MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, vật liệu nano đã và đang trở thành đối tượng
nghiên cứu hấp dẫn do những tính chất đặc biệt. Một trong những tính chất quan
trọng của loại vật liệu này chính là tính chất quang học, việc ứng dụng các thành
quả nghiên cứu về vật liệu nano phát quang đã và đang làm thay đổi cuộc sống.
Nhiều dạng màn hình, các thiết bị y học hiện đại, các đèn compact tiết kiệm năng
lượng... có được như hiện nay là hoàn toàn phụ thuộc vào các vật liệu nano phát
quang. Vật liệu nano phát quang pha tạp các ion đất hiếm hóa trị ba phát xạ
huỳnh quang mạnh ở vùng khả kiến khi được kích thích bởi bức xạ tử ngoại, khả
kiến hoặc hồng ngoại gần. Hiệu suất phát quang, màu phát xạ hay bức xạ hấp thụ
của vật liệu phụ thuộc vào sự lựa chọn vật liệu mạng chủ, nồng độ chất kích
hoạt, nồng độ chất tăng nhạy, điều kiện và phương pháp tổng hợp vật liệu.
Các chất phát quang trên cơ sở ytri oxit có vai trò quan trọng trong công
nghiệp màn hình và trong việc sản xuất các đèn compact có hiệu quả chiếu sáng
cao hơn, thời gian sử dụng dài và tiết kiệm điện năng hơn bởi vì Y2O3 là một
trong các mạng nền rất phù hợp để pha tạp các ion đất hiếm để tạo ra các vật liệu
phát quang chất lượng cao, có tần số dao động phonon thấp, có độ bền nhiệt, độ
bền cơ học cao, ổn định và rất thân thiện với môi trường; bởi vậy Luận văn chọn
đối tượng nghiên cứu là Y2O3 pha tạp ion đất hiếm Ho3+ và Sm3+.
Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học về vật
liệu nano phát quang với mạng chủ là Y2O3 pha tạp các ion Eu3+, Er3+ [5, 11, 13,
19]. kết hợp với các phân tích, đánh giá của nhiều nhóm nghiên cứu trong và
ngoài nước về vật liệu nano phát quang với mạng chủ la Y2O3 chúng tôi chọn đề
tài “Chế tạo và nghiên cứu tính chất của vật liệu nano phát quang
1
Y2O3:Ho3+, Sm3+” . Nội dung trên được tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm tại
bộ môn Hóa Vô cơ- khoa Hóa Học-Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
Mục tiêu của luận văn là xây dựng được quy trình chế tạo bằng phương
Kết luận
Tài liệu tham khảo
3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan chung về vật liệu huỳnh quang có cấu trúc nano
1.1.1. Vật liệu huỳnh quang
Vật liệu huỳnh quang là vật liệu có thể biến đổi một số loại năng lượng
thành bức xa điện từ. Bức xạ điện từ được phát xạ bởi vật liệu huỳnh quang
thường nằm trong vùng nhìn thấy, hoặc cũng có thể nằm trong vùng tử ngoại và
hồng ngoại. Quá trình huỳnh quang có thể được kích thích bởi nhiều loại năng
lượng khác nhau: nếu kích thích bằng bức xạ điện từ ta có quang huỳnh quang,
nếu kích thích bằng chùm electron năng lượng cao ta có huỳnh quang catot, nếu
kích thích bằng hiệu điện thế của dòng điện thì ta có điện huỳnh quang…[8].
Kích thích
Phát xạ
A
KPX
Hình 1.1: Sơ đồ của tinh thể hay vật liệu huỳnh quang
Hệ gồm có một mạng chủ và một tâm huỳnh quang được gọi là tâm kích
hoạt.
R
A
A*
NR
Bức xạ kích thích
a
et
A2
*
*
Hình 1.3: Sự truyền năng lượng từ tâm S (tăng nhạy) tới A
5
Hình 1.4: Sự truyền năng lượng từ S tới A. Dịch chuyển S→S* là hấp thụ, dịch
chuyển A2*→A là phát xạ. Mức A1* là tích lũy nhờ sự truyền năng lượng (ET) sẽ
phục hồi không phát xạ tới mức A2* nằm thấp hơn một chút.
Hình 1.4 mô tả sự truyền năng lượng của ion tăng nhạy (S) tới ion kích hoạt
(A).Bức xạ kích thích được hấp thụ bởi ion tăng nhạy S, đưa lên trạng thái kích
thích S* được truyền cho ion kích hoạt A bằng quá trình truyền năng lượng (ET),
đưa ion này lên trạng thái A1*.Quá trình tắt dần không phát xạ về mức A 2*, từ đây
xảy ra phát xạ từ A2*→A.
Nếu các ion kích hoạt ở nồng độ thấp, thay vì kích thích vào các ion này
hay các ion tăng nhạy, chúng ta có thể kích thích ngay vào mạng chủ. Trong
nhiều trường hợp, mạng chủ truyền năng lượng kích thích của nó tới tâm kích
hoạt, như vậy mạng chủ có tác động như chất tăng nhạy.
Tóm lại, các quá trình vật lý cơ bản đóng vai trò quan trọng trong vật liệu
huỳnh quang là:
- Sự hấp thụ (hoặc sự kích thích) có thể thực hiện: ở chính các ion kích
hoạt, ở ion tăng nhạy hoặc mạng chủ;
- Phát xạ từ tâm kích hoạt;
- Quay trở về không bức xạ với trạng thái cơ bản, quá trình này làm giảm
hiệu suất huỳnh quang của vật liệu;
kích thước nano rất đa dạng và phong phú như các hạt nano (nanoparticles), các
thanh nano (nanorods), ống nano (nanotubes), các dây nano (nanowires)... nhiều
tính chất của vật liệu phụ thuộc vào kích thước của nó. Ở kích thước nano, cấu
trúc tinh thể ảnh hưởng đáng kể bởi số nguyên tử bề mặt, bởi hiệu ứng lượng tử
của các trạng thái điện tử, do đó, vật liệu có tính chất mới lạ so với mẫu dạng
7
khối. Trong khi hiệu ứng kích thước được xem xét, chủ yếu để miêu tả các tính
chất vật lí của vật liệu thì hiệu ứng bề mặt hoặc tiếp xúc với bề mặt phẳng đóng
một vai trò quan trọng đối với quá trình hóa học, đặc biệt liên quan đến vật liệu
xúc tác dị thể. Sự tiếp xúc nhiều giữa bề mặt các hạt và môi trường xung quanh
có thể gây một hiệu ứng đáng kể. Sự không hoàn hảo của bề mặt các hạt có thể
tác động đến chất lượng của vật liệu.
Đối với một hạt kích thước 1nm, số nguyên tử nằm trên bề mặt sẽ là 99%.
Mối liên hệ giữa số nguyên tử và kích thước của hạt được trình bày trong bảng
1.1.
Bảng 1.1: Mối liên hệ giữa kích thước và số nguyên tử bề mặt [9]
Kích thước (nm)
10
4
2
1
Số nguyên tử
3.104
4.103
2,5.102
30
(nguyên tố số 21) và Y (nguyên tố số 39). Các nguyên tố thuộc họ La (Ce, Pr,
Nd, Pm, Sm, Eu, Gd, Tb, Dy, Ho, Er, Tm, Yb, Lu) là những kim loại đặc trưng
bởi sự lấp đầy lớp điện tử 4f. Cấu hình điện tử các nguyên tử trung hòa là [Xe]
4fn5d0-16s2. Các ion hóa trị 3 có cấu hình điện tử lớp vỏ là 4f n5s25p6, trong đó n =
0 - 14 được trình bày cụ thể ở bảng 1.2.
Bảng 1.2: Các ion nguyên tố đất hiếm [21]
Số hiệu
nguyên
tử
21
39
57
58
59
60
61
62
63
64
Nguyên
Ion
3+
Sc
Y3+
La3+
Ce3+
Pr3+
Nd3+
4f0
4f1
4f2
4f3
4f4
4f5
4f6
4f7
0
0
0
1/2
1
3/2
2
5/2
3
7/2
0
0
0
3
5
6
6
5
3
0
I9/2
5
I4
6
H5/2
7
F0
8
S7/2
3
65
66
67
68
69
70
71
Tb3+
Dy3+
Ho3+
Er3+
Tm3+
Yb3+
Lu3+
Xe
Xe
6
15/2
8
15/2
6
7/2
0
7
F6
H15/2
5
I8
4
I15/2
3
H6
2
F7/2
6
Như đã nêu trên bảng 1.2, Sc3+, Y3+, La3+ có cấu hình điện tử tương ứng với
cấu hình các khí trơ Ar, Kr, Xe. Các ion họ lantan từ Ce 3+ đến Lu3+ có thêm từ 1
đến 14 điện tử 4f so với cấu hình điện tử của Xe.
Dãy Lantanit bắt đầu từ Lantan với cấu hình điện tử ở trạng thái cơ bản
[Xe]5d6s2. Khi số hiệu nguyên tử Z tăng lên, các điện tử được điền vào lớp vỏ
4f. Lớp vỏ này sẽ đầy đủ hơn khi số nguyên tử tăng dần từ 58 (Ce) đến 71 (Lu).
Quá trình ion hóa các nguyên tử đất hiếm xảy ra theo xu hướng cho đi các điện
11
Hình 1.5: Giản đồ mức năng lượng của các ion RE3+
Mặc dù theo lý thuyết, các ion đất hiếm có cấu hình ít phụ thuộc vào chất
nền vật liệu, tuy nhiên khi đặt trong một trường tinh thể nhất định, hiệu ứng tách
12
mức năng lượng Stack vẫn xảy ra đối với một số ion. Nghiên cứu cho thấy, hiệu
ứng Stark cho các ion đất hiếm trong môi trường thủy tinh xuất phát từ tính đối
xứng điểm thấp của những ion này trong nền vô định hình.
1.1.5. Ứng dụng của chất phát quang dùng nguyên tố đất hiếm
Các vật liệu phát quang rất quen thuộc với cuộc sống xung quanh chúng ta.
Các nhà khoa học trên thế giới đã không ngừng nghiên cứu chế tạo ra ngày càng
nhiều vật liệu phát quang hữu dụng trong cuộc sống hiện đại như:
-
Chế tạo đèn ống huỳnh quang và thiết bị hiển thị;
-
Chế tạo lade;
-
Chế tạo ống tia catot dùng trong thiết bị màn hình phẳng FPD, màn hình
tinh thể lỏng (LCD), màn hình điốt phát quang (LED), màn hình phát xạ
trường (FED), màn hình hiển thị plasma (PDP) …;
Phương pháp cơ học có ưu điểm là đơn giản, dụng cụ chế tạo không đắt tiền và
có thể chế tạo với một lượng lớn vật liệu. Tuy nhiên, phương pháp này lại có
nhược điểm là các hạt bị kết tụ với nhau, phân bố kích thước hạt không đồng
nhất, dễ bị nhiễm bẩn từ các dụng cụ chế tạo và thường khó có thể đạt được hạt
có kích thước nhỏ. Phương pháp này thường được dùng để tạo vật liệu không
phải là hữu cơ như là kim loại.
Phương pháp từ dưới lên dựa trên việc hình thành vật liệu nano từ các
nguyên tử hoặc ion. Phương pháp từ dưới lên được phát triển rất mạnh mẽ vì tính
linh động và chất lượng của sản phẩm cuối cùng. Phần lớn các vật liệu nano mà
chúng ta dùng hiện nay được chế tạo từ phương pháp này. Phương pháp từ dưới
lên có thể là phương pháp vật lý, hóa học hoặc kết hợp cả hai phương pháp hóalý.
Phương pháp vật lý: nguyên tử để hình thành vật liệu nano được tạo ra từ
phương pháp vật lý: bốc bay nhiệt (đốt, phún xạ, phóng điện hồ quang). Phương
pháp chuyển pha: vật liệu được nung nóng rồi cho nguội với tốc độ nhanh để thu
được trạng thái vô định hình, xử lý nhiệt để xảy ra chuyển pha vô định hình-tinh
14
thể (phương pháp nguội nhanh). Phương pháp vật lý thường được dùng để tạo
các hạt nano, màng nano, ví dụ: ổ cứng máy tính.
Phương pháp hóa học: là phương pháp tạo vật liệu nano từ các ion. Phương
pháp hóa học có đặc điểm là rất đa dạng vì tùy thuộc vào vật liệu cụ thể mà
người ta phải thay đổi kỹ thuật chế tạo cho phù hợp. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có
thể phân loại các phương pháp hóa học thành hai loại: hình thành vật liệu nano
từ pha lỏng (phương pháp kết tủa, sol-gel...) và từ pha khí (nhiệt phân). Phương
pháp này có thể tạo các hạt nano, dây nano, ống nano, màng nano, bột nano...
Phương pháp kết hợp: là phương pháp tạo vật liệu nano dựa trên các
nguyên tắc vật lý và hóa học như: điện phân, ngưng tụ từ pha khí... Phương pháp
này có thể tạo các hạt nano, dây nano, ống nano, màng nano, bột nano...
Để tổng hợp vật liệu nano có thể dùng nhiều phương pháp tổng hợp hóa học
nhau và tốc độ kết tủa gần giống nhau. Để các cation cùng kết tủa, phải thực hiện
các biện pháp khắc nghiệt như: thay thế một phần nước bằng dung môi hữu cơ,
làm lạnh sâu để tách nước ra khỏi hệ… Thêm vào đó, quá trình rửa kết tủa có thể
kéo theo một cấu tử nào đó làm cho vật liệu thu được khác với thành phần mong
muốn.
Điểm không thuận lợi của phương pháp đồng kết tủa là khó điều khiển kích
thước và sự phân bố kích thước hạt. Quá trình kết tủa nhanh thường dẫn đến kích
thước hạt lớn. Mặt khác mẫu sau khi chế tạo thường phải xử lý nhiệt ở nhiêt độ
cao. Nếu khống chế tốt các điều kiện, phương pháp đồng kết tủa cho ta kích
thước hạt cỡ vài chục nm.
1.2.2. Phương pháp sol-gel
16
Phương pháp sol-gel cho phép trộn lẫn các chất ở qui mô nguyên tử và hạt
keo để tổng hợp các vật liệu có độ sạch và tính đồng nhất cao.Phương pháp này
có vai trò quan trọng trong việc chế tạo các vật liệu cỡ nano, đặc biệt là các vật
liệu gốm và các oxit kim loại thông qua việc thủy phân các tiền chất, thường là
các alkoxit tan trong rượu tạo thành các hiđroxit tương ứng. Ngưng tụ các
hiđroxit này bằng cách loại nước dẫn đến tạo thành bộ khung hiđroxit kim loại.
Khi tất cả các tiểu phân hiđroxit (phân tử hoặc ion) liên kết với nhau trong một
cấu trúc mạng lưới, sự tạo gel được hoàn tất. Gel thu được là một polime có cấu
trúc ba chiều, được bao quanh bởi các lỗ xốp nối với nhau. Việc tách các dung
môi và sấy thích hợp gel thu được sẽ tạo thành bột siêu mịn hiđroxit kim loại.
Quá trình xử lý nhiệt tiếp theo các hiđroxit này sẽ tạo thành bột oxit kim loại siêu
mịn. Do phương pháp này được khởi đầu từ các đơn vị vật liệu cỡ nano và các
phản ứng diễn ra ở phạm vi nano nên tạo thành vật liệu cỡ nano.
Quá trình thủy phân và sấy các alkoxit kim loại là hai bước quan trọng xác
định tính chất của sản phẩm.
- Sự thủy phân các alkoxit kim loại: diễn ra như sau:
ứng:
- Quá trình tách dung môi và sấy: Khi sấy ở điều kiện thường, cấu trúc
mạng của gel bị co lại, sản phẩm hiđroxit thu được gọi là xerogel. Khi sấy ở áp
suất cao, nhiệt độ cao hơn nhiệt độ tới hạn của dung môi, sự co xảy ra nhỏ hơn,
do vậy bảo vệ được cấu trúc xốp của gel thu được, gel này được gọi là aerogel.
Các chất bột areogel cùng loại với xerogel thường có độ xốp cao hơn, diện tích
bề mặt lớn hơn. Phương pháp tạo aerogel là rất có giá trị trong quá trình tạo bột
oxit kim loại chất lượng cao. Ngoài các nguyên liệu đầu là các alkoxit, phương
pháp sol – gel còn đi từ việc thủy phân các hợp chất vô cơ trong môi trường
thích hợp. Bằng phương pháp sol – gel không những tổng hợp được các ôxít
dạng bột, các tinh thể cỡ nano, có tính đồng nhất cao, bề mặt riêng lớn, độ tinh
khiết hoá học cao mà còn có thể tổng hợp được các sản phẩm dạng màng mỏng,
sợi nano.
1.2.3. Phương pháp thủy nhiệt
Ở điều kiện thường, nhiệt độ phản ứng thấp và tốc độ kết tủa lớn thường
kéo theo các tạp chất làm ảnh hưởng đến quá trình kết tinh và thuộc tính quang
học của vật liệu vanađat đất hiếm. Theo phương pháp phản ứng pha rắn truyền
thống, vật liệu được tổng hợp ở nhiệt độ cao (trên 1300 K), dẫn đến sự kết tụ các
hạt vật liệu làm tăng kích thước hạt vật liệu. Một phương pháp khác giúp khắc
phục những tồn tại này đó là phương pháp thủy nhiệt. Theo phương pháp này,
các tiền chất được trộn lẫn trong dung dịch ở điều kiện thường, sau đó tất cả
18
được đưa vào bình teflon để thủy nhiệt, nhiệt độ của quá trình thủy nhiệt thường
dưới 250oC. Nhiệt độ cao và áp suất cao thúc đẩy quá trình hòa tan - kết tủa do
đó giảm được các khuyết tật mạng lưới tinh thể nano và tạo ra vật liệu mịn và có
độ đồng nhất cao. Vì vậy phương pháp thủy nhiệt là một phương pháp hữu hiệu
tổng hợp vật liệu nano nói chung và vật liệu vanađat đất hiếm nói riêng. Theo
phương pháp này, trước tiên các tiền chất được trộn lẫn trong dung dịch. Sau đó
được làm khô và nung đến nhiêt độ thích hợp thì xảy ra phản ứng cháy nổ. Sau
khi nung thu được vật liệu ở dạng bột.
Phương pháp phản ứng nổ là một phương pháp khá linh hoạt, nó cho phép
điều khiển kích thước hạt bằng cách thay đổi các điều kiện phản ứng. Sản phẩm
thu được có độ đồng nhất cao, giá thành thấp, thiết bị dùng cho việc tổng hợp
đơn giản, có thể tổng hợp vật liệu với quy mô lớn.
Từ các đề cập nêu trên cho thấy: phương pháp trạng thái rắn truyền thống có ưu
điểm công nghệ đơn giản, tuy nhiên các hạt phát quang tổng hợp ở nhiệt độ cao
thường lớn, cần phải nghiền thành bột mịn. Hiệu quả phát quang giảm đáng kể
trong quá trình nghiền và hình thái học của hạt thay đổi. Phương pháp đồng kết
tủa cho phép tổng hợp các chất phát quang ở nhiệt độ thấp hơn với cỡ hạt nhỏ và
đồng nhất hơn. Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này khó tạo ra được các
chất phát quang có thành phần theo tỉ lệ mong muốn do thường có sự chênh lệch
về tích số tan của các cấu tử nguyên liệu khi tạo kết tủa. Phương pháp sol gel tỏ
ra có hiệu quả trong việc điều chế các hạt nano phát quang, tuy nhiên phương
pháp này khá tốn kém do thường sử dụng các alkoxit kim loại hay các tác nhân
tạo phức. Với những ưu điểm của phương pháp phản ứng nổ so với các phương
20
pháp đã nêu do vậy trong đề tài này chúng tôi chọn phương pháp phản ứng nổ để
tổng hợp vật liệu.
CHƯƠNG II: THỰC NGHIỆM
2.1. Tổng hợp vật liệu
Chúng tôi đã xây dựng được quy trình tổng hợp vật liệu theo sơ đồ sau.
Nung ở các nhiệt độ khác nhau
Cô cạn
Cô cạn
tan hết. Cô cạn dung dịch để thu được Y(NO3)3. Sau đó, Y(NO3)3 được hòa tan
bằng nước cất tạo thành dung dịch trong suốt. Dung dịch Y(NO 3)3 được lọc,
chuyển vào bình định mức và định mức đến 250 ml.
Pha dung dịch Ho(NO3)3 0,01M: Cân 0,1889 g Ho2O3 bằng cân phân tích và
cho vào cốc thủy tinh 100 ml. Ho2O3 được thấm nước cất cho ướt đều, sau đó
thêm tiếp vào cốc 2,5 ml dung dịch HNO 3 2 M, để khoảng 2 giờ để Ho 2O3 tan
hết. Cô cạn dung dịch để thu được Ho(NO3)3. Sau đó, Ho(NO3)3 được hòa tan
bằng nước cất tạo thành dung dịch trong suốt. Dung dịch Ho(NO 3)3 được lọc,
chuyển vào bình định mức và định mức đến 100 ml.
Pha dung dịch Sm(NO3)3 0,005M: Cân 0,0871 g Sm2O3 bằng cân phân tích
và cho vào cốc thủy tinh 100 ml. Sm2O3 được thấm nước cất cho ướt đều, sau đó
thêm tiếp vào cốc 1,25 ml dung dịch HNO 3 2 M, để khoảng 2 giờ để Sm2O3 tan
hết. Cô cạn dung dịch để thu được Sm(NO3)3. Sau đó, Sm(NO3)3được hòa tan
bằng nước cất tạo thành dung dịch. Dung dịch Sm(NO 3)3 được lọc, chuyển vào
bình định mức và định mức đến 100 ml.
Pha dung dịch Bi(NO3)3 0,02M: Cân 0,4659 gam Bi2O3 bằng cân phân tích
và cho vào cốc thủy tinh 100 ml. Bi 2O3 được thấm nước cất cho ướt đều, sau đó
thêm tiếp vào cốc 1,25 ml dung dịch HNO 3 2 M, để khoảng 2 giờ để Sm2O3 tan
hết. Cô cạn dung dịch để thu được Bi(NO 3)3. Sau đó, Bi(NO3)3được hòa tan
bằng nước cất tạo thành dung dịch. Dung dịch Bi(NO 3)3 được lọc, chuyển vào
bình định mức và định mức đến 100 ml.
Pha dung dịch Eu(NO3)3 0,02M: Cân 0,3519 gam Eu2O3 bằng cân phân tích
và cho vào cốc thủy tinh 100 ml. Eu 2O3 được thấm nước cất cho ướt đều, sau đó
thêm tiếp vào cốc 1,25 ml dung dịch HNO3 2 M, để khoảng 2 giờ để Eu2O3 tan
hết. Cô cạn dung dịch để thu được Eu(NO3)3. Sau đó, Eu(NO3)3 được hòa tan
23
Thể tích dung dịch
Ho(NO3)3 0,01M
0,1
0,5
2,0
12,35 12,25
1,0
2,0
3,0
12,15
3,0
5,0
10,0
11,87 11,25
5,0
10,0
2.1.4. Tổng hợp vật liệu Y2O3:2 % Ho3+ biến đổi nhiệt độ
Vật liệu Y2O3 :2 % Ho3+ được chế tạo bằng phương pháp phản ứng nổ ( theo
Y2O3:2% Ho3+
650
1
Y2O3:2% Ho3+
700
1
Y2O3:2% Ho3+
750
1
Y2O3:2% Ho3+
800
1
Y2O3:2% Ho3+
850
1