một số giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy Giáo dục chính trị - Pdf 40

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NHẰM NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY CÁC HỌC PHẦN CHUNG Ở
TRƯỜNG TRUNG CẤP LUẬT ĐỒNG HỚI
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý vào
bậc nhất trong những nghề cao quý, là nghề sáng tạo bậc nhất trong những nghề
sáng tạo….vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Quả đúng như vậy, nghề
dạy học là một nghề hết sức đặc biệt không giống như những ngành nghề khác – đó là
nghề trồng người và sản phẩm của nghề dạy học chính là con người. Và nếu người kĩ
sư vui mừng nhìn thấy cây cầu của mình vừa mới xây xong, người nông dân mỉm
cười nhìn đồng lúa của mình mới trồng thì người GV vui sướng nhìn thấy HS của
mình trưởng thành lớn lên. GV là những người được đào tạo để giáo dục con người.
Giáo dục để HS trở thành những người có đủ Trí - Đức - Thể - Mỹ. Vì vậy, bản thân
mỗi nhà giáo phải là một tấm gương sáng cho HS noi theo. Để có được cái nhìn
ngưỡng mộ tôn trọng của HS trước tiên đối với người thầy cần không ngừng trau dồi
chuyên môn nghiệp vụ, có một năng lực sư phạm tốt. Ở bài tham luận này chúng tôi
xin phép được trao đổi về một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các học
phần chung của Khoa Giáo dục chính trị, thể chất văn hóa.
1. Khái quát chung về các học phần chung giảng dạy ở Trường Trung cấp
Luật Đồng Hới
Các học phần chung bao gồm các học phần bắc buộc là Giáo dục chính trị, Tin
học và Tiếng Anh; Các học phần điều kiện là Giáo dục Quốc phòng - An ninh và Giáo
dục thể chất; Các học phần tự chọn: Kỹ năng điều hành công sở và giao tiếp công vụ
và Khởi tạo doanh nghiệp. Cho nên, bài tham luận của Khoa GDCTTCVH hôm nay
chỉ bàn về một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các học phần mà Khoa
có GV đảm nhận.
Đặc điểm các học phần chung: Cung cấp kiến thức nền tảng cơ bản cho HS trước
vào học các môn chuyên ngành; Các học phần chung hầu như được giảng dạy vào học
kỳ 01; Khung chương trình các học phần chung không chỉ là áp dụng cho riêng đào
tạo chương trình trung cấp Luật mà là khung chương trình áp dụng cho tất cả các
chương trình đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp được quy định theo Thông tư
số 16/2010/TT-BGDĐT Ban hành Quy định về chương trình khung trung cấp chuyên

- Cách thức đánh giá kết quả học tập của HS. Tiêu chí đánh giá được xây dựng
chủ yếu là dựa trên sự ghi nhớ và tái hiện nội dung đã học. Những câu hỏi chỉ dừng
lại ở việc học thuộc yêu cầu HS phải trình bày một nội dung đã học, ít có nội dung
vận dụng các tình huống trong thực tiễn.
- Trình độ nhận thức của HS. HS là người DTTS chiếm tỷ lệ cao trong số học
viên, HS của Trường, hơn nữa, còn có nhiều HS học hệ THCS. Cho nên, nhìn chung
trình độ dân trí của HS Trường TCLĐH còn thấp, đặc biệt là các HS là người DTTS
vốn từ tiếng việt hạn chế, khả năng sử dụng tiếng việt còn thấp. Điều này ảnh hướng
rất lớn đến chất lượng đào tạo của Trường nói chung và chất lượng giảng dạy các học
phần chung nói riêng.
- Đội ngũ GV của Khoa còn mỏng. Ngoài môn Tiếng Anh và GDCT thì những
môn còn lại cũng chỉ có một GV phụ trách (môn GDQP không có GV đảm nhậm
giảng dạy) gây khó khăn trong công tác phân công giảng dạy cũng như trao đổi
kinh nghiệm bộ môn,
Qua thực tiễn giảng dạy và quá trình nghiên cứu, Khoa GDCTTCVH chia sẻ
kinh nghiệm cũng như đề xuất một số ý kiến nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy các
học phần chung như sau:
3.Một số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy các học phần
chung
3.1. Thiết kế giáo án, bài giảng phù hợp với đối tượng
Trước hết, khi thiết kế giáo án, bài giảng phải gắn liền với đặc thù chuyên
ngành đào tạo của Trường. Trường Trung cấp Luật Đồng Hới có chức năng đào
tạo các cán bộ pháp lý, các học phần chung được dạy ở học kỳ 1 khi HS vừa mới
bắt đầu vào học. Do đó, GV giảng dạy cần phải thiết kế giáo án, bài giảng có gắn
2


kết với chuyên ngành Luật, tạo bước nền cho HS học các môn Luật sau này, có
liên hệ thực tiễn với ngành nghề HS sau này ra trường làm việc.
Bên cạnh đó, đối tượng học của các trường trung cấp chuyên nghiệp cũng rất

sự ghi nhớ thông tin.
Bên cạnh, mặt nhược điểm trên, phương pháp truyền thống này cũng có nhiều ưu
điểm nhất định như sau:
Thứ nhất, việc sử dụng phương pháp này cho phép GV truyền đạt những nội
dung lý thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin mà HS tự mình
không dễ dàng tìm hiểu được một cách sâu sắc. Ví dụ như, môn GDCT là một trong
những môn học nặng về lý luận và tính chính trị-xã hội trực tiếp, mang tính trừu
tượng và khái quát cao. Bên cạnh những tri thức khoa học với nhiều khái niệm,
thuật ngữ, phạm trù, quy luật cần phải được giải thích rõ, môn học này còn phải
chuyển tải đến người học nhiều nội dung quan trọng trong những nguyên lý của
3


chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng sản Việt
Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước và con đường, phương pháp để thực hiện
các nội dung đó vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, giúp HS nắm được hình mẫu về cách tư duy logic, cách đặt và giải
quyết vấn đề khoa học, cách sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt những vấn đề khoa học
một cách chính xác, rõ ràng, xúc tích thông qua cách trình bày của GV.
Thứ ba, tạo điều kiện thuận lợi để GV tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm
của HS qua việc trình bày tài liệu với giọng nói, cử chỉ, điệu bộ thích hợp và diễn
cảm.
Thứ tư, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển năng lực chú ý và kích thích tính
tích cực tư duy của HS, vì có như vậy HS mới hiểu được lời giảng của GV và mới ghi
nhớ được bài học.
Do đó, chúng ta chưa thể “chia tay” với phương pháp thuyết trình truyền
thống mà nên khai thác những yếu tố tích cực của phương pháp này và cải tiến
bằng cách kết hợp nó với các phương pháp khác nhằm tích cực hóa hoạt động
nhận thức của HS.
Cụ thể, thuyết trình không phải GV “nói và nói” mà thuyết trình phải gắn với

thời gian và công sức cho bài giảng.
Trong khả năng nghiên cứu và kinh nghiệm của cá nhân, tôi đề xuất một số
phương pháp giảng dạy tích cực kết hợp với phương pháp thuyết trình cho các
học phần chung.
3.2.2. Tăng cường sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
Thảo luận nhóm là một hình thức để khắc phục hạn chế của phương pháp dạy
học truyền thống. Quá trình chuẩn bị nội dung thảo luận HS phải nghiên cứu bài
giảng, tìm tư liệu và xử lý thông tin trước khi đưa nội dung ra trước tập thể lớp, quá
trình này làm cho HS không những nắm được kiến thức cơ bản mà còn mở rộng và
nâng cao sự hiểu biết về nội dung tri thức của môn học. Tổ chức thảo luận là cơ hội để
HS trình bày chính kiến, học hỏi lẫn nhau, cùng nhau đối thoại để giải quyết một vấn
đề lý luận hoặc thực tiễn. Như vậy, thảo luận nhóm sẽ nâng cao năng lực tự học, rèn
luyện cho HS kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề kỹ năng trình bày vấn đề
khoa học, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị của HS.
Để tổ chức tốt giờ thảo luận đòi hỏi GV phải nâng cao trình độ chuyên môn,
năng lực sư phạm, khả năng am hiểu thực tế,… để phục vụ cho công tác giảng dạy.
Trong phương pháp tổ chức thảo luận, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”,
đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút, tham gia vào các hoạt động
học tập do GV tổ chức và chỉ đạo.. Hình thức thảo luận phát huy tính tự tin, tích cực,
chủ động, sáng tạo của HS không có nghĩa là vai trò của người thầy sẽ lu mờ, trái lại
để thực sự đóng vai trò là người tổ chức thực hiện, hướng dẫn HS trong hoạt động học
tập vai trò của người GV phải được nâng cao, có như vậy mới thực sự là người định
hướng hoạt động học tập của HS.
Ví dụ, để áp dụng phương pháp này trong giảng dạy phần tư tưởng Hồ Chí
Minh, GV tiến hành các bước sau:
Bước 1: Xác định chủ đề cho các nhóm làm việc và thảo luận
Trên cơ sở nội dung theo chương trình khung Bộ GD&ĐT ban hành, GV lựa
chọn các chủ đề để các nhóm chuẩn bị. Các chủ đề phải đảm bảo nội dung tri thức của
bộ môn, phù hợp với đối tượng HS và gắn liền với thực tiễn sâu sắc. Đối với phần Tư
tưởng Hồ Chí Minh, GV có thể xác định các chủ đề sau:

Ví dụ:
Để thảo luận chủ đề số 2: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, GV chia lớp
thành 3 nhóm với 3 nội dung cụ thể:
Nhóm 1: Trình bày hoàn cảnh lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh?
Nhóm 2: Trình bày những tiền đề tư tưởng – lý luận hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh?
Nhóm 3: Trình bày các phẩm chất, năng lực của Hồ Chí Minh?
Mỗi nhóm sẽ có 3 đến 5 phút thảo luận, chuẩn bị nội dung trình bày.
Bước 3: Tổ chức thực hiện thảo luận
* Báo cáo nội dung vấn đề thảo luận: GV yêu cầu HS trong nhóm trình bày
những yêu cầu của nội dung câu hỏi. Các thành viên trong nhóm bổ sung để hoàn
chỉnh nội dung trả lời. Đồng thời, yêu cầu các nhóm khác chuẩn bị các câu hỏi để chất
vấn, làm rõ vấn đề của nhóm trình bày đó.
* Thảo luận: Sau khi nhóm báo cáo đã trình bày hoàn chỉnh nội dung, nhóm
nghe báo cáo sẽ chất vấn, yêu cầu làm rõ một số vấn đề trong nội dung báo cáo hoặc
đưa ra tình huống giả định,…cho nhóm báo cáo, nhóm báo cáo có trách nhiệm trả lời
các vấn đề trong nội dung bài học. Đây là một hoạt động rất sôi nổi, tạo nên không khí
thoải mái trong lớp học cũng như tính cạnh tranh trong học tập, tạo ra một động lực
lớn trong quá trình tiếp nhận tri thức. Hoặc GV có thể đưa thêm vấn đề yêu cầu các
nhóm thảo luận, đưa ra quan điểm của mỗi nhóm. Ví dụ như, khi thảo luận chủ đề
“cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh”, GV đưa ra vấn đề "cơ sở nào đóng vai trò
quyết định đến bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh", HS thường có hai quan điểm khác
nhau:
6


Quan điểm thứ nhất cho rằng, chính nhân tố chủ quan Hồ Chí Minh với khả năng
tư duy và trí tuệ cùng với phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn đã giúp
Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, khám phá ra lý luận cách mạng thuộc địa trong
thời đại mới, trên cơ sở đó xây dựng một hệ thống quan điểm lý luận toàn diện, sâu

của Việt Nam, từng bước đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi.
Bước 5: GV nhận xét và đánh giá cho điểm các nhóm
GV nhận xét kết quả báo cáo, trả lời câu hỏi, đưa ra tình huống của các nhóm.
Đánh giá và cho điểm hoạt động của HS trong giờ thảo luận làm cơ sở để cộng
vào điểm giữa kỳ.
Để có một giờ thảo luận có hiệu quả GV cần lưu ý một số vấn đề sau:
+ Giờ thảo luận chỉ phát huy hiệu quả khi tất cả HS đều tham gia vào tiến trình
chung của giờ học. Vì vậy, việc chuẩn bị các yêu cầu của giờ học là rất cần thiết, đây
chính là nền tảng quan trọng nhất để tổ chức thảo luận thành công.
7


+ Để đảm bảo cho HS được tham gia trình bày, tranh luận trong giờ thảo luận, sĩ
số của mỗi lớp thảo luận không quá 40 HS.
+ Nội dung thảo luận gồm rất nhiều vấn đề, trong khi thời gian dành cho hoạt
động lại có hạn, vì thế GV phải thực sự giữ thế chủ động trong quá trình điều hành.
+ Trong quá trình thảo luận HS sẽ trình bày chủ đề có tính ngẫu hứng nhất định
theo cách hiểu của các em, có thể sẽ xuất hiện những vấn đề, những luận điểm không
phù hợp với chủ đề của buổi thảo luận, hoặc xuất hiện những tranh luận giữa các
nhóm HS. Đây chính là thời điểm thể hiện vai trò quan trọng của người thầy trong
việc định hướng hoạt động nhận thức của HS. Để đáp ứng được yêu cầu đó đòi hỏi
GV phải nâng cao năng lực sư phạm, thường xuyên bồi dưỡng về kiến thức lý luận và
thực tiễn.
Ở đây cần lưu ý là tùy vào nội dung bài giảng, tùy vào đối tượng, số lượng HS
GV sử dụng phương pháp này cho phù hợp. Không nhất thiết lúc nào cũng phân chia
lớp ra làm 3 hay 4 nhóm, có lúc nhóm cũng chỉ cần 2 bạn ngồi gần nhau cũng mang
lại những hiệu quả nhất định. Ví dụ như môn Tiếng Anh, GV của Khoa thường hay
yêu cầu HS làm việc theo cặp. Như là khi dạy phần Practice của Unit 9, GV đưa ra
các hình ảnh đồng hồ hiển thị các giờ khác nhau và yêu cầu các cặp thảo luận đưa ra
câu trả lời chính xác. Việc phân HS theo cặp sẽ giúp HS đều được tham gia vào quá

Thứ nhất, muốn HS có ý thức tự học thì trước hết HS phải yêu thích môn học đó.
Vì vậy GV cần tạo cho HS niềm say mê môn học. GV có thể dùng tiết dạy để giới
thiệu về môn học, về những giá trị của môn học trong thực tiễn bằng những ví dụ
minh họa cụ thể nhằm kích thích động cơ học tập ở các em. Ở đây đỏi hỏi mỗi GV
phải tâm huyết với nghề, vận dụng được những phương pháp giảng dạy tích cực thu
hút được HS học tập.
Thứ hai, GV cần hướng dẫn cho HS cách xây dựng kế hoạch học tập từ ban đầu.
Ngay từ tiết học đầu tiên của môn học, GV không cần phải dạy ngay mà cần giới thiệu
sơ lược về chương trình, nội dung và phương pháp học một cách khái quát nhất để HS
hiểu và từ đó, tự xây dựng cho mình kế hoạch học tập phù hợp. GV phải làm cho HS
hiểu rõ: mọi kế hoạch phải được xây dựng dựa trên mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể
và HS hoàn toàn có thể phấn đấu thực hiện được từng mục tiêu nếu có kế hoạch thời
gian được xây dựng chi tiết. Chẳng hạn, trong quá trình giảng dạy mỗi chương, GV sẽ
cung cấp nội dung và thời gian học và kiểm tra để HS nắm rõ. Đồng thời, GV có thể
cho HS đánh dấu vào trong sách bài nào học ngày nào, đến tiết nào sẽ kiểm tra. Muốn
HS tự xây dựng kế hoạch học tập thì GV phải là người cung cấp đầy đủ kế hoạch dạy
và học của bộ môn.
Thứ ba, GV hướng dẫn cho HS cách tìm và đọc sách hoặc tài liệu liên quan đến
môn học. GV cần nhấn mạnh cho HS thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn
trong nội dung giáo trình, trong bài giảng của GV mà đến từ nhiều nguồn khác nhau.
Do đó, GV cần giới thiệu cho HS những cuốn sách hay, những tài liệu bổ ích liên
quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìm kiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến
thức. GV cũng có thể giới thiệu địa chỉ một số trang web, hoặc các trang diễn đàn trao
đổi kinh nghiệm học tập để HS tham khảo thêm.
Thứ tư, GV nên dạy cho HS cách ghi chép và nghe giảng vì đây là những kỹ
năng học tập vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của HS.
Trình độ nghe và ghi chép của người học ở mỗi môn học khác nhau là khác nhau, tùy
thuộc vào đặc thù của từng môn học và phương pháp giảng dạy của từng GV. HS
thường mang lối học thụ động, quen tách việc nghe và ghi chép ra khỏi nhau, thậm chí
nhiều HS chỉ chờ GV đọc mới có thể ghi chép được nội dung bài học, nếu ngược lại

một khoảng thời gian để HS trình bày kết quả tự học ở nhà. Biện pháp này, HS có thể
tham gia thực hiện qua các dạng bài tập sau:
Bài tập siêu tốc: Trong vòng 30 giây cá nhân phải trả lời ngắn gọn bài tập được
chỉ định;
Bài tập tình huống: Trả lời tình huống hoặc câu hỏi suy luận;
Bài tập slide: tập tóm tắt nội dung cốt lõi nhất trong một văn bản để thuyết trình
trước lớp. Hoặc bình luận, hùng biện đoạn phim, chuỗi hình ảnh về Hồ Chí Minh qua
các thời kỳ hoạt động để làm nổi bật được tư tưởng, tấm gương và những công lao mà
Người đã đóng góp cho cách mạng và dân tộc;
Bài tập chính kiến: trình bày ý kiến riêng của mình về một vấn đề mở, trong 1 - 2
phút;
Bài tập tiếp sức đồng đội: do lớp trưởng một lớp điều hành, các HS khác làm
phản biện. Khi HS thứ nhất trả lời xong (GV chưa đánh giá) thì phải “chuyển” micrô
cho HS thứ hai cùng lớp (để trả lời tiếp hoặc bổ sung, hoặc phát hiện chỗ sai, chỗ
thiếu…) GV sẽ quyết định khi nào ngừng dây chuyền trả lời này, để đưa ra nhận xét
và kết luận cho cả lớp.
Tất nhiên, ở biện pháp học tập qua các bài tập trên của HS đòi hỏi có sự hướng
dẫn của GV. GV tác động vào quá trình tự thể hiện này của HS bằng nhiều cách:
Hướng dẫn phương pháp tiếp nhận văn bản Hồ Chí Minh, khẳng định những ý kiến
đúng, biểu dương những ý kiến sáng tạo, sắc sảo, gợi ý cách đọc hiểu, đọc sâu sau khi
đã đọc biết, lưu ý nhận thức sai, nhắc nhở ý lạc đề… hoặc cung cấp thêm những hoàn
cảnh, sự kiện lịch sử để hiểu đúng luận điểm của Hồ Chí Minh và thấy được giá trị to
lớn của luận điểm đó; giúp HS thực hiện văn hoá tranh luận trong quá trình học tập tư
tưởng Hồ Chí Minh.

10


Hay môn Kỹ năng giao tiếp, khi thực hành phần Kỹ năng thuyết trình, tôi yêu
cầu học sinh chuẩn bị bài thuyết trình trước ở nhà với chủ đề tự chọn. Tiết sau yêu cầu

học như khái niệm, các luận điểm. Tuy nhiên, đối với phương pháp này HS sẽ không
có nhiều cơ hội để tìm hiểu sâu nội dung của bài học. Vì vậy, tổ chức trò chơi chỉ
thích hợp với giai đoạn đầu của bài giảng, khi GV bắt đầu hướng dẫn những kiến thức
cơ bản, nền tảng cho HS và giai đoạn cuối bài giảng, khi GV củng cố lại các kiến thức
đã học.
Ví dụ như: Trong môn GDCT, GV đưa ra một ô chữ về Hồ Chí Minh yêu cầu
HS tham gia trả lời hoặc đưa ra một câu hỏi trắc nghiệm mức độ khó với các phương
án trả lời… ai trả lời đúng sẽ được nhận danh hiệu Nhà thông thái buổi học đó. GV bộ
môn Tiếng Anh của Khoa khi giảng dạy cũng thường đưa ra các trò chơi như “luky
11


number”, “slap the board”, “matching”, “who is the millionaire”… giúp HS củng cố
từ vựng, ôn lại kiến thức ngữ pháp, nâng cao khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh.
Hai biện pháp 3.2.3 và 3.2.4 có hiệu quả tâm lý sư phạm rất quan trọng: HS tự
biểu hiện, tự đánh giá; HS dạy HS, HS học hỏi lẫn nhau; khuyến khích sự hợp tác,
cộng đồng trong học tập; phát hiện biểu dương, khen thưởng kịp thời các HS tích cực,
có ý thức đúng với môn học; tạo thi đua trong học tập; tăng tình cảm yêu thích với các
môn học… Qua đó, đánh giá được ý thức và tính tích cực của HS một cách chính xác.
III. PHẦN KẾT LUẬN
Tóm lại, có thể nói đi liền với việc đổi mới phương thức đào tạo đòi hỏi có sự
đổi mới về phương pháp giảng dạy của giáo viên và phương pháp học tập học sinh.
Muốn học sinh thực hiện các biện pháp học tập tích cực nói trên nhất thiết cần có sự
hướng dẫn và chỉ đạo tích cực, khoa học của giáo viên. Lâu nay, thuyết trình vẫn là
phương pháp cơ bản trong giảng dạy, giáo dục, tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp này vẫn có vai trò quan trọng nhất định. Qua đó, người giảng có thể
nhanh chóng truyền đạt nội dung tư tưởng, dễ dàng biểu đạt tình cảm, linh hoạt trong
mọi ngữ cảnh, mọi đối tượng. Tuy nhiên, phương pháp này dùng nhiều thì dễ gây ra
nhàm chán, thầy nói - trò ghi, thầy thường phải độc thoại, người học chỉ được nghe
một chiều, tiếp thu một cách thụ động, máy móc, chưa tích cực chủ động, nên có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status