Hiệp định thương mại việt nam EU (EVFTA) những cơ hội và thách thức - Pdf 34

Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
------

TIỂU
LUẬN
Đề tài:
Hiệp định thương mại Việt Nam –EU (EVFTA):
Những cơ hội và thách thức
Nhóm thực hiện: Nhóm 8-CSTM.7
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Thu Hằng

Hà Nội, 18/03/2014

Nhóm 8.CSTM

Trang 1


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

MỤC LỤC

1.1.

Nhóm 8.CSTM

Trang 2


Nhóm 8.CSTM

Trang 3


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

kinh tế nên chúng em cũng rất quan tâm tới vấn đề thời sự này. Vì vậy, nhóm chúng
em đã quyết định lựa chọn chủ để:
“Hiệp định thương mại Việt Nam - EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức”
Mục tiêu chính của đề tài là nghiên cứu tác động, ảnh hưởng của hiệp định thương
mại tự EVFTA tới quan hệ thương mại hai nước, phân tích các cơ hội và thách thức đặt
ra đối với thương mại Việt Nam trong lộ trình thực hiện cam kết EVFTA, đồng thời
khuyến nghị một số giải pháp để khắc phục các khó khăn đó.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối quan hệ kinh tế Việt Nam-EU, nội dung và
lộ trình đàm phán hiệp định EVFTA, các tác động tích cực và tiêu cực do việc thực
hiện EVFTA đối với Việt Nam.
Để thực hiện đề tài, một số phương pháp nghiên cứu chính đã được sử dụng kết
hợp, đó là: phương pháp thu thập số liệu, tài liệu, phương pháp phân tích, so sánh và
tổng hợp…
Bài tiểu luận gồm 3 chương:
-

Chương I: Sơ lược về hợp tác Việt Nam - EU
Chương II: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU
Chương III: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Và chúng em xin đặc biệt cảm ơn cô Nguyễn Thu Hằng - giảng viên bộ môn
Chính sách thương mại quốc tế, đã tận tình giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận
này.
Hà Nội, ngày 2 tháng 3 năm 2014

Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc để lại một nền kinh tế kiệt quệ cho các
nước Tây Âu. Họ cần thấy sự cần thiết phải hợp tác chặt chẽ hơn nữa giữa các nước
trong khu vực với nhau để xây dựng và ngăn chặn chiến tranh đặc biệt chú trọng vào
phát triển kinh tế. Cũng vào thời điểm này bộ mặt nền kinh tế thế giới đã có những
thay đổi to lớn. Đó là do sự phát triển lực lượng sản xuất, sự phát triển vũ bão của cách
mạng khoa học kỹ thuật. Thêm vào đó, sau chiến tranh Mỹ đã thực sự trở thành siêu
cường về kinh tế và chính trị với ý đồ làm bá chủ thế giới. Do vậy, các nước Tây Âu
không thể không hợp tác phát triển kinh tế và thông qua việc tăng cường kinh tế giữa

Nhóm 8.CSTM

Trang 5


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

họ với nhau để thiết lập một tổ chức siêu quốc gia nhằm điều hành phối hợp hoạt động
kinh tế khu vực. Ý tưởng thống nhất châu Âu đã có từ lâu vào thời điểm này đã dần trở
thành hiện thực.
Sau hơn 60 năm hình thành và phát triển, EU được xây dựng từng bước với mức độ
liên kết giữa các thành viên ngày càng mở rộng và sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Cùng
với phát triển về chiều sâu, EU cũng trải qua nhiều đợt mở rộng, kết nạp nhiều thành
viên mới. Quá trình đó gắn liền với những mốc phát triển quan trọng.
1.4.

Tình hình nền kinh tế EU hiện nay

EU là một thực thể chính trị và kinh tế lớn và quan trọng hàng đầu thế giới. EU có
2/5 nước thành viên thường trực HĐBA LHQ, 4/7 nước công nghiệp hàng đầu thế giới
(nhóm G7) và 4/20 nước trong nhóm G20.

2.1. Trong quan hệ hợp tác kinh tế, hiện EU là một trong những đối tác thương
mại chiến lược của Việt Nam
EU hiện là đối tác thương mại rất lớn của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập
khẩu năm 2013 đạt 24,33 tỷ USD, tăng mạnh tới 19,8% và chiếm 18% tổng kim ngạch
xuất khẩu của cả nước.
Trong vòng 11 năm, từ năm 2000 đến năm 2011, kim ngạch thương mại Việt
Nam - EU đã tăng 5,9 lần, từ mức 4,1 tỷ USD lên 24,29 tỷ USD. Thương mại hai chiều
8 tháng đầu năm 2012 đạt trên 18 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước. Việt
Nam liên tục xuất siêu sang EU, đặc biệt trong 10 năm gần đây với mức xuất siêu trung
bình từ 3-5 tỷ USD, tương đương 50% kim ngạch xuất khẩu.

Nguồn: Tổng cục Hải quan
Bảng 1: Thống kê tổng kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại
hàng hóa giữa Việt Nam- EU giai đoạn 2005 -2012
Hiện nay, EU là khu vực thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là đối tác
lớn thứ tư (sau ASEAN, Trung Quốc và Hàn Quốc) cung cấp hàng hoá cho nước ta.

Nhóm 8.CSTM

Trang 7


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2012 của Việt Nam sang thị trường
EU đạt 20,3 tỷ USD, tăng 22,7% (tương ứng tăng 3,76 tỷ USD) so với một năm trước
đó và chiếm 17,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước ra thị trường thế giới. Đa số
các sản phẩm xuất khẩu sang EU có tỷ trọng khá cao trong tổng kim ngạch sản phẩm
đó của nước ta xuất sang tất cả các thị trường trên thế giới.
Dẫn đầu về đóng góp vào tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong

27,9

44,5

2

Giày dép

2.650

1,6

13,1

36,5

3

Dệt may

2.456

-4,5

12,1

16,3

4


5,6

18,6

7

Máy móc thiết bị dụng cụ &
653
phụ tùng

47,1

3,2

11,8

8

Gỗ & sản phẩm từ gỗ

654

7,2

3,2

14,0

9


16,4

6,9

St
t

Nhóm 8.CSTM

Trang 8


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Tổng cộng

20.303

22,7

100,0

17,7

Ghi chú: 1.Tốc độ tăng/giảm là tốc độ tăng/giảm nhóm hàng đó năm 2012 so với năm
2011
2. Tỷ trọng 1 là tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của từng mặt hàng trong tổng
kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU
3. Tỷ trọng 2 là tỷ trọng trị giá xuất khẩu nhóm hàng của Việt Nam sang EU
so với kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng đó của cả nước sang tất cả các thị trường.

USD)
(%)
1 (%)

Tỷ
trọng
2 (%)

1

Máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng

2.051

-15,2

23,3

12,8

2

Phương tiện vận tải & phụ tùng

1.260

133,0

14,3


334

2,7

3,8

13,7

6

Sữa & sản phẩm từ sữa

275

9,2

3,1

32,7

7

Thức ăn gia súc & nguyên liệu

245

29,3

2,8


202

-1,7

2,3

7,3

11

Hàng hóa khác

2.485

-6,4

28,3

3,4

8.791

13.5

100,0

7,7

St
t

không hoàn lại lớn nhất.
Năm 2008, EU có tổng vốn đầu tư FDI ra ngoài khối chiếm 47% FDI của toàn cầu.
Theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến nay EU tiếp tục là đối tác đầu tư
vào Việt Nam lớn thứ hai sau Nhật Bản, chiếm khoảng 7 tỷ USD trong tổng số vốn
FDI có tại Việt Nam.
Hiện EU là nhà tài trợ song phương lớn thứ hai về ODA và là nhà cung cấp viện trợ
không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam với tổng ODA cam kết trong giai đoạn 19962012 hơn 13 tỷ USD. Các khoản viện trợ của EU luôn đáp ứng các lĩnh vực ưu tiên của
ta như xóa đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và hội nhập quốc tế.
EU và các nước thành viên EU cũng hợp tác chặt chẽ với Việt Nam trong nhiều lĩnh
vực chuyên ngành thuộc các lĩnh vực ưu tiên của Việt Nam và EU có thế mạnh như hỗ
trợ thể chế, khoa học công nghệ, giáo dục, pháp luật, y tế, tài chính ngân hàng, nông
nghiệp, văn hóa, du lịch...
Tính đến hết tháng 8/2012, đã có 20 trong tổng số 27 nước EU đầu tư vào Việt Nam
với 1.226 dự án còn hiệu lực, tổng số vốn đăng ký khoảng 4,75 tỷ USD. Các dự án đầu
tư của châu Âu có hàm lượng và tỷ lệ chuyển giao công nghệ cao, phương pháp quản
lý tiên tiến, đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tăng nguồn thu
ngoại tệ của VN. Việt Nam có 33 dự án đầu tư sang 10 nước EU với tổng vốn đăng ký
đạt khoảng 107 triệu USD, đây là những bước đi ban đầu để các doanh nghiệp Việt
Nam thâm nhập thị trường EU.

Nhóm 8.CSTM

Trang 11


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Quan hệ thương mại Việt Nam – EU

3.


Trang 12


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Bảng 4: Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang EU từ năm 1990 đến năm 1995
( Đơn vị: triệu USD)
Năm

Kim ngạch xuất Kim ngạch xuất Tổng kim ngạch Trị giá
khẩu của Việt Nam khẩu của EU sang xuất, nhập khẩu
xuất siêu
sang EU
Việt Nam
Trị giá

Tăng %

Trị giá

Tăng %

153,6

Trị giá

Tăng %

Triệu


233,2

-15

461,1

19,2

-5,3

1993

216,1

5,2

419,5

79,9

635,6

37,8

-203,4

1994

383,8

3.2.

Giai đoạn 2000 – 2010

Cơ cấu kinh tế mang tính bổ sung cho nhau đã tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam
và EU tăng cường trao đổi thương mại ( EU có nền kinh tế phát triển cao, có ưu thế và
công nghệ, nhất là công nghệ cao và vốn trog khi Việt Nam có nền kinh tế kém phát
triển hơn, giàu tài nguyên, giá nhân công thấp). Có thể nói tiềm năng lớn trong quan hệ
kinh tế thương mại của Việt Nam và EU đã được khai thác tích cực trong giai đoạn
này. Kim ngạch buôn bán hai chiều mỗi năm tăng khoảng 15- 20%, đưa EU trở thành
một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Nếu từ năm 1990- 1995,
quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – EU đóng vai trò bù đắp khoảng trống về thị
trường của Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu thì đến giai đoạn này, trao đổi kinh
tế thương mại hai bên đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ, mang lại những lợi ích kinh
tế to lớn đối với Việt Nam.

Nhóm 8.CSTM

Trang 13


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Sự thống nhất của EU trong lĩnh vực thương mại đã biến Eu trở thành khối thương
mại lớn nhất thế giới và vai trò này của EU đã được thể hiện rõ rang trong quan hệ
kinh tế thương mại với Việt Nam, nhất là giai đoạn 2000- 2010. Ngoài các lợi ích kih
tế thực chất, quan hệ thương mại EU đã giúp Việt Nam tham gia vào thị trường thế
giới và tiến nhanh hơn con đường hội nhập quốc tế, làm quen và thích nghi với các luật
chơi mới của thị trường quốc tế. quan hệ kinh tế thương mại với EU cũng là nhân tố
thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ cũng như quan hệ thương mại của Việt Nam với các đối

ngạch trung bình từ 200-300 triệu USD/năm. Các sản phẩm nhập khẩu từ EU là máy
móc thiết bị, công nghệ, nguyên phụ liệu dệt may, tân dược, hóa chất và phương tiện
vận tải.
Mặc dù tình hình kinh tế thế giới khó khăn nhưng năm 2010, kim ngạch thương mại
hai chiều đạt 17,7 tỷ USD trong đó Việt Nam xuất siêu lớn vào thị trường EU đạt 6,5
tỷ USD là mức cao nhất trong 10 năm qua. Xuất khẩu của Việt Nam đạt gần 12 tỷ USD
tăng 9,12% so với năm 2009, đưa EU trở thành thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của
Việt Nam sau Mỹ, vượt qua Nhật Bản và các nước ASEAN và gấp 1,65 lần Trung
Quốc. Các nước có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam nhiều nhất của EU là
Anh, Đức, Hà Lan trên 1 tỷ USD.
Như vậy, giai đoạn 2000-2010, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng 4,3 lần từ
mức 4,1 tỷ USD năm 2000 lên 17,75 tỷ năm 2010 với cán cân thương mại nghiêng về
Việt Nam.
Trong thời kì này, EU trở thành đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam. Hàng
xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng nông nghiệp nhẹ(60%), hàng nông lâm thủy
sản chế biến(15%), thủ công mỹ nghệ (10%), còn lại là các hàng hóa khác. Ta nhập
khẩu tư EU chủ yếu là hàng công nghệ cao, hóa chất hóa dược, sản phẩm nông nghiệp,
mỹ phẩm…
Phía EU cho rằng cán cân thương mại nghiêng về phía ta nên thường yêu cầu ta mở
cửa thị trường hơn nũa cho hàng hóa EU đặc biệt là hàng thiết bị vệ sinh, gạch ốp lát,
rượu và trong lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ. Việt Nam đã có nhiều cố gắng đáp ứng yêu
cầu của EU.

Nhóm 8.CSTM

Trang 15


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.


CHƯƠNG 1:

HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU
Xu thế FTA trên thế giới và trong khu vực

1

3.4.

FTA là gì?

FTA là hiệp định thương mại giữa hai hoặc nhiều quốc gia. Theo đó, các nước tham
gia hiệp định sẽ tiến hành lộ trình cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế
quan, nhằm tiến tới thành lập một khu vực mậu dịch tự do. Điều này cho phép các
quốc gia tận dụng lợi thế so sánh của mình, chuyên môn hóa và phân công lao động để
thu được tối đa lợi ích từ việc tăng cường giao thương.
Đây thực chất là một hình thức liên kết kinh tế quốc tế, tiến tới hình thành một thị
trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên, các nước thành viên vẫn giữ
được quyền độc lập, tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực. Nói
cách khác, những thành viên của FTA có thể duy trì chính sách thuế quan riêng và
những hàng rào thương mại khác đối với thế giới bên ngoài hiệp định.
Để tránh trốn thuế (thông qua tái xuất), các nước sử dụng hệ thống xác nhận nguồn
gốc phổ biến gọi là quy tắc xuất xứ, trong đó yêu cầu hàm lượng nội địa tối thiểu của
các nguyên liệu đầu vào và giá trị gia tăng (GTGT) của hàng hóa. Đạt được tỉ lệ xuất
xứ tối thiểu theo yêu cầu, hàng hóa mới được xem xét là thuộc diện giao thương theo
FTA. Nói cách khác, nhà xuất khẩu về cơ bản phải chứng minh được xuất xứ của sản
phẩm, đồng thời nhà nhập khẩu phải có được thông tin sản phẩm từ tất cả các nhà cung
cấp trong chuỗi cung ứng.
3.5.


và Chi-lê (năm 2003) và đang đàm phán với một số đối tác khác ở Châu Á, Trung
Mỹ .. . Nhật Bản lần đầu tiên ký một FTA đầy đủ với Singapore vào năm 2002, sau đó
là với một loạt các nước ASEAN khác và hiện đang đàm phán FTA song phương với
Việt Nam và Thụy Sỹ. Nhật cũng đã hoàn tất FTA với toàn khối ASEAN (tồn tại song
song với các FTA riêng rẽ với một số thành viên ASEAN). EU cũng không đứng ngoài
cuộc khi quyết định khởi động đàm phán một FTA với ASEAN từ năm 2007.
3.6.

Tóm lược về quá trình tham gia FTAs của Việt Nam

Tính đến nay, Việt Nam đã cùng ASEAN ký kết và triển khai thực hiện 3 hiệp định
FTAs là Hiệp định Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương

Nhóm 8.CSTM

Trang 18


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

mại Tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN Hàn Quốc (AKFTA). Việt Nam và ASEAN hiện đã kết thúc đàm phán và ký kết Hiệp
định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP). Hiện nay, Việt Nam đã ký
kết và thực hiện FTA với Nhật Bản và Chile, cùng ASEAN ký với Ấn Độ và
Newzealand.
Dưới đây xin khái quát lại những mốc thời gian quan trọng trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam, bao gồm cả việc tham gia đàm phán FTA
trong khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN với các nước ngoài khối:
Năm 1986: Việt Nam bắt đầu chính sách Đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trường, thiết lập nền tảng cho quá trình cải tổ kinh tế và hội nhập
kinh tế quốc tế.

4.1.

Nội dung quan tâm của Việt Nam trong đàm phán EVFTA

“Là chủ thể quan trọng trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam trở thành chặng
dừng chân đầu tiên của phái đoàn EU trong chuyến khảo sát, tìm kiếm cơ hội đầu tư
lần này. Tuy nhiên sau Việt Nam, phái đoàn sẽ tiếp tục khảo sát cơ hội đầu tư tại một
số quốc gia khác trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Myanmar… Chính vì vậy, Việt
Nam cần cho các nhà đầu tư EU thấy được lợi thế cạnh tranh đặc biệt của mình để
củng cố thêm quyết tâm của các nhà đầu tư EU khi lựa chọn Việt Nam làm điểm đến
đầu tư…” là khuyến nghị của ông Preben Hjortlund - Chủ tịch Phòng Thương mại
châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) tại "Diễn đàn doanh nghiệp và giao lưu thương mại
EU - Việt Nam" do VCCI - HCM phối hợp với phái đoàn EU tại Việt Nam tổ chức .
Việt Nam xác định rõ chủ trương trong tham gia Hiệp định thương mại tự do của với
EU là tăng cường quan hệ với EU, đặc biệt về kinh tế, thương mại, đầu tư. Dó đó, Việt
Nam đang trên đà quyết tâm thúc đẩy, hoàn tất đàm phán FTA với EU trong tháng
09/2014
Trải qua sáu lần đàm phán, Việt Nam và EU vấn đang triển khai một số nội dung
quan trọng trong đàm phán hai bên như thương mại hàng hóa,quy tắc xuất xứ, đầu tư,
một số lĩnh vực còn mới với Việt Nam: phát triển bền vững, sở hữu trí tuệ, mua sắm
công, v.v.

Nhóm 8.CSTM

Trang 20


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

Tuy nhiên, vấn đề chênh lệch về trình độ phát triển giữa hai bên luôn là sự bất lợi và


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.



Phiên đàm phán thứ nhất (Hà Nội, 08-12/10/2012)
Tháng 6 năm 2012, tại Brussels (Bỉ), Việt Nam cùng Liên minh châu Âu EU đã ký
Hiệp định Hợp tác và Đối tác EU - Việt Nam, đồng thời chính thức công bố khởi động
đàm phán Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA).
Ngày 08/10/2012, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Công thương Trần Quốc Khánh, Trưởng
đoàn đàm phán Việt Nam và ông Petriccione, Vụ trưởng vụ Đông Âu, Châu Á và Châu
Đại Dương thuộc Tổng vụ thương mại của EU - Trưởng đoàn đàm phán EU đã phát
biểu khai mạc vòng đàm phán thứ nhất Hiệp định thương mại tự do EVFTA.
Cả hai bên hiện đang tìm kiếm một thỏa thuận toàn diện trên các lĩnh vực biểu thuế,
hàng rào phi thuế quan cũng như các cam kết đối với các nội dung liên quan đến
thương mại khác. Trong đó, nổi bật là vấn đề mua sắm, các vấn đề chính sách, cạnh
tranh, dịch vụ và phát triển bền vững. Nếu ký kết thành công Hiệp định này, Việt Nam
sẽ có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận thị trường châu Âu, tiếp cận các nguồn đầu
tư trực tiếp nước ngoài từ EU, tạo thêm công ăn việc làm cho Việt Nam. Đồng thời,
người tiêu dùng Việt Nam sẽ có cơ hội được sử dụng hàng hóa chất lượng tốt từ EU
với giá cả hợp lý hơn.



Phiên đàm phán thứ hai ( Brussels, 22-25/01/2013)
Tại Bỉ, phiên đàm phán thứ hai về Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam
và Liên minh châu Âu (VEFTA) đã khai mạc ngày 22/1 tại thủ đô Brussels của Bỉ và
sẽ kéo dài đến ngày 25/1.
Đoàn đàm phán Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Công Thương Trần Quốc Khánh dẫn đầu
và bao gồm đại diện của nhiều bộ, ngành tham gia 12 nhóm đàm phán trong vòng này.

12 nhóm tham gia thảo luận tại phiên đàm phán lần này gồm thương mại hàng hóa,
thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác hải quan, SPS, TBT, phát triển bền vững, pháp lýthể chế, v.v. Sau phiên đàm phán, hai bên đều đã đạt được hiểu biết nhất định về quan
điểm, mong muốn, cách tiếp cận vấn đề của phía đối tác, giảm thiểu tối đa các vấn đề

Nhóm 8.CSTM

Trang 23


Hiệp định thương mại Việt Nam – EU (EVFTA): những cơ hội và thách thức.

còn khác biệt, hướng tới thống nhất cách tiếp cận chung. Tiến triển nổi bật nhất tại
phiên này là hầu hết các nhóm đã có dự thảo lời văn tổng hợp và đi vào thảo luận chi
tiết lời văn này. Một số nhóm đã trao đổi bản yêu cầu và các yếu tố chính của bản chào
ban đầu. Trên cơ sở đó, hai bên sẽ triển khai tham vấn trong nước, tiến tới đàm phán
sâu và chi tiết hơn trong các phiên tiếp theo. Hai bên cũng đã nhất trí lộ trình và những
nội dung sẽ tiếp tục được triển khai để chuẩn bị cho phiên đàm phán thứ tư.


Phiên đàm phán thứ tư (Brussels, 02-05/07/2013)
Phiên đàm phán thứ tư Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) đã
diễn ra từ ngày 1 đến 5/7/2013 tại Brussels, Bỉ. Tại Phiên đàm phán lần này, hai bên đã
thúc đẩy thảo luận trong tất cả các lĩnh vực và đạt tiến bộ tích cực trên cơ sở cân bằng
lợi ích của cả EU và Việt Nam.
Mười hai nhóm đàm phán tại phiên này gồm thương mại hàng hóa, thương mại dịch
vụ, đầu tư, hợp tác hải quan, SPS, TBT, cạnh tranh, phát triển bền vững, pháp lý - thể
chế, v.v...
Tại phiên khai mạc, Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam và EU cùng tái khẳng định
tầm quan trọng của Hiệp định EVFTA đối với cả hai phía và khẳng định quyết tâm đẩy
nhanh tiến độ đàm phán để đạt được kết quả tích cực, đáp ứng kỳ vọng của cả hai bên.

bằng lợi ích của cả EU và Việt Nam.
Nghị sĩ Werner Largen- Chủ tịch Liên minh Nghị viện châu Âu- cho biết: "Có bốn
vấn đề quan trọng được đàm phán”. Một là, xây dựng một sân chơi bình đẳng cho các
doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Hai là, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,
liên quan đến bản quyền và quyền tác giả. Ba là, chỉ dẫn địa lý. Bốn là, phát triển bền
vững.

Phiên đàm phán diễn ra ở cấp Trưởng đoàn, Phó đoàn và 11 nhóm đàm phán, gồm
thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư, hợp tác hải quan, SPS, TBT, cạnh
tranh, phát triển bền vững, pháp lý-thể chế, v.v... Tại phiên khai mạc, hai bên cùng
nhấn mạnh lại mục tiêu hoàn tất sớm đàm phán mà Lãnh đạo hai bên đã đặt ra, đồng

Nhóm 8.CSTM

Trang 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status