So sánh sự khác nhau giữa triết học phương đông và triết học phương tây thời cổ đại - Pdf 34

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ thứ XIII – VI trước công nguyên do
kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và chân tây và do tư duy nhân
loại đã phát triển ở trình độ cao – trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu
tượng hoá. Sự ra đời của triết học gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh
cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ ở phương Đông, Hy Lạp ở phương Tây. Đây
được coi là nhũng cái nôi của triết học nhân loại. Nhìn chung, dù ở phương
Đông hay phương Tây, triết học cổ đại đều được coi là đỉnh cao của trí tuệ, là
sự hiểu biết, sự nhận thức chung của con người về thế giới.
Đại diện tiêu biểu cho triết học phương Đông cổ đại là triết học Trung
Quốc và Ấn Độ cổ đại. Đây đồng thời là chiếc nôi cho sự phát triển triết học ở
cả phương Đông và phương Tây. Trong quá trình đi sâu giải quyết vấn đề cơ
bản của triết học, triết học phương Đông đặt trọng tâm nghiên cứu những vấn
đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, vấn đề con người và xây dựng con
người, xây dựng một xã hội lý tưởng và con đường trị quốc.
Bên cạnh đó, ở phương Tây thời cổ đại với nền triết học Hy Lạp cổ đại
từ khi ra đời đã đạt những thành tựu rực rỡ và sau này được các triết gia đánh
giá rất cao Ăngghen đã nhận xét: “Từ các hình thức muôn vẻ của triết học Hy
Lạp, đã có mầm mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau
này” (C.Mac và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQGHN, 1994, tập 20, tr491).
Triết học Hy Lạp cổ đại chủ yếu bàn về các vấn đề bản thể luận, nhận thức
luận, đề cao con người và coi con người là chủ thể, chinh phục tự nhiên và
làm chủ tự nhiên.
Như vậy, có thể thấy triết học phương Đông và phương Tây cổ đại đều
mang những nét chung nhất định của triết học thời cổ đại. Nhưng bên cạnh

Tiểu luận triết học


nhân loại, đồng thời chỉ ra được mặt tích cực, hạn chế, một quan hệ giữa triết
học phương Đông và phương Tây, đánh giá thoả đáng vị trí của chúng trong

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


3

lịch sử triết học. Qua đó, hình thành cho ta phương pháp luận và nhận thức
đúng đắn khi nghiên cứu về lịch sử triết học. Do vậy, đây cũng chính là vấn
đề được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu vấn đề này một cách sâu sắc và toàn diện, em đã sử
dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh dựa trên lập trường
của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học
Mác – Lênin.
5. Kết cấu tiểu luận:
Trong khuôn khổ của một bài tiểu luân, với mục đích khái quát nhất
vấn đề thấy rỗ được điểm khác biệt giữa triết học phương Đông và phương
Tây cổ đại, ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của tiểu luận được
em trình bày theo hai ý chính như sau:
1. Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây.
2. Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và phương Tây
thời cổ đại.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


5

lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Vấn đề cơ bản của
triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi giữa tư duy với tồn tại, giữa ý
thức với vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có
sau; và cái nào có vai trò quyết định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu
hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trong lịch sử
triết học, có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm trí đối lập nhau khi giải
quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt lập
trường tư tưởng của các nhà triết học, hình thành nên các trường phái triết học
khác nhau. Đi sâu giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học
phương Đông và phương Tây thời cổ đại có nhiều quan điểm không giống
nhau. Điều này đã một phần tạo nên sự khác biệt giữa triết học phương Đông
và phương Tây nói chung và thời cổ đại nói riêng.
Dù lịch sử triết học là quá trình hình thành, biến đổi, tác động và ảnh
hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học nhưng nó có tính quy
luật. Sự hình thành và phát triển triết học có những đặc điểm chung như sau:
Thứ nhất, tư tưởng triết học là một hình thái ý thức xã hội được hình
thành và phát triển trên cơ sở kinh tế - xã hội trong một giai đoạn lịch sử xã
hội nhất định là sự phản ánh của tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại
xã hội. Như vậy, sự phát triển của lịch sử triết học gắn liền với điều kiện tự
nhiên, kinh tế - xã hội, gắn với sự biến đổi, thay thế nhau giữa các chế độ xã
hội… Điều này hình thành nên tính giai cấp trong triết học. Từ đó, tạo nên sự
khác nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học, giữa triết học phương Đông và

quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phương Đông và
triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


7

Chương 2:
NHỮNG ĐIỂM KHÁC NHAU GIỮA TRIẾT HỌC PHƯƠNG ĐÔNG
VÀ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY THỜI CỔ ĐẠI
2.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế- xã hội của phương Đông và
phương Tây thời cổ đại.
Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu
sự chi phối của tồn tại xã hội. Sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã
hội và văn hoá của phương Đông và phương Tây chính la cơ sở qui định sự
khác biệt giữa triết học phương Đông và triết học phương Đông và phương
Tây.
2.1.1. Về điều kiện tự nhiên.
Phương Đông là một vùng đất rộng lớn, có điều kiện tự nhiên hết sức
đa dạng và phong phú. Địa hình với nhiều dãy núi, cao nguyên đồ sộ và
những đồng bằng ruộng lớn khí hậu giữa các vùng miền rất khác nhau, nhưng
đặc điểm chung là nóng ấm với nhiệt độ cao, số giờ nắng lớn và lượng mưa
dồi dào. Đây cũng là khu vực chảy qua của rất nhiều các dòng sông lớn như
Trưởng Giang, Hoàng Hà, Ấn, Hằng,… đã bồi đắp nên những đồng bằng
châu thổ hết sức màu mỡ. Trong khi đó phương Tây là vùng đất giáp biển,
bao gồm nhiều bán đảo, đảo và quần đảo. Khí hậu có sự phân mùa ro rệt, có
một mùa đông lạnh giá có băng tuyết rơi. Đồng bằng khá rộng lớn nhưng chủ

đang trong giia đoạn đòi hỏi giải thể chế độ nô lệ gia trưởng chuyển sang xã
hội phong kiến. Trong tình hình đó, một loạt học thuyết chính trị - xã hội và
triết học đã xuất hiện và hầu hết giải quyết những vấn đề thực tiễn chính trị xã
hội. Điêu này trở thành nét đặc trưng chủ yếu của triết học Trung Quốc cổ
đại. Vì vậy, triết học Trung Quốc cổ đại còn có tên gọi khác là triết học chính
trị. Mặt khác, nét nổi bật trong văn hoá phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, là
thường mang dấu ấn sâu đậm về mặt tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh và có các
yếu tố thần bí. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại thường được thể hiện dưới hình
thứuc tôn giáo và những tư tưởng tôn giáo cũng chứa đựng trong triết học.
Triết học quan tâm nhiều đến vấn đề tâm linh va giải thoát con người trong
lĩnh vực, tinh thần, tư tưởng. Vì vậy, triết học Ấn Độ cổ đại được coi là triết
học tôn giáo.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


9

Còn Thống trị ở phương Tây cổ đại là phương thức sản xuất chiến hữu
nô lệ cao hơn, đầy đủ hơn phương Đông. Đây là giai đoạn có sự phân chia hết
sức sạch ròi giữa lao động trí óc và lao động chân tay trong xã hội. Nhu cầu
thực tiễn của nền kinh tế chủ nô, nhất là nhu cầu phát triển thương mại và
hàng hải đã quyết định sự phát triển những tri thức về thiên văn, khí tượng,
toán học, vật lí học. Những tri thức này ở trạng thái sơ khai được trình bày
trong hệ thống triết học tư nhiên của các nhà triết học cổ đại phương Tây. Các
nhà triết học đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa học lúc đó chưa
phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí học, thiên văn học,
… Triết học phương Tây cổ đại ngay từ khi ra đời đã gắn với khoa học tự

nguyên thế giới, vấn đề chính trị - xã hội và đạo đức,… Tuy nhiên, mỗi một
nền triết học lại quan tâm đến một vấn đề nổi trội nào đó.
Ở phương Đông cổ đại, đối tượng của triết học chủ yếu là những vấn đề
chính trị, đạo đức, xã hội và tôn giáo. Trong đó, lấy xã hội, cá nhân làm gốc là
tâm điểm để nhìn xung quanh. Do vậy, xu hướng là hướng nội, lấy trong để
giải thích ngoài, hay còn gọi là đi từ ngọn xuống gốc, từ nhân sinh quan, vấn
đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận.
Chính vì vậy, các hệ thống triết học Trung Quốc cổ đại thường được
thể hiện dưới dạng các học thuyết chính trị - xã hội. Mặc dù các triết gia Trun
Quốc cổ đại cũng có những lí giải khá sâu sắc về những vấn đề bản thể luận
như: quan diểm về “đạo” của Lão Tử, học thuyết Âm Duowng, ngũ hành…
Trong quan niệm của Lão Tử, đạo hiểu như là bản quyền của thế giới, là cội
nguồn sinh ra vũ trụ trời đất vạn vật. Đó là lực lượng vật chất vô cùng rộng
lớn, vận động không ngừng. Từ đó mà sinh ra trời đất, con người, vạn vật. Và
vạn vật luôn ở trong quá trình sinh thành, biến đổi và tiêu vòng. Theo học
thuyết Âm – Dương thì hai thế lực Âm và Dương là khởi nguyên của mọi
hình thành, biến hoá vạn vật trong vũ trụ. Âm – Dương vừa đối lập vừa gắn
kết và luôn vận động không ngừng, dẫn đến sự sự biến đổi tàn lụi, tiêu vong,
sinh trưởng,… của vạn vật. Hay học thuyết ngũ hành thì cho rằng: Kim, Mộc,
Thuỷ, Hoả, Thổ là năm yếu tố vật chất mang tính khởi nguyên của thế giới va
luôn ở trạng thái động… Các lí giải này đều phản ánh thế giới quan duy vật tự

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


11

phát và tính biến chứng sơ khai về thế giới. Nhưng mối quan tâm chủ yếu của



12

Thuyết pháp trị chủ trương lấy pháp luật làm căn bản trong việc cai trị.
Những người theo học thuyết này cho rằng, bản tính con người là yếu kém, dễ
sai lầm nên phải dựa vào pháp luật. Khác với thuyết nhân trị, pháp trị chủ
trương nhà cầm quyền không phải chú trọng nhiều đến việc tu thân mà cốt là
đặt ra luật pháp cho rõ ràng và ban bố cho mọi người cũng biết để tuân theo
nghiêm chỉnh.
Cùng xác định đối tượng chủ yếu là những vấn đề chính trị, đạo đức,
xã hội và tôn giáo, triết học Ấn Độ cổ đại đã tập trung vào lí giải vấn đề
then chốt nhất, cơ bản nhất, là bản chất, ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc
nỗi khổ của con người và con đường cách thức giải thoát cho con người
khỏi bề khổ cuộc đời. Để đạt tới giải thoát, con người phải dày công tu
luyện hành động đạo đức theo giới luật, tu luyện trí tuệ, trực giác thực
nghiệm tâm linh, chiêm nghiệm nội tâm lâu dài. Đạt tới sự giải thoát, vượt
ra khỏi sự ràng buộc của thế tục, hoàn toàn tự do, tự tại.
Khác với tư tưởng triết học ở phương Đông cổ đại, vấn đề bản nguyên
thế giới luôn chiếm một vị trí quan trọng trong các hệ thống triết học phương
Tây từ trước tới nay, đặc biệt là triết học Hy Lạp cổ đại. Ngay từ khi mới ra
đời, triết học Hy Lạp cổ đại đã rất quan tâm đến việc đi sâu giải quyết những
vấn đề bản thể luận (giải thích nguồn gốc, ban chất, cấu trúc của thế giới) và
nhận thức luận triết học (khả năng nhận thức thế giới của con người), đồng
thời có những điểm khác với các nền triết học khác cùng thời.
Quan điểm về bản nguyên đầu tiên là cái đơn nhất được hình thành ở
trường phái Milê. Các đại biểu của trường phái này đều coi bản nguyên của
thế giới là một cái đơn nhất: nước (Talét), không khí (Anaximen), Qpeirôn
(Anaxinmanđrơ). Cơ sở đều hình thành quan điểm của họ là sựt thống nhất
vật chất. Khởi nguyên đầu tiên đó được xem xét dưới dạng một cái đơn nhất

xung quanh. Vì vậy, nếu như triết học Ấn Độ cổ đại luôn lí giải và thực hành
những vấn đề nhân sinh quan ấy dưới góc độ tâm lính tôn giáo nhằm đạt tới
sự giải thoát thì triết học Trung Quốc cổ đại lại giải đáp những vấn đề thực
tiễn xã hội đặt ra bằng các học thuyết chính trị - xã hội. Việc quá tập trung
chú ý đến những vấn đề giải thoát, đạo làm người mà ít chú ý đến những vấn
đề triết học tự nhiên đã là nguyên nhân dẫn đến sự kém phát triển về nhận

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


14

thức luận và sự lạc hậu về khoa học thực chứng của người phương Đông cổ
đại.
Trong khi đó, đối tượng của triết học phương Tây cổ đại rất rộng lớn,
bao gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy, mà gốc là tự nhiên. Việc các nhà
triết học Hy Lạp cổ đại có xu hướng đi sâu giải quyết những vấn đề bản thể
luận và nhận thức luận được lí giải bởi sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự
nhiên. Các nhà triết học cũng đồng thời là những nhà khoa học tự nhiên. Khoa
học lúc đó chưa phân ngành, nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lí
học, thiên văn học,… khác với các nhà triết học phương Đông cổ đại thường
là chính trị, nhà giáo dục,.. Sự gắn liền triết học với khoa học tự nhiên của
triết học Hy Lạp cổ đại chính là nguồn gốc sự khác biệt trong đối tượng hai
nền triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại.
2.2.2. Qui mô
Ở phương Đông cổ đại, những tư tưởng triết học ít khi tồn tại dưới
dạng thuần tuý mà thường đan xen với các hình thái ý thức xã hội khác. Cái
này lấy cái kia làm chỗ dựa và điều kiện để tồn tại và phát triển cho nên ít có

Ở phương Đông cổ đại, trình độ tư duy trừu tượng của con người đã
được đánh giá khá cao so với thời đó, đặc biệt khi kí giải các vấn đề bản thể
luận nhận thức luận, lôgíc, về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, Tuy
nhiên, triết học phương Đông cổ đại thường đề cao tư duy trực giác, đẩy được
coi là phương thức tư duy đặc thù của người Trung Quốc trong một thời kỳ
lịch sử lâu dai. Theo nghĩa chữ Hán, trực là thẳng, giác là hiểu biết, trực giác
có nghĩa là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm, bản chất của sự vật,
hiện tượn. Mức độ thấp của trực giác gần với giác quan thứ sáu, ví như lần
đầu tiên gặp một người nào đó, chúng ta thường có những linh tinh cảm nhận
đầu tiên. Như vậy, trực giác đạt đến cái mà tư duy lý tính, phân tích, mổ xẻ
không bao giờ đạt. Nó là phương thức tư duy phù hợp với đối tượng vận
động. Trong triết học phương Đông cổ đại, hầu hết các nhà tư tưởng (đặc biệt
là các nhà tư tưởng Trung Quốc) đều sử dụng phương thức tư duy trực giác để
tìm ra chân lí về thế giới, vạn vật và về con người, cuộc đời. Phương thức tư
duy này đặc biệt coi trọng chữ “tâm”, coi “tâm” là gốc rễ của nhân thức, lấy

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


16

“tâm” để bao quát sự vật. Điều này được biểu hiện trong tư tưởng về nhận
thức của Mặc Tử, Tuân Tử,…
Trong tư tưởng về nhận thức của Mặc Tử, ông coi trọng kinh nghiệm
cảm giác, để cao vai trò của nhận thức cảm giác trong quá trình nhận thức của
con người. Ông cho rằng phàm cái gì mà lỗ tai con mắt không cảm nhận thấy
là không có. Ông đưa ra học thuyết “Tam biểu” nổi tiếng. Trong đó, ông chủ
trương lời nói muốn chính xác tất phải có ba biểu: Có cái gốc của nó, có cái

nét trong các học thuyết của trường phái Êlê và Đêmôcrít.
Trong trường phái Êlê, các nhà triết học cho rằng, việc đối lập tư duy
duy lý về các sự vật với trực quan cảm tính của con người về chúng va các ý
kiến dựa vào tực quan là động cơ nghiên cứu của mình. “ Tri thức” chống lại
“ý kiến” giả dối - tức chân lý chống lại sai lầm cảm tính, đó là phản đề xuyên
suốt triết học Pacmênit và Dênôn. Pacmênit đề cao vai trò nhận thức lý tính,
ông coi trọng việc dùng kí trí để giải quyết các vấn đề khi thảo luận. Còn
Dênôn cho rằng, nếu dùng trực quan cảm tính dễ nhận thực sự vật thì sẽ
không hiểu được bản chất sự vật. Muốn vậy, phải có tư duy trừu tượng. Điều
đó cũng có nghĩa, ông phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính đề cao vai trò
của nhận thức lý tính.
Còn Đêmôcrít thì chia nhận thức ra hai loại nhận thức trong sáng (tư
duy lý luận) và nhận thức mò tối. Ông thừa nhận mối liên hệ qua lại, sâu sắc
giữa hiện thực và chân lý, giữa cảm giác và tư duy lý luận, giữa cảm tính và
lý tính. Theo ông, cảm tính không thể đạt tới nhận thức chân lý về hiện thực,
nhưng chúng ta nhận thức được sức mạnh xác thực từ cảm tính. Như vậy,
Đômêcrít đề cao nhận thức lí tính nhưng không coi thường nhận thức cảm
tính mà coi nó là tiềm đề cần thiết để nhận thức lí tính, là tài liệu để lí tính
nhận thức chân lí.
Như vậy, có thể thất rằng tư tưởng về nhận thức của các triết gia Hy
Lạp cổ đại có nhiều quan điểm tiến bộ. Một số triết gia đã thấy được quá trình
nhận thức của con người đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lí tính. Tuy
nhiên, hầu hết các triết gia Hy Lạp cổ đại đều đề cao vai trò của lí tính trong

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


18


Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


19

mình, các triết gia phương Đông cổ đại thiên về tư duy biện chứng là phần
lớn. Ngược lại, do ảnh hưởng của tự nhiên phát triển, đặc biệt là lĩnh vực cơ
học, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại thiên về tư duy siêu hình.
Ở phương Đông cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện rõ nhất
trong quan niệm của các triét gia về bản thể luận.
Trong triết học Trung Quốc cổ đại, tư tưởng biện chứng được thể hiện
rõ nhất ở phạm trù “biến dịch”. Biến dịch theo quan điểm chung của triết học
Trung Quốc cổ đại la trời đất, vạn vật luôn luôn vận động và biến đổi.
Nguyên nhân của sự vận động,biến đổi là do trời đất, vạn vật vuừa đồng nhất,
vừa mâu thuẫn với nhau: Trời và đất, nước và lửa, âm và dương, trời và
người, đạo và lý, thể chất và tinh thần, chân lý và sai lầm… Lão Tử cho rằng
“trong vạn vật không vật nào mà không cõng âm và bồng dương”. Vương An
Thạch trong học thuyết Bản thể nguyên khí của mình cho rằng mâu thuẫn nội,
ngoại của Ngũ hành là nguyên nhân cơ bản và vô cùng tận sự biến hoá của
vạn vật. Lão Tử cho rằng vũ trụ vận động và biến đổi theo hai qui luật: qui
luật bình quân và qui luật phản phục luật bình quân la luôn giữ cho sự vật
được thẳng bằng theo một trật tự điều hoà tự nhiên, không có cái gì thái quá,
bất cập. Qui luật phản phục là sự phát triển đến cực điểm thì chuyên quay trở
lại phương hướng cũ. Quan điểm về biến dịch của vũ trụ là phép biện chứng
tư phát về thế giới khách quan. Phép biện chứng nay còn nhiều hạn chế như:
đơn giản hoà sự phát triển, có biến hoa nhưng không phát triển, không xuất
hiện cái mới, biến hoá của vũ trụ có giới hạn, bí đóng khung trong hai cực.
Tư tưởng biện chứng cũng thể hiện rõ trong triết học Phật giáo nguyên
thuỷ - một trường phái triết học điển hình của triết học Ấn Độ cổ đại. Trong

Với chủ trương vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong
được thể hiện sâu sắc trong các học thuyết của Pacmêniit và Dênôn. Vấn đề
lớn trong triết học Pacmênit là quan hệ giữa tồn tại và hư vô, tồn tại và tư duy,
vận động và đứng im. Tư tưởng triết học của Pacmênit được thể hiện ở ba
luận điểm: coi vận động, biến đổi là hư ảo, bác bỏ khái niệm không gian rỗng
thuần tuý, coi tồn tại và tư duy đồng nhất với nhau vừa như quá trình, vừa như
kết quả. Tư duy là tư duy chỉ khi nào có vật thể và vật thể hiện hữu chĩ khi

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


21

nào ta tư duy được với tính cách nó có như một hiện thể đặc trưng, coi thế
giới không có sinh thành, xuất hiện và diệt vong. Còn Dênôn đã cụ thể hoá và
phát triển nguyên lý “vạn vật đồng nhất thể” và vạn vật bất biến bằng phương
pháp trưng dẫn chứng lý và nghịch lý.
Mặc dù vậy, một số triết gia Hy Lạp cổ đại có tư tưởng biến chứng khá
tiến bộ. Hêraclit coi bản quyền thế giới la lửa và khẳng định bản tính thế giới
là mọi thức đều trôi qua. Tính đặc thù của tư tưởng này chính là ông thừa
nhận sự thống nhất mâu thuẫn của vận động và đứng im sinh thành và hiện
hữu. Đóng góp cơ bản của Hêraclit trong lịch sử phép biện chứng là cách
trình bày đầu tiên về quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Tư
tưởng về phép biện chứng sau đó tiếp tục được xôcrat va Platon phát triển.
CMác và Ăngghen đều cho rằng những nhà triết học Hy Lạp cổ đại là những
nhà biện chứng tư phát bẩm sinh. Do khoa học thực nghiệm chưa phát triển,
chỉ dựa vào quan sát để tư duy nên phép biện chứng ở giai đoạn nay là phép
biện chứng khách quan tự phát.

phương Tây thời cổ đại lại muốn con người chinh phục tự nhiên, làm chủ giới
tự nhiên.
Triết học Trung Quốc cổ đại khi bàn đến vấn đề con người, cụ thể là
vấn đề nguồn góc con người, nhiều nhà triết học, tiêu biểu là Khổng Tử và
Mặc Tử đều cho rằng trời sinh ra con người và muôn vật. Khi bàn tới quan hệ
giữa trời với người, các triết gia cho rằng có mệnh trời và mệnh trời với
người, các triết gia cho rằng có mệnh trời và mệnh trời chi phối cuộc sống xã
hội, cuộc đời của mỗi con người. Sau đó Đổng Trọng Thư nêu lên thuyết
“thiên nhân cảm ứng”, cho răng trời và người thông cảm với nhau, trời là gốc
của con người, họ coi trời đất là một, do đó đưa ra chủ trương “thiên nhân hợp
nhất”. Tuy nhiên trong quan hệ với trời, con người phải theo trời, con người
lấy phép tắc của trời làm mẫu mực, người đời ăn ở phải hợp với đạo trời, Lão
Lưu khuyên con người sống và hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không
can thiệp, không làm gì trái với bản tính tự nhiên.
Triết học Ấn Độ cổ đại khi bàn về vấn đề con người thể hiện rõ nhất
trong tư tưởng giải thoát con người của triết học Phật giáo. Phật giáo cho

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


23

rằng, đời người là bể khổ và đưa ra thuyết tư diệu đế bao gồm: khố đế, nhân
đế, diệt đế và đạo đế Phật giáo đã lí giải những nỗi khổ của con người, giải
thích nguyên nhân của nỗi khổ ấy và chỉ ra con đường, biện pháp để tu luyện,
tiêu diệt nỗi khổ và đạt tới cõi Niết bàn.
Khác với quan điểm về con người trong triết học phương Đông cổ đại,
triết học phương Tây cổ đại luôn coi người là trung tâm của giới tự nhiên.

con người, chỉ nghiên cứu mặt đạo đức thiện hay ác theo lập trường của giai
cấp thống trị cho nên không thấy quan hệ giữa người với người trong lao
động sản xuất. Trong khi ở phương Tây cổ đại, lại ít quan tâm đến mặt xã hội,
đề cao cái tự nhiên - mặt sinh vật của con người, chú ý giải phóng con người
về mặt nhận thức.
Nguồn gốc của sự khác biệt này chính là do sự khác biệt về điều kiện
kinh tế - xã hội chi phối ở phương Đồng cổ đại, sản xuất nông nghiệp la chủ
yếu nên con người sống hoà đồng với thiên nhiên; khác với sự phát triển
mạnh mẽ của công nghiệp, thương nghiệp và khoa học tự nhiên ở phương Tây
cổ đại đã tạo thuận lợi cho con người chinh phục tự nhiên, có tâm lí muốn làm
chủ tự nhiên.
2.6. Sự phân chia trường phái triết học và tiến trình phát triển.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật là vấn đề
xuyên suốt trong lịch sử triết học ngay từ khi mới ra đời. Ở mỗi giai đoạn,
mổi lên triết học, cuộc đấu tranh đó lại biểu hiện dưới những hình thức khác
nhau.
Ở phương Đông cổ đại, do xuất phát từ tư duy “hướng nội” và các học
thuyết triết học thường thể hiện dưới các học thuyết chính trị - xã hội hay
dưới hình thức triết học – tôn giáo, nên cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm biểu hiện không rõ. Tư tưởng của các nhà triết học cũng
không thể hiện rõ là đứng trên lập trường duy vật hay duy tâm. Ngược lại, ở
phương Tây cổ đại, các nhà triết học Hy Lạp cổ đại lại trình bày rất rõ ràng
quan điểm trên lập trường duy tâm. Chính vì vậy, cuộc đấy tranh giữa chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm thể hiện một cách rất rõ ràng. Căn cứ vào
quan điểm của họ có thể xếp họ vào trường phái duy vật hay duy tâm.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2


Tiểu luận triết học

Nguyễn Thị Ngà – Toán giải tích K16Đ2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status