Lý luận về kinh tế tri thức và vấn đề phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay - Pdf 34

1

MC LC
Mở U ....5
Nội dung....8
chơng 1. chủ nghĩa mác và nền kinh tế tri thức
1.1. Kinh t tri thc - lc lng sn xut tinh thn trong lớ lun v lc lng
sn xut ....................................................................................................8
1.2. Kinh t tri thc tớnh n nay l ngnh sn xut tip theo cỏc ngnh sn
xut th nht, th hai, th ba ó ln lt ra i........................................ 8
1.3. Kinh t tri thc tr thnh ngnh sn xut quan trng nht, cú v trớ ch
o trong nn kinh t xó hi ngy nay ......................................................9
1.4. Tri thc l yu t sn xut mi ngoi rung, t, lao ng v t
bn.............................................................................................................9
1.5. Kinh t tri thc vi

khoa hc k thut l lc lng sn xut th

nht............................................................................................................9
Chơng 2. C S L LUN V KINH T TRI THC.
2.1. Kinh t tri thc l giai on mi ca s phỏt trin lc lng sn xut xó
hi............................................................................................................11
2.2. Kinh t tri thc l giai on mi ca kinh t th trng .........................12
2.3. Hỡnh thỏi kinh t xó hi v kinh t tri thc ..............................................12
2.4. Kinh t tri thc v trin vng v mt xó hi mi: Xó hi giu cú cụng
bng, dõn ch v vn minh......................................................................13


2

ch¬ng 3. THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở NƯỚC

Hà Nội, tháng 1 năm 2013
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Nghĩa

LỜI CAM ĐOAN


4

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong tiểu luận này là
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng
mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện tiểu luận này đã được cảm ơn và các thông
tin trích dẫn trong tiểu luận này đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 1 năm 2013
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Nghĩa

PHẦN MỞ ĐẦU


5

1. Lí do chọn đề tài
Học thuyết Mác Lê Nin đã chỉ ra rằng Xã hội loài người dù trải qua
những bước phát triển quanh co, khúc khuỷu như thế nào cuối cùng rồi sẽ dần
chuyển hoá từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội cao
hơn. Đó là xu thế phát triển khách quan của lịch sử “Quy luật về sự phù hợp
quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật

học.
§ã có nhiều công trình nghiên cứu quản lý “Vai trß cña lý luËn trong
nÒn kinh tÕ tri thøc” dưới nhiều góc độ khác nhau,… song việc tiếp tục
nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra là một quá
trình lâu dài.
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1 Mục đích
- Phân tích làm rõ khái niệm kinh tÕ tri thøc, những yếu tố trong nÒn
kinh tÕ tri thøc vµ vai trß cña lý luËn trong nÒn kinh tÕ tri thøc.
- Nêu lên những phương hướng, giải pháp để phát triển nÒn kinh tÕ tri
thøc ë níc ta hiÖn nay.
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích thực trạng nÒn kinh tÕ tri thøc ở Việt Nam. Từ đó, đề ra
những phương hướng, giải pháp để phát triển nÒn kinh tÕ tri thøc ë níc ta hiÖn
nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở vận dụng lý luận và phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện của Đảng Cộng
Sản Việt Nam kế thừa các tác phẩm, các công trình nghiên cứu trong và ngoài
nước.


7

Tỏc gi s dng tng hp cỏc phng phỏp: Phng phỏp phõn tớch,
phng phỏp tng hp, phng phỏp lụgic v lch s, phng phỏp tip cn
h thng nghiờn cu v trỡnh by.
5. Kt cu ca ti
Ngoi phn m u, mc lc, ti gm 3 chng:
chơng 1. chủ nghĩa mác và nền kinh tế tri thức

th nht, th hai v bao gm cỏc loi dch v i sng v tiờu dựng ca nhõn
dõn. S phõn loi ngnh sn xuõt th nht, th hai, th ba ng thi phn ỏnh
xu th lch s tc cỏi sau hn cỏi trc. Ngnh sn xut sau cú nhp cao
hn ngnh trc. Trong ngnh th ba nhip tng trng ca khoa hc v


9

giáo dục là hết sức nhanh, nên ta có thể tách khoa học giáo dục từ ngành sản
xuất thứ ba thành ngành sản xuất thứ tư - đó là nền kinh tế tri thức. Xét theo
nhận thức bây giờ thì tri thức không những có vai trò sáng tạo, truyền bá mà
còn có vai trò truyền thông, sử dụng vì vậy lấy ngành sản xuất dựa trên cơ sở
tri thức làm ngành sản xuất thứ tư là một đỉều xác đáng. Tuy nhiên nói một
cách tương đối với các ngành sản xuất vật chất thì đương nhiên ngành sản
xuất tri thức là ngành dịch vụ, nhưng đó là ngành phục vụ cấp cao, mang đặc
trưng hình thái hoạt động tinh thần và là một ngành sản xuất phát triển với
nhịp độ nhanh nhất trong nền kinh tế hiện nay.
1.3. Kinh tế tri thức trở thành ngành sản xuất quan trọng nhất, có vị trí
chủ đạo trong nền kinh tế xã hội ngày nay
Một nguyên nhân trực tiếp khiến kinh tế tri thức phát triển nhanh là do
lực lượng sản xuất tăng mạnh mẽ cần có sự phát triển mạnh mẽ, lực lượng sản
xuất tinh thần. Lực lượng sản xuất thời đại nay phát triển trong giai đoạn phát
triển mới, trong chế tạo sản phẩm sử dụng lớn khí cụ cảm ứng, máy móc điều
khiển tự động cùng phần mềm. Việc thao tác bằng máy móc đảm bảo chất
lượng sản phẩm, tiết kiệm nhiều sức lao động cho con người
1.4. Tri thức là yếu tố sản xuất mới ngoài ruộng, đất, lao động và tư bản
Mác từng nói: “Các nhà tư bản có thể không tốn một đồng nào mà lợi
dụng được sức mạnh của khoa học”. Trong một chế độ hợp lí vựơt lên sự chia
rẽ về lợi ích thì yếu tố tinh thần sẽ được liệt kê là một trong yéu tố sản xuất và
sẽ tìm được vị trí của nó trong các hạng mục tri phí sản xuất của chính trị kinh

Giai đoạn ba, lực lượng sản xuất xã hội dựa lao động trí lực, hình thành
kinh tế thị trường dựa trên tri thức. Trong tất cả nguồn lực kinh tế, nguồn lực
trí tuệ trở nên chủ yếu.
Sự phát triển lực lượng sản xuất xã hội trong giai đoạn kinh tế tri thức
có những đặc điểm nổi bật:
Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Lao động trí lực là lực lượng chủ yếu của nền sản xuất xã hội. Nét nổi
bật của lao động này là tính sáng tạo, khác với lao động máy móc của giai
đoạn trước.
Sự kết hợp khoa học, tư nhiên công nghệ với khoa học xã hội nhân văn
ngày càng mang tính chất nội sinh. Đặc điểm này thể hiện sự ưu việt kinh tế
như: Khả năng phát triển bền vững đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế với
tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Đặc điểm này mở ra khả năng đổi mới
quan hệ người với người, con người với tự nhiên khi có quan hệ sản xuất phù
hợp.


12

2.2. Kinh tế tri thức là giai đoạn mới của kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa trên xã hội hoá lao động và sản
xuất. Do đó nó là nền kinh tế mở về sản xuất và trao đổi, nhu cầu và khả năng
thoả mãn nhu cầu. Do đó nó tạo ra những hình thức, tổ chức kinh tế xã hội và
chính trị phù hợp trình độ phát triển khoa học kĩ thuật và kinh tế. Trong lịch
sử kinh tế, giai đoạn đầu là kinh tế thị trường dựa công nghiệp cơ khí, giai
đoạn cao hơn hiện nay kinh tế dựa trên tri thức làm cơ cấu kinh tế biến đổi
sâu sắc, gồm các ngành chủ yếu: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghiệp năng lượng mới và năng lượng tái sinh, công nghệ vật liệu, khoa
học kĩ thuật không gian, khoa học kĩ thuật hải dương, khoa học kĩ thuật quản
lí…

- Quá trình tế tri thức hoá có khả năng đem lai giàu có mức sống đủ cho
mọi người.
- Quá trình tri thức hoá làm xã hội biến đổi cơ cấu xã hội dân cư đòi hỏi
sự công bằng về kinh tế, tạo điều kiện vật chất thực hiện công bằng xã hội.
- Quá trình tri thức hoá xã hội hình thành khả năng tạo văn minh mới
mang tính nhân văn giữa quan hệ người với người
- Nền kinh tế tri thức tạo nền tảng cho nền dân chủ mới: “ Sự phát triển
tự do toàn diện mỗi người là điều kiện sự phát triển mọi người”. Những khả
năng tiềm tàng kinh tế tri thức nói trên tạo triển vọng phát triển xã hội mới
trong quá trinh chuyển biến cách mạng từ kinh tế công nghiệp tư bản chủ
nghĩa sang kinh tế tri thức với hệ thống quan hệ sản xuất mới và hệ thống
chính trị phù hợp.


14

ch¬ng 3. THỰC TIẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
3.1. Sự cần thiết phát triển kinh tế tri thức ở nước ta
Cho tới nay nước ta là nước nông nghiệp chậm phát triển, trong những
bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội nền kinh tế vẫn còn lúng túng, cơ chế
quản lí tập trung kém hiệu quả nhưng nhiều nguồn lực, cơ chế thị trường mới
chớm nở, chịu nhiều hạn chế và tri thức là sự cần thiết, hiện đại và hữu ích tạo
của cải vật chất và sự giàu có trong quản lí quốc gia, kinh doanh và tạo khoa
học công nghệ. Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nghèo thông tin và tri thức
do đó cần phải phát triển kinh tế tri thức để hướng tới một xã hội phát triển
công bằng dân chủ và tiến bộ.
3.2. Thực trạng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Theo báo cáo phát triển công nghiệp năm 1999 của UNDP, GDP sức
mua ngang giá đầu người Việt Nam đứng thứ 133 trong tổng số 174 nước

trọng dọc đất nước trên cơ sở cáp quang SDH, các huyện trong toàn quốc
trang bị tổng đài điện tử, mạng điện thoại cơ bản số hoá.
- Internet chính thức hoạt động từ tháng 11 năm 1997 phát triển tương
đối nhanh, tới nay Việt Nam có số điểm truy cập Internet phủ kín toàn quốc
trên 200000(2002) thuê bao.Hiện nay Internet phát triển chậm hơn khu vực.
Lý do dịch vụ mới với quần chúng giá cước truy cập cao, thiếu cơ sở pháp lý
cho dịch vụ mạng, trình độ tiếng anh hạn chế, tốc độ truy cập đường truyền
chậm.
Loại hình viễn thông Đơn vị tính Th¸i Lan Trung Quốc
Điện thoại di động USD/Tháng
Điện thoại quốc tế USD/Tháng
Đường Internet trực
USD/Tháng
tiếp 64K

Trung bình

33,04
0,857

32,06
0,844

khu vực
35,67
0,875

1,879

1,248

- Tiếp tục thực hiện đẩy mạnh quá trình hoàn thiện thể chể của nền kinh
tế mở cửa, chấp nhận cạnh tranh quốc tế. Điều này nghĩa là chúng ta đẩy
mạnh vừa cải cách trong nứơc tích cực tiến hành hội nhập quốc tế, tham gia
toàn cầu hoá. Kinh tế tri thức đặt ra thách thức và nhiệm vụ đổi mới nhà nước,
khu vực doanh nghiệp cũng như mỗi người dân. Trong khu vực doanh nghiệp
có vai trò lớn trong hiện đại hoá kinh tế tri thức, nhà nước không nên và
không thể điều phối quá trình này theo hướng tập trung hoá.


17

- Mặc dù công nghệ thông tin có ý nghĩa then chốt với kinh tế tri thức,
đó là công cụ cho sự sản sinh, trao đổi và tiếp thu tri thức, song công nghệ
thông tin không phải là tri thức mà là công cụ chuyên trở tri thức, tăng cường
khả năng đóng góp cho tri thức phát triển. CNTT bao gồm máy tính, phần
mềm trưa trở thành và ít khả năng trở thành một nghành kinh tế chủ lực trong
thời kì dài hạn ở bất cứ nước nào. Hơn nữa Việt Nam là nước 70% dân số là
nông dân, sử dụng công cụ sản xuất cũ nên tri thức mới (tin học, sinh học, vật
liệu mới) tập trung đổi mới công nghệ. Do đó chính sách tập trung yêu tiên
phát triển khoa học công nghệ mới là thiếu khả thi, nên tránh quan niệm chủ
quan, duy ý trí tới tập trung đầu tư một cách phi hiệu quả vào công nghệ
thông tin.
- Tuy không có khả năng sớm tiến thẳng vào nền kinh tế tri thức nhưng
chúng ta co thể lợi dụng xu hướng phát triển dựa trên tri thức để thúc đẩy kinh
tế Viêt Nam tiến nhanh để làm được điều đó chúng ta phải lỗ lực tranh thủ và
tiếp thu thành tựu của xu hướng mới diễn ra trên thế giới bằng cách đẩy mạnh
quan hệ nước ngoài qua mậu dịch quốc tế, đầu tư trực tiếp nước ngoài, mua
giấy phép công nghệ, trao đổi chuyên gia, phổ biến nhanh thành tựu đó và
nhiều khía cạnh kinh tế xã hội càng tốt, tập trung tao tiền đề đảm bảo nắm
thành công cơ hội trong tương lai

đoàn, tổ chức nghề nghiệp, tự quản… để nhân dân tham gia vào quản lí xã
hội.
d. Đẩy mạnh mở cửa nền kinh tế và xã hội hội nhập với thế giới, tiếp
thu thành tựu khoa hoc kĩ thuật nhân loại, trao đổi thương mại thế giới, thu
hút FDI và mở cửa vững chắc cho nhà đầu tư nước ngoài
e. Củng cố và phát huy vai trò thông tin đại chúng.


19

3.3.2.2. Phát huy vai trò công đoàn
Xây dựng kết cấu hạ tầng + thông tin viễn thông hiện đại đảm bảo sử
dụng hiệu quả tri thức phục vụ phát triển.
Cần tạo môi trường xã hội cần thong tin tri thức và sử dụng công nghệ
thông tin tạo điều kiện cho doanh nghiệp tổ chức cá nhân sử dụng thông tin
như một tài nguyên quan trọng và cải thiện chất lượng cuộc sống, xây dựng
hệ thống lãnh đạo và quản lí đầu tư.
Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế, đặc biệt tin
học hoá nhanh và có hiệu quả dịch vụ tài chính ngân hàng, xây dựng và phát
triển thương mại và điện tử.
Hiện đại hoá mạng trong nước trên cơ sở công nghệ và thông tin tiên
tiến.
Xây dựng và phát triển công nghệ phần mềm tin học như một ngành
kinh tế kĩ thuật mũi nhọn có tính chiến lược.
Tạo và cung cấp dịch vụ viễn thông, phát triển hạ tầng viễn thông và
Internet về mạng lưới, dịch vụ…
3.3.2.3. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm xây dụng một xã hội có năng
lực hấp thụ và tạo tri thức phục vụ phát triển
Định hướng phát triển giáo dục và đào tạo gắn với nhu cầu về tri thức.
Điều đó có nghĩa Việt Nam phổ cập giáo dục cơ bản, tăng dạy nghề, chuẩn bị

giảng dạy, nghiên cứu và sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội.
Tăng cường hệ thống đổi mới quốc gia để sử dụng có hiệu quả tri thức
phục vụ phát triển:
Vai trò nhà nước.
- Đổi mới kinh tế, tạo lập khuôn khổ pháp lí thúc đẩy liên kết tổ chức,
các nhân tố thực hiện đổi mới.


21

- Xác định chức năng quản lí vĩ mô, tạo môi trường pháp lí thể chế để
việc lưu thông tri thức và công nghệ, cung cấp dịch vụ và hàng hoá công, đảm
bảo công bằng xã hội trong phúc lợi xã hội.
- Tạo động lực kích thích đổi mới qua cạnh tranh, hạn chế độc quyền
khuyến khích xuất khẩu tạo áp lực với doanh nghiệp đầu tư đổi mới công
nghệ.
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ và sở hữu công
nghiệp.
- Phát triển thị trường cho hoạt động khoa học và công nghệ, thực thi
chính sách hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ.
Đẩy mạnh nghiên cứu và liên kết trường đại học, viện và doanh nghiệp.
Xây dựng cơ chế phổ biến tri thức và công nghệ tới lĩnh vực sản xuất
và dịch vụ.
Đẩy mạnh chuyển giao tri thức công nghệ hiện đại thông qua nhiều
kênh khác nhau tăng cường cạnh tranh, hiện đại hoá kinh tế đất nước.


22

KẾT LUẬN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status