của vấn đề trong sự so sánh đối chiếu với toàn
bộ nội dung đã học.
1.3.4/. Loại câu hỏi nêu vấn đề:
Câu hỏi nêu vấn đề thường được sử dụng trong những hoạt động đòi hỏi học
sinh tư duy, đối chiếu, so sánh,…để tìm hiểu những vấn đề khó của bài học. Nó
có tác dụng vừa củng cố vừa khắc sâu kiến thức, vừa có hướng mở ra những khả
năng tìm tòi những cách giải quyết những hướng sáng tạo mới để giải quyết vấn
đề một cách toàn diện và sâu sắc. Giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài dạy để chọn
những vấn đề trọng tâm để đặt câu hỏi yêu cầu học sinh thảo luận theo nhóm.
1.4/. Xác định mục tiêu chính của bài dạy.
14
1.4.1/. Đảm bảo những mục tiêu cơ bản trong sách giáo khoa, sách giáo viên
và chuẩn kiến thức- kỹ năng. Việc này giúp học sinh phát huy khả năng cảm thụ
được tinh thần chung của mỗi tác phẩm trung đại.
1.4.2/. Chọn đưa thêm một vài nội dung cần hướng học sinh tìm hiểu và tiếp
nhận để các em phát huy được khả năng liên hệ thực tế, gắn tác phẩm với đời
sống hiện đại, từ đó các em sẽ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị của mỗi tác
phẩm.
1.5/. Điều chỉnh phương pháp tích hợp đã thực hiện theo hướng sử dụng
kiến thức liên môn.
Trong mỗi bài dạy giáo viên cần chuẩn bị tốt về việc lựa chọn phương pháp
thích hợp. Nguyên tắc dạy học theo hướng tích hợp cần được tận dụng triệt để.
Những hướng tích hợp nên tận dụng thuộc một số lĩnh vực sau đây:
* Tích hợp ngang: Là tích hợp với các đơn vị kiến thức cùng môn học như
Tiếng Việt và Tập làm văn.
- Tích hợp với Tiếng Việt: Giáo viên luôn xác định dùng kiến thức của Tiếng
Việt là để giúp học sinh cảm nhận nội dung văn bản một cách sâu sắc. Nhất thiết
2/. Phạm vi, đối tượng áp dụng:
Với những nội dung công việc đã thực hiện như trên, các biện pháp đã nêu
trong đề tài có thể thực hiện ở trường THCS đối với bộ môn Ngữ văn ở lớp 8
đặc biệt là sử dụng vào các tiết của phần văn bản trung đại.
3/. Kiến nghị với các cấp về điều kiện thực hiện:
3.1/. Đối với các cấp lãnh đạo:
- Tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn cho giáo viên bộ môn Ngữ văn
trong từng năm để giáo viên có dịp trao đổi kinh nghiệm, bàn luận tìm ra biện
pháp tối ưu, tích cực nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ văn nói chung và
Ngữ văn 8 nói riêng đặc biệt là phần văn bản trung đại Việt Nam bằng cách tích
hợp kiến thức liên môn trong dạy- học.
- Đầu tư hơn nữa các tài liệu; trang thiết bị, dụng cụ trực quan, công nghệ
thông tin; tài liệu về lịch sử, văn hóa, tư tưởng của các triều đại phong kiến Việt
Nam để hỗ trợ cho giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn 8.
- Quản lí chặt chẽ các điểm kinh doanh Internet và các điểm dịch vụ không
lành mạnh, làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh.
- Quan tâm sát sao, hiệu quả đến chất lượng giáo dục ở địa phương, đầu tư cơ
sở vật chất kịp thời phục vụ cho việc dạy và học.
3.2/. Đối với phụ huynh:
- Quan tâm hơn nữa đến việc học hành của con em mình, đầu tư nhiều về
thời gian cho con cái học tập, không nên để cho các em phụ giúp nhiều công
việc gia đình.
- Phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với giáo viên bộ môn Ngữ văn và giáo
viên chủ nhiệm để tìm hiểu, nắm bắt kịp thời tình hình học tập của con em mình.
3.3/. Đối với giáo viên:
- Nhiệt tình, say mê với nghề, tận tụy với học sinh. Luôn tạo hứng thú trong
giờ học bằng các hình thức như: Thi giữa các nhóm, tổ; tổ chức các trò chơi; tạo
các tình huống,…để học sinh có hứng thú và yêu thích môn học hơn. Đặc biệt là
tích hợp kiến thức liên môn vào việc giảng dạy bộ môn Ngữ văn.
- Cần tích lũy, trau dồi tri thức từ nhiều môn học và hơn nữa, phải tự học tập
Tỉ lệ học sinh
đạt 03 câu
26,32%
Tỉ lệ học sinh
đạt 04 câu
13,16%
* Thống kê kết quả học tập của học sinh sau khi áp dụng đề tài sáng kiến
kinh nghiệm:
- Phần lớn học sinh hứng thú vào giờ học Ngữ văn đặc biệt là phần văn bản
trung đại.
- Không khí lớp học sôi nổi hơn và học sinh thích học môn Ngữ văn hơn.
- Tỉ lệ học sinh hứng thú khi học phần văn bản trung đại là: 80,26%.
- Bảng thống kê kết quả học sinh:
Tỉ lệ học sinh
đạt 01 câu
100%
Tỉ lệ học sinh
đạt 02 câu
85,53%
Tỉ lệ học sinh
đạt 03 câu
65,79%
Tỉ lệ học sinh
đạt 04 câu
phát biểu một cách hoàn chỉnh quan niệm về quốc gia dân tộc. Người đời sau
vẫn xem quan niệm của Nguyễn Trãi là sự kết tinh học thuyết về quốc gia, dân
tộc. So với thời Lý, học thuyết đó phát triển cao hơn bởi tính toàn diện và sâu
sắc của nó. Toàn diện vì ý thức về dân tộc trong Nam Quốc sơn hà được xác
định chủ yếu trên hai yếu tố: lãnh thổ và chủ quyền còn đến Bình Ngô đại cáo,
ba yếu tố nữa được bổ sung: văn hiến, phong tục tập quán, lịch sử. Sâu sắc vì
trong quan niệm về dân tộc, Nguyễn Trãi đã ý thức được văn hiến, truyền thống
lịch sử là yếu tố cơ bản nhất, là hạt nhân để xác định dân tộc.
3.3.4/. Loại câu hỏi nêu vấn đề:
Ví dụ: Bài Bàn luận về phép học (Nguyễn Thiếp)
Khi bàn về mục đích của việc học là học luân thường đạo lý để làm người
(tức học tam cương và ngũ thường) giáo viên có thể đặt câu hỏi:
Theo em, quan niệm về mục đích của đạo học như thế có điểm nào tích cực
cần được việc học ngày hôm nay phát huy? Có những điểm nào cần được bổ
sung?
Với câu hỏi như thế này học sinh phải tìm tòi để đưa ra quan điểm học tập
của mình dựa trên sự tiếp thu người xưa và phát triển theo tư tưởng hiện đại hôm
nay.
+ Điểm tích cực của mục đích học tập trước đây là: coi trọng mục tiêu đạo
đức của việc học. Khẩu hiệu “Tiên học lễ - Hậu học văn” trong nhà trường hôm
nay là sự phát huy đạo học ngày trước.
+ Điểm cần bổ sung: Mục đích học không chỉ là rèn đạo đức, mà còn rèn
năng lực trí tuệ để con người sau này có sức mạnh xây dựng, cải tạo xã hội trên
mọi lĩnh vực: đạo đức, văn hoá, kinh tế, khoa học kĩ thuật,…
3.4/. Xác định mục tiêu chính của bài dạy.
3.4.2/. Chọn đưa thêm một vài nội dung cần hướng học sinh tìm hiểu và tiếp
nhận để các em phát huy được khả năng liên hệ thực tế, gắn tác phẩm với đời
sống hiện đại, từ đó các em sẽ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về giá trị của mỗi tác
phẩm.
* Văn bản “Chiếu dời đô” (Lí Công Uẩn)
- Liên hệ quan điểm học tập của nhiều người trong xã hội....
19
3.6/. Sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy- học
Ví dụ: tranh ảnh khi dạy văn bản Chiếu dời đô
Lược đồ vị trí địa lý của Hoa Lư (Ninh Bình) và Đại La (Thăng Long – Hà Nội)
Toàn cảnh cố đô Hoa Lư
Thăng Long xưa
Hà Nội ngày nay
Ví dụ: dạy văn bản Hịch tướng sĩ
20
Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần trên miền quê
Ví dụ dạy văn bản Nước Đại Việt ta
Chủ quyền dân tộc
Sự kiện giàn khoan HD 981
21
Ngữ văn 8 nói chung và phần văn bản trung đại Việt Nam nói riêng ngày càng
đạt hiệu quả cao hơn.
Long Thạnh, ngày tháng năm 2016
Người viết
Dương Trường Giang
24
MỤC LỤC
I/. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .......................................................... Trang 1
II/. NỘI DUNG CÔNG VIỆC ĐÃ LÀM .................................... Trang 4
III/. KẾT LUẬN ........................................................................... Trang 14
IV/. PHỤ LỤC .............................................................................. Trang 17
25